KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT
Hán Dịch: Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Viện Phật Học Phổ Hiền Xuất Bản PL. 2530 DL 1986 (Trọn Bộ 3 Tập)
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành P.L 2539 DL. 1995
QUYỂN THỨ MƯỜI HAI
PHẨM TƯƠNG TỢ
THỨ BA MƯƠI TÁM
(Phần Dưới)
Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhơn thưa: “Bạch đức Thế
Tôn! Những gì là tương tợ Bát nhã ba la mật?”
Đức Phật nói: “Có Thiện nam, thiện nữ nói sở hữu đắc Bát nhã ba la mật, đây
là tương tợ Bát nhã ba la mật”.
Thiên Đế thưa: “Thế nào là thiện nam, thiện nữ nói hữu sở đắc Bát nhã ba la
mật, đây là tương tợ Bát nhã ba la mật?”
Đức Phật nói: “Thiện nam, thiện nữ nói rằng sắc vô thường, thọ, tưởng, hành,
thức vô thường, thật hành vậy là thật hành Bát nhã ba la mật. Người tu hành cầu
sắc vô thường, cầu thọ, tưởng, hành, thức vô thường. Đây là thật hành tương tợ
Bát nhã ba la mật.
Nói nhãn vô thường đến ý vô thường, nói sắc vô thường đến pháp vô thường, nói
nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới vô thường đến ý thức giới, pháp giới, ý thức
giới vô thường, nói địa chủng vô thường đến thức chủng vô thường, nói nhãn xúc
vô thường đến ý xúc vô thường, nói nhãn xúc nhơn duyên sanh thọ vô thường đến ý
xúc, nhơn duyên sanh thọ vô thường.
Như nói về vô thường, nói khổ, nói vô ngã cũng như vậy.
Lúc hành giả thật hành Đàn na ba la mật, vì sắc đến ý xúc, nhơn duyên, sanh
thọ vô thường, khổ, vô ngã, có thể thật hành như vậy là thật hành Bát nhã ba la
mật.
Như lúc thật hành Đàn na ba la mật, lúc thật hành Thi là ba la mật đến Bát
nhã ba la mật, lúc thật hành tứ thiền đến tứ vô sắc định, lúc thật hành tứ niệm
xứ đến nhứt thiết trí, cũng vì nói vô thường, khổ, vô ngã, có thể thật hành như
vậy là thật hành Bát nhã ba la mật.
Nầy Kiều Thi Ca! Như trên đó gọi là tương tợ Bát nhã ba la mật.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Thuở vị lai, thiện nam, thiện nữ nói tương tợ Bát nhã
ba la mật rằng các người tu hành Bát nhã ba la mật. Lúc tu hành Bát nhã ba la
mật, các người sẽ được Sơ địa đến Thập địa. Với Thiền na đến Đàn na ba la mật
cũng nói như vậy.
Nghe lời giải thuyết như trên, hành giả tương tợ hữu sở đắc, dùng tổng tướng
tu Bát nhã ba la mật nầy. Đây gọi là tương tợ Bát nhã ba la mật.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ muốn nói Bát nhã ba la mật, bảo rằng
các người tu hành Bát nhã ba la mật rồi sẽ hơn hàng Thanh văn, Bích Chi Phật.
Đây gọi là nói tương tợ Bát nhã ba la mật.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ vì cầu Phật đạo, nên giải thuyết
rằng các người tu hành Bát nhã ba la mật xong, sẽ nhập Bồ Tát vị, được vô sanh
pháp nhẫn. Đã được vô sanh pháp nhẫn bèn trụ Bồ Tát thần thông, từ một Phật quốc
đến một Phật quốc, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán chư Phật. Đây là
giải thuyết tương tợ Bát nhã ba la mật.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Vì cầu Phật đạo, thiện nam, thiện nữ giải thuyết rằng
các người học Bát nhã ba la mật nầy, thọ trì, đọc tụng, chánh ức niệm, thời sẽ
được vô lượng vô biên vô số công đức. Đây gọi là nói tương tợ Bát nhã ba la mật.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Vì cầu Phật đạo, thiện nam, thiện nữ nói rằng như quá
khứ, vị lai, hiện tại chư Phật, tất cả công đức thiện căn từ sơ phát tâm đến
thành Phật, đều hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Đây là giải thuyết tương tợ Bát nhã
ba la mật”.
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ vì cầu Phật đạo, thế
nào là chẳng nói tương tợ Bát nhã ba la mật?”
Đức Phật nói: “Nầy Kiều Thi Ca! Nếu vì cầu Phật đạo, thiện nam, thiện nữ giải
thuyết Bát nhã ba la mật như vầy: Nầy thiện nam tử! Nhà ngươi tu hành Bát nhã ba
la mật chớ quán sắc vô thường.
Tại sao vậy? Vì sắc sác tánh rỗng không. Sắc tánh ấy chẳng phải pháp. Nếu
chẳng phải pháp, thời gọi là Bát nhã ba la mật.
Trong Bát nhã ba la mật, sắc chẳng phải thường, chẳng phải vô thường.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật, sắc còn bất khả đắc, huống là thường
với vô thường.
Giải thuyết thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Giải thuyết như vậy thời gọi là chẳng nói tương tợ Bát nhã ba la mật.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Vì cầu Phật đạo, thiện nam, thiện nữ nói rằng: Nhà ngươi
tu hành Bát nhã ba la mật, đối với các pháp chớ có đi qua cũng chớ có đi lại.
Tại sao vậy?
Vì trong Bát nhã ba la mật, không có pháp gì qua được, đứng được. Bởi tất cả
pháp tự tánh rỗng không. Tự tánh rỗng không là chẳng phải pháp. Nếu chẳng phải
pháp thời tức là Bát nhã ba la mật.
Trong Bát nhã ba la mật không có pháp gì nhập được, xuất được, sanh được,
diệt được.
Giải thuyết như vậy thời gọi là chẳng nói tương tợ Bát nhã ba la mật.
Nhẫn đến nói rộng như vậy trái hẳn với tương tợ, thời gọi là chẳng nói tương
tợ Bát nhã ba la mật.
Nầy Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ phải nghĩa Bát nhã ba la mật như vậy.
Nếu nói nghĩa Bát nhã ba la mật như vậy, thời được công đức hơn trước.
Nầy Kiều Thi Ca! Nếu có người giáo hóa tất ca chúng sanh trong Diêm Phù Đề,
trong tứ thiên hạ, trong Tiểu thiên thế giới, trong Trung thiên thế giới, trong
Đại thiên thế giới, nhẫn đến giáo hóa tất cả chúng sanh trong hằng sa quốc độ
mười phương đều được quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán,
quả Bích Chi Phật.
Ngài nghĩ thế nào, người nầy được phước nhiều chăng?”
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Người nầy được phước rất nhiều”.
Đức Phật nói: “Vẫn không bằng thiện nam, thiện nữ đem nghĩa Bát nhã ba la mật
nầy, dùng nhiều nhơn duyên vì người khác giải thuyết, khai thị, phân biệt cho họ
hiểu biết. Bảo rằng các người đến lãnh thọ Bát nhã ba la mật nầy, siêng đọc
siêng tụng, gảii thuyết, chánh ức niệm. Thật hành đúng như trong Bát nhã ba la
mật đây nói.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật xuất sanh hàng Tu Đà Hoàn đến đạo
Bích Chi Phật vậy.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ giáo hóa chúng sanh trong một Diêm
Phù Đề nhẫn đến giáo chúng sanh trong hằng sa quốc độ mười phương, làm cho phát
tâm Bồ đề nhẫn đến làm cho được bực bất thối chuyển, dầu được phước rất nhiều,
nhưng vẫn không bằng người đem Bát nhã ba la mật giảng thuyết cho người khác,
dùng những nhơn duyên khái thị, phân biệt cho họ được hiểu biết, bảo họ tu hành
đúng như lời dạy trong Bát nhã ba la mật, sẽ được nhứt thiết trí và Vô thượng Bồ
đề.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật xuất sanh những đại Bồ Tát sơ phát
tâm, nhẫn đến xuất sanh những đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Chúng sanh trong một Diêm Phù Đề nhẫn đến trong hằng sa
thế giới mười phương phát tâm cầu Vô thượng Bồ đề. Nếu có thiện nam, thiện nữ vì
họ mà giảng rộng nghĩa Bát nhã ba la mật và khai thị, phân biệt cho họ được hiểu
biết.
Có người vì một Bồ Tát bất thối chuyển mà diễn thuyết Bát nhã ba la mật và
khai thị, phân biệt cho được hiểu biết, người nầy được phước rất nhiều.
Lại Nầy Kiều Thi Ca! Nếu có chúng sanh tong một Diêm Phù Đề nhẫn đến trong
hằng sa thế giới mười phương đều được bực bất thối chuyển. Có thiện nam, thiện
nữ đem Bát nhã ba la mật giảng giải ý nghĩa cho những bực nầy. Trong đây có một
Bồ Tát muốn mau chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có người đem Bát nhã ba la mật giảng
giải ý nghĩa cho Bồ Tát nầy, thời được phước nhiều hơn hết”.
Thiên Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Như đại Bồ Tát càng gần đến Vô thượng Bồ
đề, lại càng nên giáo hóa thật hành sáu ba la mật, càng nên giáo hóa thật hành
nội không đến vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng. Lại
nên cúng dường y phục, ngọa cụ, ẩm thực, y dược, tùy theo chỗ cần dùng mà cung
cấp.
Thiện nam, thiện nữ pháp thí và tài thí cúng dường đại Bồ Tát nầy thời được
công đức. Vì đại Bồ Tát nầy mau thành Vô thượng Bồ đề vậy”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Lành thay, lành thay! Nầy Kiều Thi Ca! Ngài vì thánh đệ
tử mà an ủy chư đại Bồ Tát vì Vô thượng Bồ đề, nên đem pháp thí, tài thì làm lợi
ích, theo lẽ thời phải như vậy.
Tại sao thế? Vì trong hàng Bồ Tát xuất sanh chư Phật thánh chúng.
Nếu Bồ Tát chẳng pháp tâm Vô thượng Bồ đề, thời Bồ Tát nầy chẳng thể học sáu
ba la mật đến mười tám pháp bất cộng, chẳng thể được Vô thượng Bồ đề.
Nếu chẳng thể được Vô thượng Bồ đề, thời không có Thanh văn và Bích Chi Phật.
Nầy Kiều Thi Ca! Vì thế nên chư đại Bồ Tát học sáu ba la mật đến mười tám
pháp bất cộng.
Do học sáu ba la mật đến mười tám pháp bất cộng mà được Vô thượng Bồ đề.
Do được Vô thượng Bồ đề nên dứt diệt ba ác đạo Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh.
Thế gian bèn có những dòng hào tộc, bèn có các cõi trời từ Tứ Vương Thiên đến
Phi Phi Tưởng Thiên, bèn có Đàn na ba la mật, bèn có nội không đến vô pháp hữu
pháp không, bèn có tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng, bèn có Thanh văn thừa,
Bích Chi Phật thừa và Phật thừa đều xuất hiện thế gian”.