KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT
Hán Dịch: Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Viện Phật Học Phổ Hiền Xuất Bản PL. 2530 DL 1986 (Trọn Bộ 3 Tập)
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành P.L 2539 DL. 1995
QUYỂN THỨ MƯỜI
PHẨM BỬU PHÁP ĐẠI MINH
THỨ BA MƯƠI HAI
Đức Phật nói với Thiên Đế: “Nầy Kiều Thi Ca!
Nếu có thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật nầy rồi thọ trì, thân cận, đọc
tụng, giảng thuyết, chánh ức niệm, chẳng rời tâm nhứt thiết trí, lúc lâm trận,
do tụng Bát nhã ba la mật nên vào trong quân trận trọn chẳng mất mạng, đao tên
không hại. Tại sao vậy? Thiện nam, thiện nữ nầy mãi mãi thật hành sáu ba la mật,
tự trừ đao tên dâm dục của mình, cũng trừ đao tên dâm dục của người khác, tự trừ
đao tên sân khuể của mình, cũng trừ đao tên sân khuể của mình, cũng trừ đao tên
sân khuể của người khác, tự trừ đao tên ngu si của mình, cũng trừ đao tên ngu si
của người khác, tự trừ đao tên tà kiến của mình, cũng trừ đao tên tà kiến của
người, tự trừ đao tên triền cấu, cũng trừ đao tên triền cấu của người, tự trừ
đao tên kiết sử, cũng trừ đao tên kiết sử của người.
Nầy Kiều Thi Ca! Do nhơn duyên nầy, nên thiện nam, thiện nữ nầy chẳng bị đao
tên làm hại.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật nầy thọ trì,
thân cận, đọc tụng, giảng thuyết, chánh ức niệm, chẳng rời tâm nhứt thiết trí,
tất cả những độc, cổ độc, hầm lửa, nước sâu, dao chém đều không làm hại được.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật nầy là đại minh cchú, là vô thượng chú.
Nếu thiện nam, thiện nữ học đại minh chú nầy thời chẳng tự não hại lấy thân
mình, cũng chẳng não hại người khác, cũng chẳng não hại cả mình lẫn người.
Tại sao vậy? Vì thiện nam, thiện nữ nầy chẳng thấy có ngã, chẳng thấy có
chúng sanh, nhẫn đến tri giả, kiến giả đều bất khả đắc. Chẳng thấy có sắc, nhẫn
đến chẳng thấy có nhứt thiết chủng trí.
Vì chẳng thấy có, nên chẳng tự não hại thân mình, chẳng não hại người khác,
cũng chẳng não hại lẫn mình cả người.
Vì học đại minh chú nầy nên được Vô thượng Bồ đề, quán tâm của tất cả chúng
sanh mà tùy ý thuyết pháp.
Tại sao vậy? Vì quá khứ chư Phật học đại minh chú nầy đã được Vô thượng Bồ
đề, vị lai chư Phật học đại minh chú nầy sẽ được Vô thượng Bồ đề, hiện tại chư
Phật học đại minh chú nầy được Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Nếu có người chỉ biên chép quyển kinh Bát nhã ba la mật
nầy mà thờ nơi nhà, chớ không thọ trì, không đọc tụng, chẳng giảng thuyết, chẳng
chánh ức niệm, tất cả hành Nhơn, Phi Nhơn không thể phá hoại chỗ đó được.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật nầy được tất cả chư Thiên Vương, chư Phạm
Vương cùng chư Thiên trong Đại Thiên thế giới và trong vô số vô lượng thế giới
mười phương đồng ủng hộ.
Chỗ thờ Bát nhã ba la mật nầy, chư Thiên đều đến cúng dường, kính trọng, lễ
lại rồi đi.
Chỉ có biên chép Bát nhã ba la mật để thờ tại nhà, mà thiện nam, thiện nữ ấy
còn được công đức hiện đời như vậy.
Ví như hoặc có người hoặc có súc vật đến dưới cây bồ đề, thời hàng Nhơn, Phi
Nhơn mang ác ý đến không làm hại được.
Tại sao vậy? Vì chỗ cây bồ đề nầy là nơi mà quá khứ chư Phật được Vô thượng
Bồ đề, vị lai chư Phật và hiện tại chư Phật cũng ở nơi đó mà được Vô thượng Bồ
đề. Khi được thành Phật rồi, đều bố thí sự không kinh sợ cho tất cả chúng sanh,
làm cho vô lượng vô số chúng sanh được phước lạc trong Người trên Trời, cũng làm
cho vô lượng vô số chúng sanh được quả Tu Đà Hoàn đến quả Vô thượng Bồ đề.
Do oai lực của Bát nhã ba la mật, nên chỗ ấy được sự cung kính, lễ bái, cúng
dường”.
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu có thiện nam, thiện nữ biên chép cúng
dường Bát nhã ba la mật, hoặc có thiện nam, thiện nữ sau khi Đức Phật nhập diệt
xây tháp cúng dường Xá Lợi, hai người nầy ai được phước nhiều?”
Đức Phật nói: “Nầy Kiều Thi Ca! Ta hỏi lại Ngài, tùy ý Ngài đáp.
Do học đạo gì mà Phật được Vô thượng Bồ đề thân tướng hảo nầy?”
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Do học trong Bát nhã ba la mật mà Đức Phật
được Vô thượng Bồ đề cùng thân tướng hảo trang nghiêm”.
Đức Phật nói: “Đúng như vậy! Nầy Kiều Thi Ca! Đức Phật từ trong Bát nhã ba la
mật mà học được nhứt thiết chủng trí.
Nầy Kiều Thi Ca! Chẳng phải do thân tướng hảo mà gọi là Phật. Chính là do
được nhứt thiết chủng trí nên gọi là Phật.
Nầy Kiều Thi Ca! Nhứt thiết chủng trí của Phật sanh từ trong Bát nhã ba la
mật.
Nầy Kiều Thi Ca! Thân của Phật đây là chỗ sở y của nhứt thiết chủng trí. Nhơn
nơi thân nầy mà Phật được nhứt thiết chủng trí. Nên nghĩ rằng thân của Đức Phật
đây là chỗ sở y của nhứt thiết chủng trí. Vì thế nên sau khi Phật nhập Niết Bàn,
Xá Lợi sẽ được cúng dường.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Nếu thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật nầy rồi
biên chép, thọ trì, đọc tụng, chánh ức niệm, cung kính, cúng dường, tôn trọng,
tán thán, thời tức là cúng dường nhứt thiết chủng trí.
Do cớ nầy nên thiện nam, thiện nữ nên biên chép Bát nhã ba la mật nầy, rồi
hoặc thọ trì, thân cận, đọc tụng, chánh ức niệm, kính trọng, cúng dường, tán
thán.
Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, nếu có thiện nam, thiện nữ xây tháp cúng
dường Xá Lợi, kính lễ, tán thán.
Lại có thiện nam, thiện nữ biên chép, thọ trì Bát nhã ba la mật nầy mà kính
thọ, cúng dường, tán thán, thời được phước rất nhiều.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật nầy xuất sanh nội không đến vô pháp
hữu pháp không, xuất sanh tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng, xuất sanh tất
cả tam muội, tất cả thiền định, tất cả đà la ni. Thành tựu chúng sanh, thanh
tịnh Phật độ đều xuất phát từ trong Bát nhã ba la mật nầy. Bồ Tát thành tựu tất
cả công hạnh cũng từ trong Bát nhã ba la mật nầy. Tất cả phước quả của loài
Người cùng cõi Trời đến Sắc Cứu Cánh Thiên đều từ Bát nhã ba la mật nấy sanh.
Những Thánh quả từ Tu Đà Hoàn đến chư Phật và nhứt thiết chủng trí của chư Phật
đều từ trong Bát nhã ba la mật nầy xuất sanh”.
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Người Diêm Phù Đề chẳng cúng dường, tán
thán Bát nhã ba la mật, phải chăng vì họ chẳng biết cúng dường thời được nhiều
lợi ích?”
Đức Phật nói: “Nầy Kiều Thi Ca! Trong Diêm Phù Đề, đối với Phật, Pháp và Tăng
có bao nhiêu người có lòng tin bất hoại? Có bao nhiêu người không nghi? Có bao
nhiêu người quyết liễu?”
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đối với Phật, Pháp và Tăng, trong Diêm Phù
Đề ít người có lòng tin bất hoại, cũng ít người không nghi và quyết liễu”.
Đức Phật nói: “Nầy Kiều Thi Ca! Trong Diêm Phù Đề, có bao nhiêu người được ba
mươi bảy phẩm trợ đạo, ba môn giải thoát, tám bội xả, chín thứ đệ định, bốn trí
vô ngại, sáu thần thông?
Trong Diêm Phù Đề có bao nhiêu người dứt ba kiết sử, được đạo Tu Đà Hoàn? Bao
nhiêu người dứt ba kiết sử cũng mõng tham, sân, si, được đạo Tư Đà Hàm? Bao
nhiêu người dứt năm hạ phần kiết, được đạo A Na Hàm? Bao nhiêu người dứt năm hạ
phần kiết, được đạo A La Hán? Bao nhiêu người cầu đạo Bích Chi Phật? Bao nhiêu
người phát tâm Vô thượng Bồ đề?”
Thiên Đế thưa: “Trong Diêm Phù Đề, ít người được ba mươi bảy phẩm trợ đạo,
nhẫn đến ít người phát tâm Vô thượng Bồ đề”.
Đức Phật nói: “Đúng như vậy. Nầy Kiều Thi Ca! Trong Diêm Phù Đề ít người đối
với Phật, Pháp Tăng có lòng tin bất hoại, không nghi và quyết liễu. Cũng ít
người được ba mươi bảy phẩm trợ đạo, nhẫn đến ít người phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Trong những người phát tâm nầy lại ít người thật hành Bồ Tát hạnh.
Tại sao vậy? Vì những chúng sanh trong Diêm Phù Đề, đời trước của họ chẳng
thấy Phật, chẳng nghe Pháp, chẳng cúng dường Tỳ Kheo Tăng, chẳng bố thí, chẳng
trì giới, chẳng nhẫn nhục, chẳng tin tấn, chẳng thiền định, chẳng trí tuệ, chẳng
nghe nội không đến vô pháp hữu pháp không, chẳng nghe, chẳng tu tứ niệm xứ đến
bất cộng pháp, chẳng nghe, chẳng tu những môn tam muội, những môn đà la ni, cũng
chẳng tu nhứt thiết chủng trí.
Do cớ trên đây nên ít chúng sanh tin bất hoại nơi Tam Bảo, nhẫn đến ít người
phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Trong những người phát tâm lại ít người thật hành Bồ Tát đạo.
Trong những người thật hành Bồ Tát đạo lại ít người được Vô thượng Bồ đề.
Nầy Kiều Thi Ca! Ta dùng Phật nhãn thấy trong những thế giới phương Đông có
vô lượng vô số chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề, thật hành Bồ Tát đạo, nhưng
vì xa lìa sức phương tiện Bát nhã ba la mật nên có rất ít người được an trụ bực
bất thối chuyển, còn phần nhiều thời sa vào hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật. Trong
chín phương kia cũng như vậy.
Vì thế nên thiện nam, thiện nữ phát tâm cầu Vô thượng Bồ đề phải nghe Bát nhã
ba la mật và phải thọ trì, thân cận, đọc tụng, giảng thuyết, chánh ức niệm. Xong
rồi lại phải biên chép, cung kính, tôn trọng, tán thán và cúng dường Bát nhã ba
la mật.
Những thiện pháp khác vào trong Bát nhã ba la mật cũng phải nghe, thọ trì
nhẫn đến cúng dường. Những gì là thiện pháp khác? Chính là Đàn na ba la mật đến
Thiền na ba la mật, nội không đến vô pháp hữu pháp không, những tam muội môn,
đàn la ni môn, tứ niệm xứ đến bất cộng pháp, đại từ đại bi.
Vô lượng thiện pháp như vậy đều vào trong Bát nhã ba la mật cũng phải nghe,
thọ trì nhẫn đến chánh ức niệm và tán thán, cúng dường.
Thiện nam, thiện nữ phải nghĩ rằng lúc làm Bồ Tát, Đức Phật học và thật hành
Bát nhã ba la mật cùng vô lượng thiện pháp cũng như vậy.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật cùng vô lượng thiện pháp là chỗ tôn quý của
tôi, là pháp ấn của chư Phật, cũng là pháp ấn của Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Chư Phật do học Bát nhã ba la mật nhẫn đến nhứt thiết chủng trí mà được đến
bỉ ngạn.
Chư Bích Chi Phật và Thanh Văn cũng học Bát nhã ba la mật nhẫn đến nhứt thiết
trí mà đến bỉ ngạn.
Nầy Kiều Thi Ca! Thế nên thiện nam, thiện nữ, lúc Phật còn tại thế hoặc sau
khi Phật nhập Niết Bàn, phải y chỉ Bát nhã ba la mật, Thiền na ba la mật, Nhẫn
nhục ba la mật, Thi na ba la mật, Đàn na ba la mật, nhẫn đến phải y chỉ nhứt
thiết chủng trí.
Tại sao vậy? Vì Bát nhã ba la mật nhẫn đến nhứt thiết chủng trí là chỗ mà chư
Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát, chư Phật và tất cả thế gian, Trời, Người, A tu
la đều đáng y chỉ nơi đó.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, nếu thiện nam, thiện nữ, vì cúng dường Phật mà
xây tháp bảy báu cao một do tuần, dùng hoa hương, an lạc, phan cái, kỹ nhạc cõi
Trời để cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.
Nầy Kiều Thi Ca! Do nhơn duyên nầy, thiện nam, thiện nữ ấy được phước nhiều
chăng?”
Thiên Đế nói: “Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều, rất nhiều!”
Đức Phật nói: “Nhưng vẫn không bằng phước của thiện nam, thiện nữ nghe Bát
nhã ba la mật nầy và biên chép, thọ trì, thân cận, đọc tụng, chánh ức niệm,
chẳng rời tâm tát bà nhã, cùng cung kính, tôn trọng, tán thán, cúng dường.
Nầy Kiều Thi Ca! Chẳng luận một tháp bảy báu. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, vì
cúng dường Phật nên thiện nam, thiện nữ xây tháp bảy báu khắp Diêm Phù Đề cũng
đều cao một do tuần, dùng hoa hương, anh lạc, phan cái, kỹ nhạc cõi Trời để cúng
dường, cung kính, tôn trọng, tán thán. Thiện nam, thiện nữ ấy được phước nhiều
chăng?”
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Phước của thiện nam, thiện nữ ấy rất
nhiều”.
Đức Phật nói: “Nhưng vẫn chẳng bằng phước của thiện nam, thiện nữ nghe Bát
nhã ba la mật nhẫn đến cúng dường, kính trọng, tán thán.
Nầy Kiều Thi Ca! Chẳng luận xây tháp khắp một Diêm Phù Đề. Sau khi Phật nhập
Niết Bàn, thiện nam, thiện nữ vì cúng dường Phật nên xây tháp bảy báu đều cao
một do tuần khắp bốn châu thiên hạ.
Thiện nam, thiện nữ nầy được phước nhiều chăng?”
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều”.
Đức Phật nói: “Nhưng vẫn chẳng bằng phước của thiện nam, thiện nữ biên chép
đến cúng dường Bát nhã ba la mật.
Nầy Kiều Thi Ca! Lại chẳng luận xây tháp bảy báu khắp bốn châu thiên hạ.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, thiện nam, thiện nữ vì cúng dường Phật nên xây
tháp bảy báu đều cao một do tuần khắp Tiểu Thiên thế giới. Thiện nam, thiện nữ
nầy được phước nhiều chăng?”
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều”.
Đức Phật nói: “Nhưng vẫn chẳng bằng phước của thiện nam, thiện nữ biên chép
đến cúng dường Bát nhã ba la mật.
Nầy Kiều Thi Ca! Lại chẳng luận xây tháp bảy báu khắp Tiểu Thiên thế giới.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, thiện nam, thiện nữ vì cúng dường Phật nên xây
tháp bảy báu đều cao một do tuần khắp Trung Thiên thế giới. Thiện nam, thiện nữ
nầy được phước nhiều chăng?”
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều”.
Đức Phật nói: “Nhưng vẫn chưa nhiều bằng phước của thiện nam, thiện nữ cúng
dường Bát nhã ba la mật.
Nầy Kiều Thi Ca! Lại chẳng luận xây tháp bảy báu đầy Trung Thiên thế giới.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, thiện nam, thiện nữ vì cúng dường Phật nên xây
tháp bảy báu đều cao một do tuần khắp Đại Thiên thế giới, rồi cúng dường trọn
đời. Thiện nam, thiện nữ nầy phước nhiều chăng?”
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Rất nhiều, rất nhiều”.
Đức Phật nói: “Nhưng vẫn chẳng bằng phước của thiện nam, thiện nữ biên chép
Bát nhã ba la mật nầy, rồi thọ trì, cung kính, tôn trọng, tán thán, cúng dường.
Nầy Kiều Thi Ca! Lại chẳng luận xây tháp bảy báu đầy Đại Thiên thế giới.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, vì cúng dường Phật nên mỗi mỗi chúng sanh trong
Đại Thiên thế giới đều xây tháp bảy báu và đều cúng dường trọn đời, vẫn chẳng
bằng phước của thiện nam, thiện nữ biên chép, thọ trì Bát nhã ba la mật nhẫn đến
chánh ức niệm, chẳng rời tâm nhứt thiết trí, và cũng cung kính, tôn trọng, tán
thán, cúng dường”.
Thích Đề Hoàn Nhơn thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đúng như vậy, nếu có ai cúng
dường, tôn trọng, tán thán Bát nhã ba la mật nầy, thời là cúng dường chư Phật
quá khứ, vị lai, hiện tại.
Bạch đức Thế Tôn! Sau khi Phật nhập Niết Bàn, nếu mỗi mỗi chúng sanh trong hằng
sa quốc độ mười phương, vì cúng dường Đức Phật nên xây tháp bảy báu cao một do
tuần, rồi cúng dường bửu tháp, hoặc một kiếp hoặc dưới một kiếp.
Bạch đức Thế Tôn! Những người cúng dường như vậy, có được phước nhiều chăng?”
Đức Phật nói: “Rất nhiều”.
Thiên Đế thưa: “Nếu có thiện nam, thiện nữ biên chép Bát nhã ba la mật nầy
nhẫn đến chánh ức niệm, cung kính, tôn trọng, tán thán và cúng dường thời được
phước lại nhiều lới hơn. Tại sao vậy? Vì tất cả pháp lành đều nhập vào trong Bát
nhã ba la mật. Như là những pháp lành thập thiện đạo, tứ thiền, tứ vô lượng tâm,
tứ vô sắc định, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, ba môn giải thoát, tứ đế, sáu thần
thông, tám bội xả, chín thứ đề định, sáu ba la mật, mười tám không, những tam
muội môn, những đà la ni môn, mười trí lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại trí, đại
từ đại bi, mười tám pháp bất cộng, nhứt thiết trí, đạo chủng trí, nhứt thiết
chủng trí.
Bạch đức Thế Tôn! Đây gọi là pháp ấn của tất cả chư Phật. Trong pháp nầy, tất
cả Thanh Văn, Bích Chi Phật và tam thế chư Phật do học pháp nầy mà được đến bỉ
ngạn”.