KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT
Hán Dịch: Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Viện Phật Học Phổ Hiền Xuất Bản PL. 2530 DL 1986 (Trọn Bộ 3 Tập)
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành P.L 2539 DL. 1995
QUYỂN THỨ TƯ
PHẨM CÚ NGHĨA
THỨ MƯỜI HAI
Ngài Tu Bồ Ðề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thế nào
là Bồ Tát cú nghĩa?"
Ðức Phật nói: "Nầy Tu Bồ Ðề! Không cú nghĩa là Bồ Tát cú nghĩa.
Tại sao vậy? Vì? Vô thượng Bồ đề không có nghĩa xứ cũng không có ngã, thế nên
không cú nghĩa là Bồ Tát cú nghĩa.
Ví như chim bay trong hư không chẳng có dấu tích, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ
có cũng vậy.
Ví như những sự thấy trong giấc mộng không chỗ có, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ
có cũng vậy
Ví như ảo thuật, dương diệm, ảnh hưởng, biến hóa đều không có thiệt nghĩa, Bồ
Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Ví như pháp như, pháp tánh, pháp tướng, pháp vị và thiệt tế không có nghĩa,
Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Ví như sắc, thọ, tưởng, hành, thức của ảo nhơn không có nghĩa, đại Bồ Tát lúc
thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Ví như lục căn, lục trần, lục thức của ảo nhơn không có nghĩa, ví như nhãn
xúc, nhơn duyên, sanh thọ nhẫn đến ý xúc, nhơn duyên, sanh thọ của ảo nhơn không
có nghĩa, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như lúc ảo nhơn thật hành nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không chẳng có
nghĩa, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như lúc ảo nhơn thật hành tứ niệm xứ nhẫn đến pháp bất cộng không có nghĩa,
Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Ðẳng, Chánh Giác, sắc, thọ, tưởng, hành, thức
không có nghĩa vì ngũ uẩn đây không có vậy, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng
vậy.
Như Đức Phật, nhãn đến ý, sắc đến pháp, nhãn xúc đến ý xúc, nhơn duyên, sanh
thọ đều không xứ sở , đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú
nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như Đức Phật, nội không đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến pháp bất
cộng đều không xứ sở , Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như trong tánh hữu vi không, tánh nghĩa vô vi, trong tánh vô vi không, tánh
nghĩa hữu vi, đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không
chỗ có cũng vậy.
Như bất sanh, bất diệt không xứ sở như bất tác, bất xuất, bất đắc, bất cấu,
bất tịnh đều không xứ sở , Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy”.
Ngài Tu Bồ Ðề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Vì pháp gì bất sanh, bất diệt nên
không xứ sở ? Vì pháp gì bất tác, bất xuất, bất đắc, bất cấu, bất tịnh nên không
xứ sở ?"
Ðức Phật nói: "Nầy Tu Bồ Ðề! Vì ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới đều bất
sanh, bất diệt nhẫn đến bất cấu, bất tịnh nên không xứ sở. Vì tứ niệm xứ đến
pháp bất cộng đều bất sanh, bất diệt nhẫn đến bất cấu, bất tịnh nên không xứ sở.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa
không chỗ có cũng vậy.
Nầy Tu Bồ Ðề! Như nơi tứ niệm xứ đến pháp bất cộng, tịnh nghĩa rốt ráo bất
khả đắc, đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ
có cũng vậy.
Như trong tịnh, ngã nhẫn đến tri giả, kiến giả đều bất khả đắc, vì ngã đến
kiến giả đều không chỗ có vậy. Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ví như lúc mặt nhựt mọc lên thời không có tối tăm. Ðại Bồ Tát
lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như thời kỳ kiếp thiêu không có tất cả vật. Ðại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã
ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như trong Phật giới không có phá giới. Ðại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la
mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như trong Phật định không có loại tâm, trong Phật huệ không có ngu si, trong
Phật giải thoát không có chẳng giải thoát, trong Phật giải thoát tri kiến không
có chẳng giải thoát tri kiến. Ðại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát
cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Như trong Phật quang thời nguyệt quang, nhựt quang không hiện, như trong Phật
quang thời quang minh của chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc đều không hiện. Ðại Bồ Tát
lúc thật hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát cú nghĩa không chỗ có cũng vậy.
Tại sao vậy? Vì Vô thượng Bồ đề cùng Bồ Tát và Bồ Tát cú nghĩa, tất cả pháp
đây đều chẳng hiệp, chẳng tan, không sắc, không hình, không đối là nhứt tướng,
chính là vô tướng.
Nầy Tu Bồ Ðề! Vô ngại tướng trong tất cả pháp đây, đại Bồ Tát phải nên học,
cũng phải nên biết”.
Ngài Tu Bồ Ðề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Những gì là tất cả pháp? Thế nào là vô
ngại tướng trong tất cả pháp mà phải học? , phải biết?"
Ðức Phật nói: "Nầy Tu Bồ Ðề! Tất cả pháp là pháp thiện, pháp bất thiện, pháp
hữu ký, pháp vô ký, pháp thế gian, pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu, pháp vô
lậu, pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp cộng? , pháp bất cộng. Ðây gọi là tất cả
pháp, trong tất cả pháp vô ngại tướng đây, đại Bồ Tát phải học? , phải biết”.
Ngài Tu Bồ Ðề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Những gì là pháp thiện thế gian nhẫn
đến những gì là pháp bất cộng?"
Ðức Phật nói: "Nầy Tu Bồ Ðề! Pháp thiện thế gian là hiếu thuận với cha mẹ ,
cúng dường Sa Môn, Bà La Môn, cúng thờ bậc tôn trưởng? , chỗ phước bố thí, chỗ
phước trì giới, chỗ phước tu thiền định? , chỗ phước khuyến đạo, phương tiện
sanh phước đức, thập thiện đạo thế gian, quán tưởng chín tướng bất tịnh: tướng
xanh, tướng sình, tướng máu, tướng nứt, tướng nhũn bấy, tướng bị ăn, tướng tan
rã, tướng xương, tướng thiêu, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng niệm giới, niệm xả, niệm Thiên, niệm thiện, niệm hơi
thở , niệm thân thể? , niệm chết. Ðây gọi là pháp thiện thế gian.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp bất thiện? Sát sanh, trộm cướp, tà dâm, vọng
ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham lẫn, não hại, tà kiến, thập bát thiện đạo
nầy gọi là pháp bất thiện.
Nầy Tu Bồ Ðề! những gì là pháp hữu ký? Pháp thiện hoặc pháp bất thiện gọi là
pháp hữu ký
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp vô ký? Vô ký thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý
nghiệp, vô ký tứ đại, vô ký ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới, vô ký báo, đây
gọi là pháp vô ký.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp thế gian? Ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát
giới, thập thiện đạo, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, đây gọi là pháp
thế gian.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp xuất thế gian? Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ vô
ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát thánh đạo phần, không giải thoát
môn, vô tướng giải thoát môn, vô tác giải thoát môn, vị tri dục tri căn, tri căn
dĩ tri căn, hữu giác hữu quán tam muội, vô giác hữu quán tam muội, vô giác vô
quán tam muội, bát bội xả, nội không đến vô pháp hữu pháp không, thập lực, tứ vô
sở úy, tứ vô ngại trí, mười tám pháp bất cộng, nhứt thiết trí, đây gọi là pháp
xuất thế gian.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp hữu lậu? Ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới,
lục chủng, lục xúc, lục thọ, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, đây gọi
là pháp hữu lậu.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp vô lậu? Tứ niệm xứ nhẫn đến bất cộng pháp và
nhứt thiết trí, đây gọi là pháp vô lậu.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp hữu vi? Nếu là pháp có sanh, có trụ, có diệt,
Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, ngũ ấm nhẫn đến ý xúc, nhơn duyên, sanh thọ, tứ
niệm xứ nhẫn đến pháp bất cộng và nhứt thiết trí, đây gọi là pháp hữu vi.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp vô vi? Nếu là pháp bất sanh, bất trụ, bất
diệt, sạch tham, sân, si, pháp như, pháp tánh, pháp tướng, pháp vị, thiệt tế,
đây gọi là pháp vô vi.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là cộng pháp? Tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc
định, đây gọi là cộng pháp.
Nầy Tu Bồ Ðề! Những gì là bất cộng pháp? Tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám pháp
bất cộng, đây gọi là bất cộng pháp.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ở trong những pháp tứ tướng không đây, đại Bồ Tát chẳng nên
chấp trước, vì bất động vậy. Ðại Bồ Tát cũng phải biết tất cả pháp chẳng có hai
tướng, vì bất động vậy.
Ðây gọi là Bồ Tát nghĩa”.