KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT
Hán Dịch: Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Viện Phật Học Phổ Hiền Xuất Bản PL. 2530 DL 1986 (Trọn Bộ 3 Tập)
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành P.L 2539 DL. 1995
QUYỂN THỨ MƯỜI CHÍN
PHẨM MỘNG HÀNH
THỨ NĂM MƯƠI TÁM
Lúc đó Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài Tu Bồ Đề: “Nếu
đại Bồ Tát lúc chiêm bao nhập ba tam muội: không, vô tướng và vô tác tam muội,
chừng có lợi ích nơi Bát nhã ba la mật chăng?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Nếu lúc ban ngày, đại Bồ Tát nhập ba tam muội có lợi ích
nơi Bát nhã ba la mật thì ban đên trong chiêm bao cũng sẽ có lợi ích. Tại sao
vậy? Vì ngày, đêm chiêm bao đồng nhau không khác.
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Nếu bna ngày đại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật có lợi
ích Bát nhã ba la mật thì trong chiêm bao, hành Bát nhã ba la mật cũng phải có
lợi ích”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài Tu Bồ Đề: “Trong chiêm bao, đại Bồ Tát hành động
tác nghiệp, những nghiệp đó có hợp thành chăng? Cứ như lời Đức Phật dạy thì tất
cả pháp như chiêm bao, vì thế chẳng nên có hợp thành. Tại sao vậy? Vì trong
chiêm bao không có pháp hợp thành, lúc thức nhớ tưởng, phân biệt mới nên có hợp
thành”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Nếu người trong chiêm bao giết chết chúng sanh, khi thức
dậy nghĩ nhớ, phân biệt hành động đó: tôi giết như thế được lắm!
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Sự việc đó như thế nào?”
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Không có cảnh duyên thì nghiệp chẳng sanh, không có
cảnh duyên thì tư chẳng sanh. Có duyên thì nghiệp sanh, có duyên thì tư sanh.
Tâm phát sanh ở trong kiến văn, giác tri, chớ tâm chẳng sanh từ nơi chẳng có
kiến văn, giác tri.
Trong đây có tâm tịnh, có cấu. Thế nên vì có cảnh duyên mà nghiệp sanh,
nghiệp chẳng sanh nơi không có duyên. Vì có cảnh duyên mà tư sanh, tư chẳng sanh
nơi không có duyên”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Như lời Đức Phật nói: Tất cả nghiệp, tất cả tư đều là
tự tướng ly, sao lại bảo rằng vì có duyên nên nghiệp sanh, không duên thì nghiệp
chẳng sanh. Vì có duyên nên tư sanh, không duyên thì tư sanh chẳng sanh?”
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Vì nắm lấy tướng nên có duyên thì nghiệp sanh, không
duyên thì chẳng sanh. Vì nắm lấy tướng nên có duyên thì tư sanh, không duyên thì
chẳng sanh”.
Ngài Xá Lợi Phất nói: “Nếu đại Bồ Tát trong chiêm bao bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, đem thiện căn phước đức nầy hồi hướng Vô
thượng Bồ đề. Đây có phải là thiệt hồi hướng chăng?”
Ngài Tu Bồ Đề! Nói: “Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Hiện đây có Di Lăc Bồ Tát đã được
Đức Phật thọ ký bất thối chuyển, sẽ thành Phật, Ngài nên hỏi Di Lặc Bồ Tát sẽ
giải đáp”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài Di Lặc Bồ Tát: “Thưa Ngài Tu Bồ Đề vừa bảo rằng
hiện đây có Di Lặc Bồ Tát đã được Đức Phật thọ ký bực bất thối chuyển, sẽ thành
Phật. Ngài Di Lặc Bồ Tát sẽ giải đáp”.
Di Lặc Bồ Tát bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Sẽ dùng danh từ Di Lặc để đáp chăng?
Hoặc là sắc, thọ, tưởng, hành, thức để đáp chăng? Hoặc dùng sắc, thọ, tưởng,
hành, thức không để đáp chăng?
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức chẳng thể đáp được. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức
không chẳng thể đáp được. Tôi chẳng thấy pháp ấy có thể đáp được, cũng chẳng
thấy ai hay đáp được. Tôi chẳng thấy người ấy được thọ ký, cũng chẳng thấy pháp
có thể thọ ký, chẳng thấy nơi chỗ thọ ký.
Tất cả các pháp ấy đều không hai, không khác”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Như lời của Ngài nói đó, là được pháp tác chứng
chăng?”
Ngài Di Lặc Bồ Tát nói: “Như pháp của tôi nói đó, như vậy chẳng chứng”.
Lúc đó Ngài Xá Lợi Phất nghĩ rằng: Di Lặc Bồ Tát có trí huệ sâu xa, từ lâu đã
thật hành sáu ba la mật, vì dùng vô sở đắc nên hay nói như vậy.
Bấy giờ Đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Ngươi dùng pháp ấy được A La Hán,
ngươi có thấy pháp ấy chăng?”
Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Chẳng thấy”.
Đức Phật dạy: “Nầy Xá Lợi Phất Đại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật cũng như
vậy, chẳng nghĩ rằng pháp ấy sẽ được thọ ký, pháp ấy đã được thọ ký, pháp ấy sẽ
được Vô thượng Bồ đề.
Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật chẳng nghi ngờ rằng tôi
được hay chẳng được mà tự biết mình thiệt được Vô thượng Bồ đề.
Đức Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Có đại Bồ Tát lúc hành bố thí ba la mật, hoặc
thầy chúng sanh đói rét, y phục rách rưới, phát nguyện rằng: Trong thời gian tôi
hành bố thí ba la mật đó, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước
tôi không có sự đói rét như vậy. Những đồ dùng, đồ uống ăn, y phục, như cõi Trời
Tứ Thiên Vương, Trời Đao Lợi, Trời Dạ Ma, Trời Đâu Suất, Trời Hóa Lạc, Trời Tha
Hóa Tự tại.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ bố thí ba la mật,
gần kề Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành trì giới ba la mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh sát
sanh, trộm cướp nhẫn đến tà kiến, bị chết yểu, nhiều bịnh, xấu tướng, thiếu oai
đức, nghèo hèn, tàn tật, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành Trì giới
ba la mật đây, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có
nghiệp ác và báo xấu như vậy.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ Trì giới ba la
mật, gần kề Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành Nhẫn nhục ba la mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh
giận thù, mắng nhiếc, đánh đập, tàn sát lẫn nhau, phải phát nguyện rằng: Theo
thời gian tôi hành Nhẫn nhục ba la mật đây, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng
sanh trong cõi nước tôi không có những sự đó, tất cả đều xem nhau như cha, như
mẹ, như anh chị em, như thiện tri thức, đều có lòng từ bi.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ Nhẫn nhục ba la
mật, gần kề Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc thật hành Tinh tấn ba la mật, đại Bồ Tát thấy chúng
sanh lười biếng, chẳng siêng tu pháp lành, rời bả ba thừa Thanh Văn, Bích Chi
Phật, Phật thừ, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành Tinh tấn ba la
mật, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có sự như
vậy, tất cả đều siêng tu tinh tất, đều được đắc độ nơi pháp Tam thừa.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ Tinh tấn ba la mật,
gần kề Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành Thiền ba la mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh bị ngũ
cái che trùm: dâm dục, ngủ nghỉ, điệu hối, nghi ngờ, mất thiền, mất định, mất vô
lượng tâm, phái phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi tu Thiền ba la mật, nguyện
lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi đều không có sự như vậy.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ Thiền ba la mật, gần
kề Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh ngu
si, mất chánh kiến thế gian, xuất thế gian hoặc cho rằng không nghiệp, không
nhơn duyên nghiệp, hoặc cho rằng thân là thường còn, hoặc cho rằng đoạn diệt,
hoặc nói là vô sở hữu, phải phát nguyện rằng: Theo tời gian tôi hành Bát nhã ba
la mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật,
chúng sanh trong cõi nước tôi không có sự như vậy.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ Bát nhã ba la mật,
gần kề Vô thượng Bồ đề.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành sáu ba la mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh antrụ
nơi ba tụ: một là chánh định tụ, hai là tà định tụ, ba là bất định tụ, phải phát
nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành lục ba la mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu
chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật. chúng sanh trong cõi nước tôi không có tà
định tụ, cũng không có danh từ tà tụ.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần kề
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc thật hành sáu ba la mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh Địa
ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu ba
la mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật,
trong cõi nước tôi không có ba ác đạo, cũng không có danh từ ba ác đạo.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
kề nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành sáu ba la mật, đại Bồ Tát thấy mặt đất gai chông,
hầm hố, gò mương rãnh nhơ uế, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu
Ba la mật, nguyện lúc tôi thành Phật, cõi nước tôi không có như vậy, mặt đất
bằng phẳng như bàn tay.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành tư như vậy có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
kề nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành sáu ba la mật, đại Bồ Tát thấy cõi nầy thuần đất,
phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu Ba la mật, nguyện lúc tôi
thành Phật, cõi nước tôi toàn vàng ròng làm cát trải khắp.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần kề
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành sáu ba la mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh luyến
trước, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu Ba la mật, nguyện lúc
tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có luyến trước như vậy.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần kề
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc thật hành sáu ba la mật, đại Bồ Tát thấy bốn giai cấp
trong chúng sanh: Sát Đế Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà La, phải phát nguyện
rằng: Theo thời gian tôi hành sáu Ba la mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng
sanh, nguyện lúc tôi thành Phật, trong cõi nước tôi không có danh từ bốn giai
cấp.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần Vô
thượng Bồ đề.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành sáu ba la mật, đại Bồ Tát thấy chúng sanh có những
hạng hạm trung, thượng, có nhà hạ, trung, thượng, phải phát nguyện rằng: Theo
thời gian tôi hành sáu Ba la mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh,
nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi không có ưu liệt như
vậy.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh có thân
hình dị biệt, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu Ba la mật, tịnh
Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong
cõi nước tôi không có thân hình biệt dị nhau, tất cả đều xinh đẹp, đoan trang,
sạch sẽ, đầy đủ tướng mạo.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh có chúa
có tôi, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu Ba la mật, tịnh Phật
quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật, cõi nước tôi không có
danh từ chúa tôi, cũng không có hình tượng dị biệt, chỉ trừ Đức Phật Pháp vương.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy, thì có thể đầy đủ sáu ba la mật,
gần nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh chia ra
sáu loài khác nhau, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu Ba la
mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật, cõi
nước tôi không có sáu loài, cũng không có danh từ sáu loài: Địa ngục, Ngạ quỷ,
Súc sanh, Nhơn loại, Chư Thần, chư Thiên, tất cả chúng sanh trong nước tôi đều
đồng tu hành tứ niệm xứ đến bát thánh đạo.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh có bốn
loài: noãn, thai, thấp và hóa sanh, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi
hành sáu Ba la mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi
thành Phật, trong cõi nước tôi tất cả chúng sanh chỉ có hóa sanh mà không ba thứ
sanh kia.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh không có
ngũ thần thông, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu Ba la mật,
tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật, tất cả chúng
sanh trong cõi nước tôi đều được ngũ thần thông.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh đại tiểu
tiện ô uế, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu Ba la mật, tịnh
Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật, tất cả chúng sanh
trong cõi nước tôi đều dùng pháp hỉ làm sự ăn, trọn không có đại tiểu tiện ô uế.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh không có
quang minh, phải phát nguyện rằng: Theo thời gian tôi hành sáu Ba la mật, tịnh
Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, nguyện lúc tôi thành Phật, tất cả chúng sanh
trong cõi nước tôi thân thể đều có ánh sáng.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy có thời tiết giờ
ngày, tháng, năm, phải phát nguyện rằng: Lúc tôi thành Phật, cõi nước tôi không
co danh từ giờ, ngày, tháng, năm.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh yếu
mạng, phải phát nguyện rằng: Lúc tôi thành Phật, tất cả chúng sanh trong cõi
nước tôi đều sống lâu vô lượng kiếp.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh không có
tướng hảo, phải phát nguyện rằng: Lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước
tôi đều đầy đủ ba mươi hai tướng hảo.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh rời lìa
thiện căn, phải phát nguyện rằng: Lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước
tôi đều thành tựu thiện căn, do phước đức ấy mà có thể cúng dường chư Phật mười
phương.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh có ba
độc, bốn định, phải phát nguyện rằng: Lúc tôi thành Phật, tất cả chúng sanh
trong cõi nước tôi không có bốn bịnh hàn, nhiệt, phong, đàm, không có ba độc
tham, sân, si.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh có ba
thừa, phải phát nguyện rằng: Lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước tôi
không có danh tự hai thừa, chỉ có thuần một thừa.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát hành sáu ba la mật, thấy chúng sanh có tăng
thượng mạn, phải phát nguyện rằng: Lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong cõi nước
tôi không có danh từ tăng thượng mạn.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, nghĩ quang minh, thọ
mạng của tôi hữu lượng số tăng thêm hữu hạn, phải phát nguyện rằng: Lúc tôi
thành Phật, quang minh, thọ mạng vô lượng số tăng thêm vô hạn.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc hành sáu ba la mật, phải phát nguyện rằng:
Theo thời gian tôi hành sáu ba la mật, tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh,
nguyện lúc tôi thành Phật, cõi nước tôi hằng sa quốc độ của chư Phật.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.
Lại nầy Tu Bồ Đề! Lúc hành sáu ba la mật, đại Bồ Tát nên nghĩ rằng dầu đường
sanh tử dài, chúng sanh tánh nhiều, nhưng bờ sanh tử như hư không, bờ chúng sanh
tánh cũng như hư không. Trong đó thiệt không có sanh tử qua lại, cũng không có
ai giải thoát.
Nầy Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tu hành như vậy thì có thể đầy đủ sáu ba la mật, gần
nhứt thiết chủng trí.