KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT
Hán Dịch: Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Viện Phật Học Phổ Hiền Xuất Bản PL. 2530 DL 1986 (Trọn Bộ 3 Tập)
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành P.L 2539 DL. 1995
|
QUYỂN THỨ TÁM
PHẨM VÔ SANH
THỨ HAI MƯƠI SÁU
Bấy giờ Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài Tu Bồ Đề:
“Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật quán các pháp.
Những gì là Bồ Tát? Những gì là Bát nhã ba la mật? Những gì là quán?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Vì vô thượng Chánh đẳng Cánh giác phát đại tâm, người nầy
gọi là Bồ Tát. Người nầy cũng biết tất cả pháp, tất cả tướng mà cũng chấp trước,
biết tướng của sắc nhẫn đến biết tướng của bất cộng pháp cũng chẳng chấp trước”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Những gì là tất cả pháp tướng?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Nếu dùng danh tự, nhơn duyên hòa hiệp v.v…để biết các
pháp, đây là sắc, đây là thanh, hương, vị, xúc, pháp, là pháp hữu vi, là pháp vô
vi. Dùng tướng danh tự ngữ ngôn để biết các pháp thời gọi là biết các pháp
tướng.
Như lời Xá Lợi Phất hỏi, những gì là Bát nhã ba la mật? Vì viễn ly nên gọi là
Bát nhã ba la mật.
Những pháp gì viễn ly? Viễn lý ấm giới nhập. Viễn ly ba la mật. Viễn ly
không, Do đây nên viễn ly gọi là Bát nhã ba la mật.
Lại viễn ly tứ niệm xứ đến viễn ly mười tám pháp bất cộng, viễn ly nhứt thiết
trí. Do đây nên viễn ly gọi là Bát nhã ba la mật.
Những gì là quán? Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát quán sắc chẳng
phải thường, chẳng phải vô thường, chẳng phải lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải
ngã, chẳng phải vô ngã, chẳng phải không, chẳng phải bất không, chẳng phải
tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải ác, chẳng phải vô tác, chẳng phải tịch
diệt, chẳng phải chẳng tịch diệt, chẳng phải ly, chẳng phải chẳng ly, thọ,
tưởng, hành, thức cũng như vậy. Đàn na ba la mật đến Bát nhã ba la mật, nội
không đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến bất cộng pháp, tất cả môn tam
muội đến nhứt thiết chủng trí cũng như vậy. Đây gọi là đại Bồ Tát lúc thật hành
Bát nhã ba la mật quán các pháp”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Do nhơn duyên gì mà sắc chẳng sanh là chẳng phải sắc;
nhẫn đến nhứt thiết chủng trí chẳng sanh là chẳng phải nhứt thiết chủng trí?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Sắc sắc tướng rỗng không. Trong sắc không ấy không có sắc
cũng không có sanh, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí cũng như vậy. Do đây nên sắc
chẳng sanh là chẳng phải sắc, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí chẳng sanh là chẳng
phải nhứt thiết chủng trí”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Do nhơn duyên gì mà nói rằng sắc chẳng hai là chẳng
phải sắc, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí chẳng hai là chẳng phải nhứt thiết chủng
trí?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Có sắc là có chẳng hai, nhẫn đến có nhứt thiết chủng trí
là có chẳng hai. Tất cả những pháp nầy đều chẳng hiệp, chẳng tan,, không sắc,
không hình, không đối một tướng. Do đây nên sắc chẳng hai là chẳng phải sắc,
nhẫn đên nhứt thiết chủng trí chẳng hai là chẳng phải nhứt thiết chủng trí”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “ Do nhơn duyên gì mà nói rắng sắc nầy vào trong pháp
số vô nhị, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí vào trong pháp số vô nhị ?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Sắc chẳng khác vô sanh, vô sanh chẳng khác sắc, sắc tức
là vô sanh, vô sanh tức là sắc. Do đây nên sắc vào trong pháp số vô nhị. Nhẫn
đến nhứt thiết chủng trí cũng như vậy”.
Bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: “Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát thật hành Bát nhã
ba la mật quán các pháp như vậy thời thấy sắc vô sanh, vì rốt ráo tịnh vậy. Thấy
thọ, tưởng, hành, thức vô sanh vì rốt ráo tịnh vậy. Nhẫn đến thấy Phật và Phật
pháp vô sanh vì rốt ráo tịnh vậy”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Cứ theo nghĩa của Tu Bồ Đề nói mà tôi được nghe
thời sắc là chẳng sanh, thọ, tưởng, hành, thức là chẳng sanh, nhẫn đến Phật và
Phật pháp cũng chẳng sanh.
Nếu như vậy thời lẽ ra nay chẳng nên được Tu Đà Hoàn Tu Đà Hoàn quả, Tư Đà
Hàm Tư Đà Hàm quả, A Na Hàm A Na Hàm quả, A La Hán A La Hán quả, Bích Chi Phật
Bích Chi Phật đạo, chẳng nên được đại Bồ Tát nhứt thiết chủng trí, cũng không có
lục đạo chúng sanh sai khác, cũng chẳng nên được đại Bồ Tát năm thứ bồ đề.
Nầy Tu Bồ Đề! Nếu tất cả pháp là tướng chẳng sanh, cớ chi Tu Đà Hoàn tu đạo
đế để dứt bă kiết sử? Tư Đà Hàm tu đạo đế để làm mỏng tham, sân, si? A Na Hàm tu
đạo đế để dứt năm hạ phần kiết sử? A La Hán tu đạo đế để dứt năm thượng phần
kiết sử? Bích Chi Phật vì pháp Bích Chi Phật mà tu đạo đế ? Cớ chi đại Bồ Tát vì
thọ khổ thay chúng sanh mà làm những việc khó làm? Cớ chi Phật chuyển pháp
luân?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Tôi chẳng muốn cho pháp vô sanh có sở đắc. Tôi cũng chẳng
muốn cho trong pháp vô sanh có được Tu Đà Hoàn và Tu Đà Hoàn quả, nhẫn đến có
được Bích Chi Phật và Bích Chi Phật đạo. Tôi cũng chẳng muốn trong pháp vô sanh
có Bồ Tát làm việc khó làm để thay khổ chio chúng sanh, Bồ Tát cũng chẳng dùng
tâm khó làm để hành đạo.
Tại sao vậy? Vì nếu sanh tâm khó, tâm khổ thời chẳng thể lợi ích cho vô lượng
vô số chúng sanh.
Nầy Xá Lợi Phất! Nay đây Bồ Tát thương xót chúng sanh. Với chúng sanh, Bồ Tát
tưởng như cha mẹ, anh em, con cháu, cũng tưởng như thân mình. Thế nên Bồ Tát có
thể lợi ích cho vô lượng vô số chúng sanh, vì pháp dụng vô sở đắc vậy.
Bồ Tát nên sanh tâm như thế nầy: Như ngã bất khả đắc, nơi tất cả thứ, tất cả
chỗ, nội pháp, ngoại pháp cũng vậy, đều bất khả đắc. Nếu sanh tâm như trên đây
thời Bồ Tát không có tâm khó, tâm khổ. Tại sao vậy? Vì Bồ Tát nầy nơi tất cả
thứ, tất cả chỗ, tất cả pháp đều chẳng lãnh thọ.
Nầy Xá Lợi Phất! Tôi cũng chẳng muốn cho trong vô sanh có Phật chứng Vô
thượng Bồ đề, trong vô sanh có chuyển pháp luân, tôi cũng chẳng muốn dùng pháp
vô sanh để đắc đạo”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Nay Tu Bồ Đề muốn khiến dùng pháp sanh đắc đạo hay là
dùng pháp vô sanh đắc đạo?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Tôi chẳng muốn khiến dùng pháp sanh đắc đạo”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Vậy thời Tu Bồ Đề muốn khiến dùng pháp vô sanh đắc
đạo?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Tôi cũng chẳng muốn khiến dùng pháp vô sanh đắc đạo”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Như lời Tu Bồ Đề nói thời là vô tri, vô đắc”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Có tri, có đắc không phai hai pháp. Nay theo danh tự thế
gian nên có tri, có đắc. Theo danh tự thế gian nên có Tu Đà Hoàn đến có chư
Phật.
Trong đệ nhứt nghĩa đế thời vô tri, vô đắc, cũng không Tu Đà Hoàn đến không
chư Phật”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Nếu theo danh tự thế gian nên có tri, có đắc, thời sáu
loài sai khác cũng do danh tự thế gian mà có, chẳng phải là đệ nhứt nghĩa đế”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Đúng như vậy. Theo danh tự thế gian nên có tri, có đắc.
Sáu loài sai khác cũng do danh tự thế gian mà có, chẳng phải là đệ nhứt nghĩa
đế.
Tại sao vậy? Vì trong đệ nhứt nghĩa đế không có nghiệp, không có báo, không
có sanh, không có diệt, không có tịnh, không có cấu”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Pháp chẳng sanh sanh chăng? Pháp sanh sanh chăng?”
Ngià Tu Bồ Đề nói: “Tôi chẳng muốn khiến pháp chẳng sanh sanh, cũng chẳng
muốn khiến pháp sanh sanh”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Pháp chẳng sanh nào không muốn khiến sanh?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Sắc là pháp chẳng sanh, tự tánh nó rỗng không chẳng muốn
khiến sanh. Nhẫn đến Vô thượng Bồ đề là pháp chẳng sanh, tự tánh nó rỗng không
chẳng muốn khiến sanh”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Sanh sanh hay chẳng sanh?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Chẳng phải sanh, cũng chẳng phải chẳng sanh sanh.
Tại sao vậy? Vì sanh và chẳng sanh là hai pháp chẳng hiệp, chẳng tan, không
sắc không hình, không đối, một tướng tức là không có tướng. Do đây nên chẳng
phải sanh sanh cũng chẳng phải chẳng sanh sanh”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: ”Tu Bồ Đề khéo thích nói pháp vô sanh và tướng vô
sanh”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Tôi thích nói pháp vô sanh và tướng vô sanh.
Tại sao vậy? Vì những pháp vô sanh, tướng vô sanh và những lời thích nói đều
chẳng hiệp, chẳng tan, không sắc, không hình, không đối, một tướng, tức là không
có tướng”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Tu Bồ Đề thích nói pháp chẳng sanh, cũng thích nói
tướng chẳng sanh, những lời thích nói nầy cũng chẳng sanh”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Đúng như vậy. Vì sắc chẳng sanh nhẫn đến nhất thiết chủng
trí chẳng sanh. Do đây nên tôi thích nói pháp chẳng sanh, cũng thích nói tướng
chẳng sanh, lời thích nói nầy cũng chẳng sanh”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Trong những người thuyết pháp, Tu Bồ Đề đáng là người
trên hết. Vì có hỏi điều chi, Tu Bồ Đề đều đáp được cả”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Vì các pháp không có sở y vậy”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Thế nào là các pháp không có sở y?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Sắc tánh thường không, chẳng y tựa trong, chẳng y tựa
ngoài, chẳng y tựa trung gian. Nhẫn đến nhất thiết chủng trí tánh thường không,
chẳng y tựa trong, chẳng y tựa ngoài, chẳng y tựa trung gian. Do đây nên tất cả
pháp không chỗ y tựa, vì tánh thường không vậy.
Ngài Xá Lợi Phất! Thế nên đại Bồ Tát lúc thật hành sáu môn ba la mật phải
tịnh sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhẫn đến phải tịnh nhất thiết chủng trí”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Thế nào là đại Bồ Tát lúc thật hành sáu môn ba la mật
tịnh Bồ Tát đạo?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Có thế gian Đàn na ba la mật. Có xuất thế gian Đàn na ba
la mật. Năm ba la mật kia cũng đều có thế gian và có xuất thế gian”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Thế nào là thế gian Đàn na ba la mật? Thế nào là xuất
thế gian Đàn na ba la mật?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Nếu đại Bồ Tát làm thí chủ có thể bố thí cho Sa Môn, Bà
La Môn và người nghèo cùng đi xin: cần ăn cho ăn, cần uống cho uống, cần mặc cho
mặc, cần chỗ ở cho chỗ ở, cần tiền bạc, châu báu, hoa hương, cần cầu thuốc mem
cho thuốc mem, tất cả thứ cần dùng đều cấp cho.
Lúc bố thí, Bồ Tát nghĩ rằng tôi cho họ nhận, tôi chẳng bỏn xẻn tham lam, tôi
là thí chủ, tôi có thể thí xả tất cả, tôi y theo lời Phật dạy mà thật hành Đàn
na ba la mật.
Bố thí xong, Bồ Tát lúc dùng pháp đã được, cùng chung với tất cả chúng sanh
hồi hướng Vô thượng Bồ đề mà nghĩ rằng nhân duyên bố thí nầy khiến chúng sanh
được sự an lạc đời nay, về sau khiến họ được sự an lạc nhập Niết Bàn.
Nầy Xá Lợi Phất! Bồ Tát nầy bố thí có ba điều chướng ngại: Một là ngã tướng, hai
là tha tướng, ba là thí tướng. Vì bố thí mà có ba tướng nầy nên gọi là thế gian
Đàn na ba la mật.
Tại sao gọi là thế gian? Vì ở trong thế gian chẳng động dời, chẳng siêu xuất
vậy.
Nầy Xá Lợi Phất! Thế nào gọi là xuất thế gian Đàn na ba la mật? Chính là ba
phần thanh tịnh vậy.
Những gì là ba? Lúc bố thí, đại Bồ Tát chẳng thấy có mình, chẳng thấy có
người nhận, chẳng có thấy vật bố thí, cũng chẳng trong mong báo đáp. Đây gọi là
đại Bồ Tát ba phần thanh tịnh Đàn na ba la mật.
Lại lúc bố thí, đại Bồ Tát bố thí cho tất cả chúng sanh mà không thấy có
chúng sanh, đem sự bố thí nầy hồi hướng Vô thượng Bồ đề nhẫn đến không thấy có
pháp tướng vi tế.
Đây gọi là xuất thế gian Đàn na ba la mật.
Tại sao gọi là xuất thế gian? Vì ở trong thế gian có thể động dời, có thể
siêu xuất vậy.
Năm môn ba la mật kia nếu có sở y thời gọi là thế gian, nếu không sở y thời
gọi là xuất thế gian, ngoài ra như đã giải nói về Đàn na ba la mật.
Lúc thật hành sáu môn ba la mật, đại Bồ Tát tịnh Bồ Tát đạo như vậy”
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Thế nào là đại Bồ Tát vì đạo Vô thượng Bồ đề?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Tứ niệm xứ là đại Bồ Tát vì đạo Vô thượng Bồ đề, nhẫn đến
Bát thánh đạo phần, giải thoát môn, nội không đến vô pháp hữu pháp không, tất cả
tam muội môn và đà la ni môn, thập lực, tứ vô sở úy, tứ vô ngại trí, mười tám
pháp bất cộng, đại từ đại bi, đây gọi là đại Bồ Tát vì đạo Vô thượng Bồ đề”.
Ngài Xá Lợi Phất khen: “Lành thay lành thay!
Nầy Tu Bồ Đề! “Gì là ba la mật lực?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Là Bát nhã ba la mật lực. Vì Bát nhã ba la mật hay sanh
tất cả pháp lành của Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát và Phật.
Bát nhã ba la mật hay nạp thọ tất cả pháp lành, hoặc pháp Thanh Văn, pháp
Bích Chi Phật, hoặc pháp Bồ Tát và Phật pháp.
Nầy Xá Lợi Phất! Quá khứ chư Phật thật hành Bát nhã ba la mật được Vô thượng
Bồ đề. Vị lai chư Phật cũng thật hành Bát nhã ba la mật sẽ được Vô thượng Bồ đề.
Hiện tại nay, chư Phật trong các quốc độ mười phương cũng thật hành Bát nhã ba
la mật được Vô thượng Bồ đề.
Nếu lúc nghe nói Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng nghi ngờ, chẳng cho là
khó, thời nên biết đại Bồ Tát nầy thật hành Bồ Tát đạo.
Người thật hành Bồ Tát đạo vì cứu tất cả chúng sanh nên tâm chẳng rời bỏ tất
cả chúng sanh, bởi vô tâm đắc vậy.
Bồ Tát phải thường chẳng rời niệm nầy: Chính là đại bi niệm”.
Ngài Xá Lợi Phất lại hỏi: “Muốn khiến đại Bồ Tát thường chẳng rời niệm nầy:
chính là đại bi niệm. Nếu đại Bồ Tát thường chẳng rời đại bi niệm, thời nay đây
tất cả chúng sanh sẽ làm Bồ Tát. Vì tất cả chúng sanh cũng chẳng rời các niệm
vậy”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Lành thay, lành thay! Xá Lợi Phất muốn chất vấn tôi mà trở
thành nghĩa của tôi.
Tại sao vậy? Vì chúng sanh không có nên niệm không. Vì chúng sanh tánh không
có nên niệm tánh cũng không. Vì chúng sanh pháp không có nên niệm pháp cũng
không. Vì chúng sanh ly nên niệm cũng ly. Vì chúng sanh rỗng không nên niệm cũng
rỗng không. Vì chúng sanh bất khả tri nên niệm cũng bất khả tri.
Nầy Xá Lợi Phất! Vì sắc không có nên niệm cũng không. Vì sắc tánh không có
nên niệm tánh cũng không. Vì sắc pháp không có nên niệm pháp cũng không. Vì sắc
ly nên niệm cũng ly. Vì sắc rỗng không nên niệm cũng rỗng không. Vì sắc bất khả
tri nên niệm cũng bất khả tri. Nhẫn đến Vô thượng Bồ đề cũng như vậy.
Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát thật hành Bồ Tát đạo, tôi muốn khiến chẳng rời
niệm nầy: chính là đại bi niệm”.
Bấy giờ Đức Phật khen: “Lành thay, lành thay! Đây chính là Bát nhã ba la mật
của đại Bồ Tát. Ai muốn nói thời phải nói như vậy.
Tu Bồ Đề nói về Bát nhã ba la mật đều là tuân thừa ý của Phật. Đại Bồ Tát học
Bát nhã ba la mật phải học như lời của Tu Bồ Đề nói”.
Lúc Ngài Tu Bồ Đề nói phẩm Bát nhã ba la mật, cõi Đại Thiên chấn động sáu
cách.
Bấy giờ Đức Phật mỉm cười.
Ngài Tu Bồ Đề bạch hỏi duyên do.
Đức Phật nói: “Nầy Tu Bồ Đề! Như ta nói Bát nhã ba la mật tại quốc độ nầy,
mười phương trong vô lượng vô số quốc độ, chư Phật cũng nói Bát nhã ba la mật
như vậy”.
Lúc Đức Phật nói phẩm Bát nhã ba la mật, có mười hai na do tha Nhơn, Thiên
được vô sanh pháp nhẫn.
Lúc mười phương chư Phật nói Bát nhã ba la mật cũng có vô lượng vô số chúng
sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề”.