ÁNH ÐẠO VÀNG
Võ Ðình Cường
Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, Huế - TL 1999 (In
Lần Thứ XIV)
VIII
Đêm phủ một lớp tối đen dày. Rừng tịch mịch
thỉnh thoảng gầm lên những tiếng hãi hùng rùng rợn của loài ác thú đang cấu
xé, cắn rứt nhau trong bóng tối.
Từng đêm này sang đêm khác, đức Thích-ca ngồi tĩnh toạ trong bóng tối,
nhưng hào quang trên trán Ngài sáng rực dưới vòm lá cây bồ-đề. Ma vương,
chúa tể của những cõi tối tăm, nhìn thấy, đoán biết Ngài sắp tung bừng ánh
sáng của Ðạo vàng và cứu thoát cõi đời ra ngoài biển khổ, liền hội gấp các
bè đảng để tìm cách đối phó. Thôi thì cả một đoàn quỷ sứ, một lũ ác thần --
kẻ thù của Chân Lý và Ánh Sáng, bọn gieo rắc bóng tối và dục vọng xuống trần
gian -- hăm hở kéo đến vây quanh cây bồ-đề. Chúng dùng đủ cách, khi van xin
cầu khẩn, khi gầm thét doạ dẫm để làm xiêu lòng Bồ-tát.
Ðầu tiên, một đoàn quỷ Tham kéo đến, mắt dớn dác nhìn quanh, hai tay cong
cong như chực vồ lấy một vật gì. Chúng hội lại đủ các hạng: Quỷ Tham Sống
bảo Ngài:"Có gì quý giá hơn sự Sống, sao người bỏ đi?" Quỷ Tham Danh
bảo Ngài:"Hỡi người con vua Tịnh-phạn, sao dại khờ lắm thế? Người là kẻ
tài hoa lỗi lạc, người là dòng thế phiệt trâm anh, người sắp được lên ngôi
báu, danh giá không ai bằng, sao lại đi làm một kẻ ăn xin vất vưởng từ xứ
này qua xứ khác?"Quỷ Tham Khoái Lạc bảo Ngài:"Người đang ở trong cung
vui mùa lạnh có nhà ấm, mùa nực có nhà mát, ăn toàn thức ngon, uống toàn
rượu quý, tai chỉ nghe cung đàn tiếng địch, mắt chỉ ngắm những điệu múa kỳ
lạ của bọn vũ nữ. Sống khoái lạc như thế, cớ sao người lại dại khờ ruồng bỏ
để đến đây nằm sương gối tuyết?"
Ðức Thích-ca nhìn chúng trả lời:
-- Bọn ngu muội lấy giả làm thật, bám víu vào những ảo tưởng mong manh,
hãy đi xa chỗ này. Chúng mày không cám dỗ được ta.
Bọn quỷ Tham xấu hổ, lẩn vào trong bóng tối.
Một đoàn quỷ Gíận kéo đến khi đoàn quỷ Tham chưa lẩn hết trong đêm. Chúng
gầm thét vang trời chuyển đất. Mặt chúng đỏ gay hay xám bạc, môi chúng bặm
lại, hai hàm răng nghiến trèo trẹo vào nhau. Những con rắn đầu nhỏ quấn đuôi
quanh cổ chúng và thè nọc ra đàng trước như chực trườn tới để cắm độc vào kẻ
thù. Chúng gầm:
-- Chúng ta phá hết, giết hết, không ai có thề cản ngăn. Chúng ta nhóm
lửa ở giữa lòng người và thiêu đốt cả thiên hạ. Chúng ta gieo nọc độc khắp
nơi và thế giới sẽ vì chúng ta mà tiêu diệt. Hỡi Thái tử Tất-đạt-đa, chúng
ta sẽ bắt ngươi làm đệ tử.
Nhưng đức Thích-ca chỉ mỉm cười đưa mắt hiền từ nhìn chúng. Cái nhìn của
Ngài có một mãnh lực lạ lùng! Bao nhiêu vẻ hung hăng độc ác tan theo chúng
như một làn mây!
Bấy giờ trời đất bỗng tối sầm lại. Một sự hồi hộp, sợ sệt, e ấp trong lá.
Từng đàn gì bay nặng nề trong bóng tối như từng đàn dơi, từng đàn gì luồn
dưới cỏ như từng đàn rắn. Những tiếng chân hấp tấp chạy trong tối trước
những hình đen như xạ: bọn quỷ Ngu Muội -- mẹ đẻ của Sợ Hãi và Bất Công --
đến vây quanh cây bồ-đề. Sau một chuỗi cười mai mỉa, chúng hỏi Ngài:
-- Này Thái tử! Ánh sáng của người được bao nhiêu mà dám đem ra soi đường
cho nhân loại? Ðừng đeo đuổi một công việc vô ích. Người càng tìm ra ánh
sáng, chúng ta lại càng trút thêm bóng tối. Mỗi ngày mỗi ít, chúng ta đã
gieo rắc qua mấy muôn triệu năm rồi những hạt si mê mà bấy giờ tất cả thế
gian đều ngập lụt. Chúng ta thách người đấy. Người hãy lấy ánh sáng gì để
quét sạch bóng Si mê đi!
Từ đỉnh trán đứe Thích-ca phóng một tia hào quang sáng như cả ngàn ngôi
sao chụm lại, chiếu khắp bốn phía như một bó chổi sáng quét sạch tất cả bóng
đêm.
Bọn quỷ Ngạo Mạn kéo nhau đến. Ðầu chúng ngẩng cao, ngực ưỡn, đôi mắt xấc
láo nhìn Ngài. Chúng nói giọng khinh khỉnh, sau khi đưa một tay lên khoát ở
trước mặt như để xua đuổi một mùi thối tha:
-- Trần gian nhơ bẩn, hạ tiện này có đáng gì mà phải hao công tìm phương
cứu chữa? Cái bọn ngu muội xấu xa là nhân loại này chỉ đáng để cho bị tiêu
diệt. Người hãy theo chúng ta đạp đổ thế giới này mà lên mấy từng trời xanh,
cùng nhau sống riêng biệt, hưởng những lạc thú thanh cao mà chỉ chúng ta là
có quyền hưởng.
Ðức Thích-ca mỉm cười:
-- Phải! Các người hãy đạp đổ thế giới này đi rồi con đường của các người
sẽ đưa các người vào địa ngục.
Bọn quỷ Ngạo Mạn vênh mặt, rủ nhau bỏ đi.
Nhưng một bọn khác lại kéo đến. Ðây là những con quỷ Nghi Ngờ, thiếu tin
tưởng, đầu đưa lắc la lắc lưỡng, trên những chiếc cổ cao, hai tay áo buông
xuôi như bị đẫm ướt, môi mím lại làm nổi một nếp nhăn trên mép nửa như mếu,
nửa như cười.
Chúng đến thét vào tai Ngài:"Giả dối, mọi sự đều giả dối! Chân lý!
Chân lý là cái quái gì? Người chỉ đi theo một ảo giác hy vọng hão huyền.
Không có cách gì cứu chữa được nhân loại. Ðạo của người sẽ vô công hiệu giữa
thế giới đam mê. Ha ha! Giải thoát cho nhân loại thoát khỏi luân hồi! Ôi, có
ai điên rồ hơn thế nữa!"
Ðức Thích-ca nhìn chúng, miệng nghiêm lại, vẻ cương quyết lạ lùng. Mắt
Ngài chứa đầy một nguồn tin tưởng mạnh mẽ làm cho bọn quỷ Nghi Ngờ cảm thấy
đây không phải là nơi chúng có thể dùng những lời bi quan để đánh đổ. Chúng
rủ nhau thất thểu ra đi, đầu lắc lư thêm, nét nhăn bên má lại càng chua chát
hơn trước, hai tay buông thỏng rã rời như không còn sức để bám víu vào một
cái gì được nữa...
Nhưng bọn quỷ sứ ấy chưa nguy hiểm lắm. Nguy hiểm nhất là Ca-ma (KAMMA),
chúa tể của dục tình và những khoái lạc xác thịt. Nó nắm một cung đồng kết
hoa, mang một bó tên tẩm thuốe độc có ba mũi nhọn mà mỗi khi chúng đã cắm
vào tim thì không có sức nào rút ra được. Ca-ma đi đầu; sau nó là một đoàn
thiếu nữa đẹp như hoa, vừa đi vừa hát những điệu hát du dương ca tụng ái
tình nhịp nhàng hoà theo điệu nhạc. Chúng vừa hát vừa đưa những cặp mắt lẳng
lơ, những nụ cười khêu gợi, giấu một nửa sau những cánh quạt hoa. Chúng uốn
éo những tấm thân dẻo như rắn của chúng khi đi qua trước mặt đức Thích-ca.
Nhưng Ngài vẫn thản nhiên, lòng không mảy may xao động.
Ca-ma liền ra hiệu cho bọn vũ nữ dang ra và một nàng đẹp hơn cả, giả dạng
nàng Da-du-đà-la đi vào. Toàn thân nàng hiện lên một vẻ đ?p não nùng mà
những ngày dài đau thương đã tô thêm đậm nét. Nàng đến bên Ngài khẽ than,
đôi mắt nhung long lanh sau màn lệ nóng:
-- Ôi Thái tử! Chàng có biết chăng nỗi đau khổ của em khi chàng bỏ cung
điện ra đi? Trên bờ sông Rohini, em đã ngồi khóc qua những ngày dài dằng
dặc. Em mong chàng về, nhưng đôi mắt đã mờ lệ, mà trên đường về em nào thấy
bóng chàng đâu! Về với em đi, Thái tử! Chàng sẽ tựa đầu vào cánh tay em và
em sẽ quạt cho chàng như những năm xưa, khi chàng còn là lẽ sống của đời em!
Ðức Thích-ca trả lời:
-- Bóng hình giả dối, như bao nhiêu bóng hình giả dối của thế gian, mày
không thể phỉnh gạt ta được. Hãy tan cho mau theo bóng tối!
Ca-ma tức giận thét lên một tiếng. Bao nhiêu nàng mỹ nữ đều tan biến mất.
Nhưng trời bỗng chuyển động. Tiếng gầm thét, ban đầu còn xa, mỗi lúc mỗi gần
và lớn dần. Trời sầm sập đổ mưa. Bão tố nổi dậy, từng làn chớp quăn queo đan
nhau trên vòm cây bồ-đề. Bao nhiêu dục vọng đê hèn, bao nhiêu si mê cuồng
dại, bao nhiêu tội ác hiện hình, làm thành một đạo binh hỗn độn, thổi gió,
phun mưa, nổi sấm, bắn những mũi tên độc vào Ngài, lao những chiếc sào nhọn
bọc sắt. Nhưng bao nhiêu sự tấn công của chúng đều vô hiệu. Ðức Thích-ca vẫn
điềm nhiên ngồi vững chắc dưới cây bồ-đề, trên trán một vùng hào quang chiếu
rực rỡ. Và cây bồ-đề vẫn đứng yên như không có gì xảy ra cả.
Ðến canh hai trời đất trở lại yên tĩnh và trong suốt như gương. Trong bầu
trời xanh, long lanh những vì sao bạc. Ðức Thích-ca chứng được quả "Túc Mệnh
Minh". Nhờ trí tuệ siêu phàm, Ngài thấu suốt được tất cả khoảng đời quá khứ
xa, rất xa của Ngài trong ba giới. Như người bộ hành ngồi nghỉ trên núi cao,
nhìn xuống quãng đường quanh co mình vừa đi qua, nào đồng, nào ruộng, nào
khe, nào rừng; bên cạnh hố kia mình sắp sẩy chân, trên bãi cát nọ mình sắp
kiệt lực, và xa xa, một đám bùn lầy phỉnh phờ giấu mình dưới những khóm lau
lách, và nếu không sáng mắt, đã bị sa chân vào đấy. Ngài thấy rõ ràng tất cả
những kiếp xưa của Ngài, những nỗi khó khăn, những điều trở ngại đã vượt qua
để lên đến địa vị cao xa cùng tột này... Ngài nhận thấy sự tăng tiến tiếp
tục từ đời này sang đời khác, không một lúc nào đứt quãng, cũng không một
lúc nào đứng yên. Sau mỗi kiếp, cuộc đời như đã tan vỡ. Nhưng không! Sự sống
chỉ náu mình để dồn thêm sức lực rồi mạnh mẽ tiến lên, như hạt lúa náu mình
trong đất để chuyển hình ra cây mạ xanh tốt. Và trong cây mạ mới, có ẩn mầm
giống của những hạt lúa xưa, trong kiếp này có ẩn tất cả bao nhiêu nhân của
những nghiệp trước. Do đó, Ngài nhận thấy không một sự cố gắng nào, một sự
phấn đấu nào để đi đến cõi thiện là vô ích. Chính chúng nó đã làm thang cho
Ngài bước, xây tháp cho Ngài lên. Và bây giờ ngồi trên đỉnh tháp cao, xây
dựng với bao nhiêu đời mình, Ngài đưa mắt sáng suốt nhìn xuống, thấy rõ ràng
từng viên gạch và từng công trình kiến trúc mà Ngài đã ra công xây dựng để
đến ngày khánh thành rực rỡ hôm nay.
Ðến nửa đêm, ngài chứng được quả "Thiên Nhãn Minh" thấy rõ tất cả bản thể
của vũ trụ, từ thế giới này đến bao nhiêu thế giới khác. Ngài thấu suốt tất
cả các hàng tinh tú từ nhỏ cho đến lớn, từ gần cho đến xa, cái này liên lạc
với cái kia, cái kia với cái khác, cái khác với cái khác nữa, như những trục
bánh xe ràng buộc với nhau bởi những sợi dây vô hình và cứ như thế mà lan
dần cho đến vô cùng, vô tận... Tuy xa cách chúng vẫn hiệp vầy, tuy nhiều mà
một, tuy một mà nhiều. Chúng có khác nhau ở hình dáng, nhưng không khác nhau
ở bản chất. Tất cả vòm trời sao sáng ấy là những hòn đảo bạc nổi giữa biển
xanh ngời, không bờ không bến, trong ấy sóng triều luân chuyển mãi không
thôi, và cũng không thêm, không bớt, không đầy, không vơi, vừa sanh vừa
diệt, vừa diệt vừa sanh... Sau khi đã quan sát toàn cả vũ trụ. Ngài nhận
thấy một cái luật chung bất di bất dịch, âm thầm mà mạnh mẽ, nó chuyển mọi
vật từ bóng tối đến ánh sáng, từ cõi chết đến cõi sống, từ vô hình đến hữu
hình, từ hữu hình trở lại vô hình, làm thành một vòng tròn gồm bốn giai
đoạn: sinh, trụ, dị, diệt. Cái luật ấy không gì có thể vượt qua, từ một vật
bé nhỏ như vi trần cho đến to lớn như trăng sao. Ðó là luật nhân duyên sanh.
Ðến canh tư, Ngài chứng được quả "Lậu Tận Minh" rõ biết nguồn gốc của sự
đau khổ đã bám víu vào chúng sanh như bóng dính theo hình. Ngài nhận thấy,
vì dục vọng làm mù quáng, như vì bụi dấy lên từ dưới chân đàn cừu làm lạc
mất đường chúng đi, người đã từ bản tâm sáng suốt đi dần mãi vào cõi Vô
minh. Vì Vô minh mà người có những hành vi, động tác sanh ra các nghiệp báo
(hành), rồi tự phân biệt có cái ta riêng khác (thức). Phân biệt như thế, tất
nhiên thấy có nội tâm và ngoại cảnh, có hình tướng sắc màu và đặt tên cho
mọi sự vật (danh sắc); bấy giờ một bên là tâm, một bên là cảnh; đối với
cảnh, tâm có những giác quan riêng để thu nhận được (lục nhập); hình tướng
và giác quan đụng chạm, cọ xát với nhau mà thành ra cảm giác (xúc); xúc cảm
đem đến sự thọ nhận các hiện tượng ở thế gian (thọ); sự thọ nhận ấy gây ra
tình yêu mến đối với vật mình ưa thích (ái); đã yêu mến thì cố giữ gìn
(thủ); cố bám víu vào cái mình đã ưa thích không muốn chia lìa (hữu). Vì thế
mà có nghiệp báo ở thế gian. Cái nghiệp báo ở thế gian bắt phải đầu sanh lại
ở cõi đời sau khi chết (sanh). Và từ đấy, bắt đầu một cuộc sống khác với
những sự dau khổ kèm theo nó: bệnh, già, chết (bệnh, lão, tử). Mười hai giai
đoạn ấy nối tiếp nhau, nhân này làm quả kia, quả kia làm nhân khác, và cứ
như thế, cái vòng tròn quay tít không thôi. Muốn cắt đứt cái vòng tròn ấy,
phải trừ Vô minh. Nhưng người ta không thể trừ Vô minh, không thể sáng suốt
được khi còn nhiều tham vọng. Ôi tham vọng! Sự khát khao không bao giờ thoả
mãn, khiến người uống mãi trong biển mặn đau thương và làm thêm khao khát
thèm thuồng, và mãi mãi quay cuồng trong sinh tử. Người hiểu rõ cái nguy
hiểm của dục vọng, quyết kiềm chế lòng mình, diệt trừ tham muốn cho đến tận
gốc (giới). Lúc dục vọng đã bị gạt bỏ ra khỏi lòng, người sẽ bình thản trước
mọi sự vật giả dối đang xao xuyến ở xung quanh. Lúc ấy tâm thần sẽ định
tỉnh, không một sức mạnh nào có thể lay chuyển lao lung (định). Trí tuệ nhờ
đó mà mỗi ngày mỗi minh mẫn, và một ngày kia, sẽ bưng lên soi cùng vũ trụ
(tuệ), như vầng trăng hiện ở dưới đáy hồ khi mặt nước đã trở lại phẳng lì vì
gió dục đã dừng thổi sóng khổ đau.
Từ đấy, cỗ xe đời rã bánh, người bị buộc vào cỗ xe được giải thoát, vượt
ra ngoài phạm vi nhỏ hẹp, thấy mình là toàn thể, toàn thể là mình. Người
không còn bị ràng buộc trong không gian, cho nên không phụ thuộc với thời
gian; không riêng giữ một hình dáng cho nên luôn luôn vĩnh viễn; bởi biết tự
đổi thay cho nên không bao giờ bị thay đổi. Người bắt đầu qua một trạng thái
mới, không sanh không diệt, an lành thanh tịnh, sáng suốt vô ngần: đấy là
Niết-bàn!
Bình minh bừng dậy. Ánh sáng làm mờ hẳn sao mai -- kẻ soi đường cho người
đi khuya -- vừa lại ở ven trời. Bóng đêm rạn vỡ tan biến rất nhanh. Nắng
vàng bắt đầu xối chảy xuống trần gian. Nắng vàng gội rửa những chóp núi cao,
nắng vàng tuôn tràn ra hai bên sườn, reo chảy xuống chân núi, lan dần ra
trên đồng bằng, khoả một lớp mỏng trên mặt sông, mặt biển, làm lấp lánh
những ánh kim cương trên muôn ngàn làn sóng.
Ánh Sáng Vàng lan tràn khắp mọi ngả, và giục giã đời dậy khắp nơi. Nó đến
mở mắt loài chim và thì thầm:"Hót đi các con! Ðêm vừa hết!" Nó đến
vuốt ve loài hoa và bảo:"Nở đi các con! Ánh sáng đã về!"Nó đến mân mê
loài thú và nói:"Ánh sáng đã về. Thôi qua rồi bóng đêm độc ác!"
Nó điểm tô cho cảnh vật một màu sắc mới: nó nhuộm vàng những làn mây xám,
làm anh ánh những hạt lệ đêm. Những vòm lá xanh xao vàng úa như da người ốm
bỗng đổi ra màu lục đậm, những cánh hoa xoan đỏ như máu bỗng chuyển sang màu
hoàng bá...
Nhưng ảnh hưởng đẹp đẽ và mạnh mẽ nhất của luồng Ánh Sáng kia là ở giữa
lòng người. Ôi! Ánh Ðạo Vàng! Ánh Ðạo Vàng huyền diệu! Bọn cướp bỗng ghê sợ
bàn tay tẩm máu của mình, vứt dao vào bụi; người bán hàng thôi bán giá cao;
kẻ đổi bạc thôi chuồi thêm bạc giả; người đau mỉm cười trên giường bệnh;
người sắp chết thấy mình tràn đầy hy vọng; kẻ lạc đường bỗng quay lại và
thấy mình đi trúng đích! Bóng cờ giải hoà phấp phới bay trên các bãi chiến,
và quân địch nhìn ra toàn mặt anh em, sung sướng bổ chồm tới ôm nhau khóc...
Cũng buổi mai ấy, trong cung lạnh, nàng Da-du-đà-la nghe lòng mình ấm dịu
và reo chảy một nguồn vui. Trên cành liễu trước sân một con Ca- lăng-tần-già
uốn lưỡi tung một tràng nhạc, ca tụng sự rạng rỡ của Ðạo Vàng, chói chang
ánh sáng, cao sang hơn muôn ngàn ngai vàng, điện ngọc.