ÁNH ÐẠO VÀNG
Võ Ðình Cường
Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, Huế - TL 1999 (In
Lần Thứ XIV)
VI
Dứt với quãng đời quá khứ, sau hình ảnh cuối
cùng của Xa-nặc và Kiền-trắc, đức Thích-ca xây mặt về phía trước.
Phía trước toàn một màu xanh đậm của nước và rừng! Cảnh tượng hùng vĩ ở
đây làm rợn người yếu vía: Sông A-nô-ma (Anoma) trùng trùng dậy sóng. Ðiệp
điệp bên kia bờ, từng dãy núi chồng dựng lên nhau. Hoang vu, hoang vu vây
cùng mọi ngả. Chưa có một vết chân người để lại nơi đây! Từ nay muốn đến
những chóp núi nhuộm vàng trong ánh nắng ban mai kia, đức Thích-ca chỉ có
một cách, là tự vạch lấy con đường. Ðá ở đấy có lẽ cứng lắm, dây hoang chằng
chịt chắc nhiều và bao nhiêu gai góc nữa! Nhưng trước mắt Ngài, toàn một màu
xanh đậm. Sắc màu ấy gây nguồn hy vọng, và tin ở sức mạnh của mình, Ngài
mạnh bạo bước đi...
Ngài đi đến dãy núi Ra-na-ghi-ri và xin nhập vào đoàn tu khổ hạnh. Ðây là
những người xem thân thể là kẻ thù của linh hồn, xác thịt là con thú phải
xiềng xích, phải hành hạ cho đến bao giờ tê dại không còn cảm giác nữa. Có
người đưa một cánh tay lên trời, đêm và ngày luôn như thế cho đến lúc nào
những khớp xương tay không còn cử động đư?c nữa, gầy và khô dần như một
nhánh củi mục; có người nắm mãi bàn tay lại cho đến lúc nào móng tay mọc
dài, xuyên qua lòng bàn tay đã thối nát; có người đánh mình với một cái roi
da, hay lấy dùi sắt hơ lửa đâm vào ngực. Ở đây, một người nằm lẫn lộn giữa
đống thây ma đã thối nát để tập cho mũi quen với những mùi dơ bẩn. Ðàng kia,
một người ngồi nhai mãi những ngọn lá đắng để làm cho lưỡi không biết vị
nữa. Một nơi khác vài người nằm trần dưới ngọn nắng nẻ đất, đếm mỗi ngày một
ngàn hạt kê rồi bỏ dần vào mồm mỗi lúc mỗi hạt cho đến bao giờ chết khô vì
nắng và đói.
Ðức Thích-ca sống với họ ở đây, nhưng thấy những cách tu luyện ấy không
có hiệu quả gì. Ngài hỏi:
-- Ôi! Ðời đã đau đớn lắm rồi, sao các người còn cố làm thêm đau đớn nữa?
Một người trả lời:
-- Trong kinh có dạy, nếu một kẻ tu, hành hạ thân xác cho đến nỗi không
còn biết đau đớn, khổ nhọc là gì nữa, thì tâm hồn người ấy thoát khỏi nhục
thể mà lên cõi trời, như một làn khói bay cao lên mấy tầng mây xanh, khi củi
đã cháy trong lò.
Ðức Thích-ca nhìn lên trời, chỉ một đám mây đang bay:
-- Làn mây nhẹ trôi trên trời kia, vẫn biết là ở tự những làn sóng rào
rạt trong biển cả, nhưng nó phải nhỏ dần từng giọt xuống lại trần gian, chảy
qua những kẻ đá, đường lầy, hiệp nhau lại làm thành suối, thành sông, rồi
lại lao mình ra biển cả. Tương lai và hạnh phúc của các người, sau khi đã
trải qua bao nhiêu khổ hạnh, biết có thoát khỏi cái luật xoay vần ấy chăng?
Cái gì có lên thì phải xuống, đã đến thì phải đi. Sau khi đã mua được cõi
trời với bao nhiêu xương máu trong chợ đau thương mà các người đã tạo lấy,
tôi chắc rồi các người sẽ trở về với những đau thương, khi kỳ hạn ở cõi trời
đã hết. Bởi thế tôi khuyên các người hãy bỏ những trò nguy hiểm ấy đi. Tâm
hồn trong sáng và thanh cao phải cần có một thân thể trong sạch và cường
tráng để nương tựa. Sao các người lại đánh đập, phá phách thân thể cho đến
nỗi nó phải kiệt quệ, phải gục ngã giữa đoạn đường dài như một con ngựa bất
kham quỵ dưới sức chở nặng khi chưa đến đích?
Bấy giờ các nhà tu khổ hạnh bực tức, có lẽ vì thất vọng, kêu lên: Người
ơi! Chúng tôi đã chọn con đường này, chúng tôi quyết đi cho đến đích. Nếu
người biết con đường nào hơn, nói cho chúng tôi hay, nếu không, người hãy đi
nơi khác mà tu luyện.
Ðức Thích-ca cáo từ mọi người rồi ra di, lòng buồn rười rượi. Không phải
buồn vì chán nản. Ngài buồn vì thấy người đời đã quá sợ đau đớn, đến nỗi
phải tập cho quen với đau đớn, tham sống đến nỗi không dám sống, sợ chết đến
nỗi tập cho quen với cái chết, cố gấp gấp đào huyệt cho đời mình để mau
thoát cảnh địa ngục mà họ đã tạo ra.
Ngài dừng chân lại trên sườn đồi, chống hai bàn tay lên đầu chiếc gậy tầm
xích, đứng nhìn cảnh vật ở dưới chân Ngài mà than:
-- Hỡi những bông hoa dại mọc ở ven sườn đồi! Các con được tắm ánh sáng
và thở khí thanh, có bao giờ các con thấy phiền muộn đến nỗi muốn diệt mất
những hương thơm, muốn ruồng bỏ những màu sắc tươi đẹp mà các con đang phô
bày ra đấy?
Hỡi những đám thuỳ dương kia! Các ngươi nhờ cái thuật chi mà đuợc bằng
lòng sống giữa thiên nhiên hoà hiệp, được sung sướng vươn mình lên cao để
vít gió Hy-mã-lạp-sơn và ngân nga trong lá rậm?
Và các con nữa, hỡi đàn chim ơi! Cái thú nước mây dong ruổi mà thiên
nhiên đã phú thác trên đôi cánh các con; cái hạnh phúc đuợc tung từng tràng
nhạc trong nắng mai và gió sớm: những của quý giá ấy, có bao giờ vì lòng ham
muốn một cái gì khác quý giá hơn mà các con đành ruồng bỏ? Có bao giờ các
con thấy chán nản đến muốn không hót nữa, và cố hành hạ thân các con để mong
sống cuộc đời tốt đẹp hơn thế? Nhưng người, các con ơi, người, anh cả của
muôn loài, đã đem trí thông minh để gây thêm khổ và đã sớm đào huyệt để chôn
sống đời mình!
Đang khi do dự chưa biết đi về hướng nào, Ngài bỗng thấy dưới chân đồi,
một đám bụi mù dấy lên. Trong ấy đang lúc nhúc một đàn cừu. Những kẻ chăn
cừu chạy từ chỗ này sang chỗ khác để thúc giục chúng đi. Họ nắm đá ném vào
những con đi chậm ở đằng sau. Một con cừu non đi bên cạnh mẹ bị trúng phải
một hòn đá, què một chân. Nó đi chậm lắm. Nhưng cừu mẹ không thể đi theo, vì
nó còn một con nhỏ khác đang chạy lạc ở phía trước. Theo con này thì bỏ con
kia, cừu mẹ đành đứng nhìn lui và nhìn tới... Ðức Thích-ca chạy xuống đồi,
bồng cừu con bị thương lên, vỗ về:
-- Dù con về đến đâu, ta cũng sẽ bồng con theo mẹ con cho đến đấy. Trong
lúc ta chưa tìm ra được phương thuốc để cứu toàn cả chúng sanh, thì ít nữa
ta cũng cứu được một mình con ra khỏi đau khổ ừ như thế còn hơn là ngồi trên
núi như những kẻ tu hành kia để hành hạ thân mình và để cầu được giải thoát
với những đấng thiên thần bất lực.
Ngài bước mau đến phía trước, hỏi những kẻ chăn cừu:
-- Các ngươi dắt đàn cừu này về đâu đấy?
Một người trong bọn buồn bã trả lời:
-- Vua Tần-bà-sa-la ở thành Vương Xá, bắt chúng tôi phải nạp một trăm con
dê và một trăm con cừu để tối nay ngài làm lễ hy sinh cúng thần.
Ðức Thích-ca nói giọng cương quyết:
-- Vậy ta sẽ theo các người đến đấy.
Và vẫn ôm vào lòng con cừu con, Ngài đi trong đám bụi hồng của đoàn thú
dấy lên. Ðến một bờ sông kia, một người đàn bà mắt chưa ráo lệ, chắp hai
tay, quỳ xuống bên chân Ngài:
-- Thưa Ngài, hôm qua con đến bên Ngài cầu xin Ngài một phương thuốc để
cứu đứa con trai nhỏ của con chết vì rắn cắn. Ngài vén khăn lúp mặt nó, dịu
dàng nhìn, rồi đậy lại mà bảo:"Người hãy đi đến nơi nào chưa có một người
cha, người mẹ, người con hay đứa nô lệ chết mà xin một nắm tro. Nếu người
xin được thứ tro ấy thì mới có thể cứu con người được".
Ðức Thích-ca hiền từ nhìn người đàn bà đau khổ và hỏi:
-- Nhưng người có tìm ra đuợc thứ tro ấy không?
Ôi, con ôm đứa con đã lạnh vào lòng, đi gõ cửa từng nhà một, từ thành thị
cho đến thôn quê, để xin thứ tro ấy. Tro thì không thiếu gì, nhưng không có
nhà nào là không có người hoặc mới chết, hoặc chết đã lâu? Con mệt nhọc và
chán nản đặt con bên cạnh bãi dâu, đi tìm Ngài để nhờ Ngài chỉ cho con một
nhà nào con có thể tìm được thứ tro như Ngài đã dạy. Ðức Thích-ca đặt một
tay trên vai người đàn bà như để trút cả một mềm thân mến xuống đấy và nói
với giọng chua xót:
Người ạ, không có được thứ tro ấy, vì chết là một luật chung của muôn
loài. Hôm qua ta bảo người tìm thứ tro ấy là chỉ cốt để cho người nhận thấy
rằng, đã làm người thì phải chịu sự tử biệt. Không thể vượt ra ngoài luật
cay nghiệt ấy được trong lúc còn ở trong kiếp người. Người phải hiểu rõ như
thế để kiên nhẫn, chịu đựng tai nạn kia. Hôm qua người tưởng chỉ có một mình
người đau đớn, bây giờ người đã rõ rằng toàn cả nhân loại, chúng sinh đều
chịu như thế cả. Cái đau đớn của người trong cái đau đớn của toàn thể, một
giọt nước mắt trong biển nước mắt, âu cũng là một chuyện thường, người đừng
nên than khóc thái quá. Vả, có kêu gào than khóc cho lắm đi nữa cũng vô ích,
vì không thể đổi được cái luật thiên nhiên khắc nghiệt kia mà mọi người đều
phải chịu. Thôi, người hãy đi chôn con người đi. Nếu ta có thể cứu được con
người thì dầu có cần đến máu xương ta, ta cũng không từ.
Ngài cùng bọn chăn cừu đi tiếp đến thành Vương Xá. Quân gác thành thấy vẻ
hiền hậu và phương phi của Ngài đều tránh ra hai bên cửa để Ngài vào. Xe
ngựa đều dừng lại để Ngài đi trước. Trong các phố xá, người ta đổ xô ra hai
bên đường, nhìn Ngài ôm con cừu đi qua. Họ thì thầm với nhau:"Không biết
người thuộc về hạng nào mà phúc hậu và trang nghiêm lắm thế? Ồ, hai mắt dịu
dàng và thông minh quá đỗi! Có lẽ đó là một vị thiên thần mới xuất hiện đâu
đây".
Ngài đi thẳng đến đền vua. Vua Tần-bà-sa-la đang đứng trước bàn thờ. Các
nhà quyền quý Bà- la-môn choàng áo lễ trắng đứng hai bên. Họ vừa đọc kinh
vừa kính cẩn mang những bình đựng nước hoa, mỡ và rượu so-ma đổ vào ngọn lửa
đang reo cháy trên đống củi thơm. Quanh giàn hoả, chảy lừ đừ một dòng huyết
đặc của đàn cừu bị chọc tiết. Trước bàn thờ, một con cừu đực bị trói nằm sấp
trên chiếc ghế dài, đầu bị kéo ngược ra đàng sau lưng. Một người Bà-la-môn
kê lưỡi dao nhọn và sáng vào cổ con vật mà khấn to:
-- Hỡi các thần linh! Ðây là những dòng máu tinh khiết của đàn cừu vô
tội. Xin các Ngài hãy sung sướng nhúng tay vào đấy mà rửa tội cho nhà vua.
Xin các ngài hãy lấy mỡ của chúng mà đốt cho tiêu tan những lỗi lầm của cả
nước. Từ đây xin các ngài đừng giận hờn mà gieo hoạ xuống nữa!
Ðức Thích-ca vội đến bên cạnh nhà vua, tâu, giữa sự ngạc nhiên của mọi
người:
-- Xin bệ hạ đừng để cho người ấy giết con vật vô tội kia!
Nói xong, Ngài xoay lại mở trói cho con cừu. Mọi người đều đứng yên không
ai cản trở: Ngài có một vẻ gì khác phàm đã làm mọi người từ vua đến quan
phải kính nể.
Sau khi xin phép vua Tần-bà-sa-la, Ngài cao giọng giảng cho mọi người
nghe:
-- Ai cũng ham sống, thế mà ai cũng thích giết hại; ai cũng có thể giết
hại một cách quá dễ dàng, thế mà không ai có thể tạo ra được sự sống.
Ngài tiếp:
-- Dù muôn loài có khác, sự Sống chỉ là một. Trong Thánh kinh có dạy, sau
khi chết, có người sẽ đầu thai làm thú vật, có nhiều thú vật sẽ làm người.
Người và vật vì thế mà vẫn cùng một dây liên lạc như anh em. Không thể lấy
máu của thú vật để rửa tội cho người. Xin với thiên thần tha tội là một việc
vô ích. Nếu các ngài ấy đều thiện, thì các ngài sẽ không thể tha thứ một
việc làm ác như thế. Nếu các ngài ác, thì dầu có giết bao nhiêu thú vật đi
nữa để cúng, các ngài cũng không hết ác được. Nhưng dầu thiện, dầu ác, các
ngài cũng không tha tội cho ai được. Tội của người nào thì người ấy phải
chịu. Đây là luật nhân quả, không ai có thể vượt qua. Càng giết hại nhiều
lại càng mang lắm hoạ.
Giảng đến đây, một cảnh tượng hoà thuận và đẹp đẽ hiện ra trước mắt. Ngài
cất cao giọng và nói một cách say sưa:
-- Ôi, thế giới này sẽ an vui biết bao và biết bao sầu thảm sẽ không có
nữa, nếu nhân loại biết thương đến loài vật mà không nỡ tâm chém giết chúng
để cúng và để ăn, nếu nhân loại chỉ tự nuôi sống với cỏ cây, hoa trái!
Ngài nói với một giọng rất thiết tha và đầy thương cảm. Các thầy
Bà-la-môn nghe xong đều cởi bỏ hết lễ phục mang trong mình với hai bàn tay
chùi chưa sạch máu. Mấy trăm con cừu được thả ra, vui vẻ chạy rong trên các
đường phố như vừa thoát khỏi địa ngục mà sự mê muội của loài người đã tạo
ra.
Vua Tần-bà-sa-la kính cẩn đến bên đức Thích-ca, chắp hai tay vái Ngài và
mời Ngài về cung. Ngày hôm sau, vua sai khắc trong đá và chạm vào gỗ đạo dụ
rằng:
"Từ xưa đến nay chúng ta đã phạm một tội lớn là giết súc vật để cúng
thần. Nhưng bắt đầu từ ngày nay, trong dân gian không ai được làm đổ máu một
con vật, vì chúng sanh đều cùng chung một sự sống. Và nên luôn nhớ rằng
những điều lành sẽ dành riêng cho những kẻ hiền lương".
Sau khi rõ lai lịch đức Thích-ca, vua Tần-bà- sa-la liền mời Ngài ở lại:
-- Ngài là một đấng vương giả, sanh ra để ngồi trên thiên hạ, chứ không
phải sống để nhờ sự bố thí của mọi người. Ngài hãy ở đây với trẫm, đem sự
hiểu biết của Ngài để giáo hoá cho dân gian; rồi đến khi nào hết đời trẫm,
thì giang sơn này trẫm sẽ giao cho Ngài cai trị.
Nhưng đức Thích-ca một mực chối từ:
-- Tâu bệ hạ, tôi đã bỏ cha tôi, vợ tôi, con tôi và giang sơn, tổ quốc để
đi tìm chân lý. Bệ hạ đừng cầm giữ tôi lại làm gì. Tôi không thể ngồi yên
trên ngọc ngà châu báu, trong lúc tai tôi còn nghe những tiếng đau thương
của nhân loại, lòng tôi còn cuộn lên những bào ảnh của cuộc đời. Xin bệ hạ
để cho tôi đi. Bao giờ chân lý đã rạng ngời trước mắt tôi và sáng soi cùng
thế giới, tôi lại xin trở lại đây để đền đáp ơn Ngài đã chiếu cố.
Vua biết không thể cầm giữ được Ngài, liền đi quanh Ngài ba vòng và cúi
đầu dưới chân Ngài từ biệt, sau khi đã chúc Ngài mau thành Chánh Giác.
Từ đây, trên những con đường hiểm trơ và gai góc dọc theo Hy-mã-lạp-sơn,
Ngài lại bước chân lên, mang theo bên mình một bình bát và một chiếc gậy. Và
dưới những ngọn nắng cháy thịt, những trận mưa rách da của xứ Ấn Ðộ. Ngài
chỉ biết đem một tình thương vô hạn, và một ý chí mạnh mẽ vô cùng để tự che
chở.