KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT
Hán Dịch: Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Viện Phật Học Phổ Hiền Xuất Bản PL. 2530 DL 1986 (Trọn Bộ 3 Tập)
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành P.L 2539 DL. 1995
QUYỂN THỨ HAI MƯƠI SÁU
PHẨM LỤC DỤ
THỨ BẢY MƯƠI BẢY
Ngài Tu Bồ Ðề bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Thế
nào là ở trong các pháp vô tướng tự tướng không chẳng phân biệt mà trọn vẹn tu
sáu ba la mật, đó là Thí la ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tiến ba
la mật, Thiền ba la mật và Bát nhã ba la mật?
Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là ở trong pháp không biệt dị mà phân biệt nói
tướng dị biệt?
Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Bát nhã ba la mật nhiếp lấy thí, giới, nhẫn,
tiến và thiền?
Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là hành pháp có tướng biệt dị rồi dùng đạo nhứt
tướng mà đắc quả?”.
Ðức Phật bảo Ngài Tu Bồ Ðề: “Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong năm ấm như
mộng, như hưởng, như ảnh, hư diệm, như huyễn, như hóa mà thật hành bố thí, trì
giới, mà tu nhẫn nhục, tinh tiến, mà nhập thiền định, mà rèn trí huệ, biết năm
ấm này như mộng, như hưởng, như ảnh, như diệm, như huyễn, như hóa, biết năm ấm
vô tướng như mộng cho đến biết năm ấm vô tướng như hóa.
Tại sao? Vì mộng không tự tánh, hưởng, ảnh, diệm, huyễn, hóa đều không tự
tánh. Nếu pháp không tự tánh thì là pháp vô tướng. Nếu pháp vô tướng thì là pháp
nhứt tướng, đó là vô tướng.
Này Tu Bồ Ðề! Do nhơn duyên như vậy nên biết Bồ Tát bố thí vô tướng: người
thí vô tướng, người thọ cũng vô tướng. Có thể biết bố thí như vậy thì hay đầy đủ
Bố thí ba la mật nhẫn đến hay đầy đủ Bát nhã ba la mật, hay đầy đủ tứ niệm xứ
đến bát thánh đạo, hay đầy đủ nội không đến vô pháp hữu pháp không, hay đầy đủ
không, vô tướng, vô tác tam muội, hay đầy đủ bát bội xả, cửu thứ đệ định, năm
thần thông, năm trăm môn đà la ni, hay đầy đủ mười trí lực, bốn vô úy, bốn trí
vô ngại, mười tám pháp bất cộng.
Bồ Tát này an trụ trong pháp báo đắc vô lậu hay quán vô lượng cõi nước phương
Ðông, nhẫn đến bay qua vộ lượng cõi nước mười phương, cúng dường chư Phật và lợi
ích chúng sanh. Chúng sanh nào nên dùng bố thí để nhiếp thì dùng bố thí nhiếp
họ, nên dùng trì giới để nhiếp thì dùng trì giới để dạy họ, nên dùng nhẫn nhục,
tinh tiến, thiền định, trí huệ để nhiếp thì dạy họ nhẫn nhục, tinh tiến, thiền
định, trí huệ, nhẫn đến nên dùng các thứ pháp lành để nhiếp thì dùng các thứ
pháp lành để nhiếp lấy họ.
Bồ Tát này thành tựu tất cả pháp lành như vậy thọ thân thế gian chẳng bị thế
gian sanh tử làm vô tướng, vô tác, vô đắc nhiễm. Do vì chúng sanh nên Bồ Tát ở
trên trời, trong Người thọ sự tôn quý giàu vui, đem sự tôn quý giàu vui này
nhiếp lấy chúng sanh.
Vì Bồ Tát này biết tất cả pháp vô tướng nên biết quả Tu Ðà hoàn mà chẳng an
trụ trong đó, biết quả Tư Ðà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, đạo Bích Chi Phật
mà chẳng an trụ trong đó. Tại sao? Vì Bồ Tát này dùng nhứt thiết chủng trí biết
tất cả pháp rồi sẽ phải được nhứt thiết chủng trí nên chẳng cùng đồng với hàng
Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát biết tất cả pháp vô tướng như vậy rồi biết sáu ba la
mật vô tướng nhẫn đến biết tất cả Phật pháp vô tướng.
Lại nữa, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong năm ấm như mộng, như hưởng,
như ảnh, như diệm, như huyễn, như hóa thì hay đầy đủ Giới ba la mật vô tướng.
Giới này chẳng thiếu, chẳng hư, chẳng tạp, chẳng chấp, là giới vô lậu mà thánh
nhơn khen ngợi vào tám phần thánh đạo. An trụ trong giới này trì tất cả giới, đó
là danh tự giới, tự nhiên giới, luật nghi giới, tác giới, vô tác giới, oai nghi
giới, phi oai nghi giới.
Ðại Bồ Tát này thành tựu các giới chẳng nguyện cầu sanh vào dòng lớn Sát Ðế
Lợi, Bà La Môn, Cư Sĩ, cung chẳng nguyện cầu sanh vào nhà Tiểu Vương hay Chuyển
Luân Thánh Vương, chẳng nguyện cầu sanh các cõi Trời, chẳng nguyện cầu được quả
Thanh Văn, đạo Bích Chi Phật. Tại sao? Vì tất cả pháp vô tướng đó là nhứt tướng,
pháp vô tướng không thể được pháp vô tướng, pháp hữu tướng không thể được pháp
hữu tướng, pháp hữu tướng không thể được pháp vô tướng, pháp vô tướng không thể
được pháp hữu tướng.
Này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát này lúc hành Bát nhã ba la mật như vậy hay đầy đủ Giới
ba la mật mà vào Bồ Tát vị, vào Bồ Tát vị rồi được sanh vô pháp nhẫn, hành đạo
chủng trí, được báo đắc năm thần thông, an trụ năm trăm môn đà la ni, được bốn
trí vô ngại, từ một cõi Phật đến một cõi Phật cúng dường chư Phật, thành tựu
chúng sanh, thanh tịnh Phật độ, dầu vào trong năm đường chúng sanh mà nghiệp báo
sanh tử không làm nhiễm vô tướng, vô tác, vô đắc được.
Này Tu Bồ Ðề! Ví như hóa Chuyển Luân Thánh Vương dầu ngồi, nằm, đi, đứng
chẳng thấy chỗ đến, chẳng thấy chỗ đi, chẳng thấy chỗ đứng, chỗ ngồi, chỗ nằm mà
hay lợi ích chúng sanh, cũng chẳng thấy có chúng sanh. Bồ Tát này cũng như vậy.
Này Tu Bồ Ðề! Ví như Tu Phiến Ða Phật được Vô Thượng Bồ Ðề vì ba thừa mà
chuyển pháp luân, không có ai được thọ ký Bồ Tát, hóa làm Phật rồi xả thọ mạng
nhập vô dư Niết Bàn. Bồ Tát lúc hành Bát nhã ba la mật cũng như vậy, hay đầy đủ
Giới ba la mật. Ðầy đủ Giới ba la mật rồi nhiếp tất cả pháp lành.
Lại nữa, này Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát an trụ trong
năm ấm như mộng, như hưởng, như ảnh như diệm, như huyễn, như hóa, đầy đủ Nhẫn ba
la mật vô tướng.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong hai thứ nhẫn thì có thể đầy đủ Nhẫn ba
la mật, đó là sanh nhẫn và pháp nhẫn. Từ lúc mới phát tâm đến lúc ngồi đạo
tràng, nếu có bất luận chúng sanh nào đến mắng chửi, đánh đập, chém giết Bồ Tát,
Bồ Tát này vì muốn đầy đủ Nhẫn ba la mật nên chẳng sanh lòng giận thù, dầu chỉ
một niệm.
Bồ Tát này suy nghĩ như vầy: Ai mắng ta? Ai đánh ta? Ai chém ta?
Tại sao vậy? Vì Bồ Tát này ở trong tất cả pháp được vô tướng nhẫn, nên chẳng
bao giờ nghĩ rằng người đó mắng ta, hại ta.
Nếu thật hành như vậy, Ðại Bồ Tát hay đầy đủ Nhẫn ba la mật. Do đầy đủ Nhẫn
ba la mật nên được vô sanh pháp nhẫn”.
Ngài Tu Bồ Ðề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là vô sanh pháp nhẫn? Nhẫn này
đoạn dứt những gì và biết những gì?”.
Ðức Phật bảo Ngài tu Bồ Ðề: “Này Tu Bồ Ðề! Ðược pháp nhẫn, nhẫn đến chẳng
sanh mảy may pháp chẳng lành nên gọi là vô sanh pháp nhẫn. Tất cả phiền não sở
đoạn của Bồ Tát đều hết, đó gọi là đoạn dứt. Dùng trí huệ biết tất cả pháp chẳng
sanh, đây gọi là biết”.
- Bạch đức Thế Tôn! Vô sanh pháp nhẫn của hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật cùng
vô sanh pháp nhẫn của Bồ Tát có gì khác nhau?
- Này Tu Bồ Ðề! Hoặc trí hoặc đoạn của Tu Ðà Hoàn gọi là nhẫn của Bồ Tát, hoặc
trí hoặc đoạn của Tư Ðà Hàm gọi là nhẫn của Bồ Tát, hoặc trí hoặc đoạn của A Na
Hàm gọi là nhẫn của Bồ Tát, hoặc trí hoặc đoạn của A La Hán gọi là nhẫn của Bồ
Tát, hoặc trí hoặc đoạn của Bích Chi Phật gọi là nhẫn của Bồ Tát, đó là sai
khác.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát thành tựu nhẫn này hơn cả hàng Thanh Văn, Bích Chi
Phật.
An trụ trong báo đắc vô sanh nhẫn này, Ðại Bồ Tát hành Bồ Tát đạo đầy đủ đạo
chủng trí. Vì đầy đủ đạo chủng trí nên thường chẳng rời lìa ba mươi bảy phẩm trợ
đạo nhẫn đến không, vô tướng, vô tác tam muội, thường chẳng rời lìa năm thần
thông. Vì chẳng rời lìa năm thần thông nên hay thành tựu chúng sanh, thanh tịnh
Phật độ. Thành tựu chúng sanh, thanh tịnh Phật độ xong sẽ được nhứt thiết chủng
trí.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát đầy đủ Nhẫn ba la mật vô tướng như vậy.
Lại nữa, này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát an trụ trong năm ấm vô tướng như mộng, như
hưởng, như ảnh như diệm, như huyễn, như hóa mà thật hành tinh tiến và tâm tinh
tiến.
Do thân tinh tiến mà khởi thần thông. Do khởi thần thông mà đến thế giới mười
phương cúng dường chư Phật, lợi ích chúng sanh. Dùng sức thân tinh tiến mà giáo
hóa chúng sanh cho họ an trụ nơi ba thừa.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật hay đầy đủ Tinh tiến ba la
mật vô tướng như vậy.
Bồ Tát này do tâm tinh tiến, tinh tiến vô lậu của bực thánh mà nhập trong tám
phần thánh đạo, hay đầy đủ Tinh tiến ba la mật. Tinh tiến ba la mật này nhiếp
hết tất cả pháp lành, những là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn,
ngũ lực, thất giác phần, bát thánh đạo, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc
định, bát bội xả, cửu thứ đệ định, mười trí lực, bốn vô úy, bốn trí vô ngại,
mười tám pháp bất cộng. Bồ Tát thật hành những pháp lành trong đây tất phải đầy
đủ nhứt thiết chủng trí.
Ðầy đủ nhứt thiết chủng trí rồi dứt tất cả tập chủng phiền não, đầy đủ ba
mươi hai tướng, thân phóng vô lượng vô đẳng quang minh.
Phóng quang minh rồi chuyển ba lần mười hai hành pháp luân.
Do chuyển pháp luân nên Ðại Thiên thế giới chấn động sáu cách, quang minh
chiếu khắp Ðại Thiên thế giới.
Chúng sanh trong Ðại Thiên thế giới nghe âm thanh thuyết pháp đều được do ba
thừa mà được độ thoát.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong Tinh tiến ba la mật hay lợi ích lớn cho
chúng sanh, hay đầy đủ nhứt thiết chủng trí như vậy.
Lại nữa, này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát an trụ trong năm ấm vô tướng như mộng, như
hưởng, như ảnh như diệm, như huyễn, như hóa, hay đầy đủ Thiền ba la mật.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát nhập sơ thiền nhẫn đến nhập đệ tứ thiền, nhập tứ vô
lượng tâm: từ, bi, hỉ, xả, nhập hư không vô biên xứ nhẫn đến nhập phi tưởng phi
phi tưởng xứ, nhập không tam muội đến nhập vô tướng, vô tác tam muội, nhập điện
quang tam muội, nhập như kim cang tam muội, nhập thánh chánh tam muội. Trừ tam
muội của chư Phật, những tam muội khác, hoặc những tam muội cùng đồng Thanh Văn,
Bích Chi Phật, Bồ Tát này đều chứng, đều nhập. Dầu nhập nhưng cũng chẳng thọ mùi
vị tam muội, cũng chẳng thọ quả tam muội.
Tại sao? Vì Bồ Tát này biết những tam muội ấy không tướng, không tánh sở hữu
thì có đâu lại ở trong pháp không tướng mà thọ mùi vị pháp không tướng mà thọ
mùi vị pháp không tướng, ở trong pháp vô sở hữu mà thọ mùi vị pháp vô sở hữu.
Nếu chẳng thọ mùi vị thì chẳng theo sức của thiền định sanh trời cõi Sắc hay
Vô sắc.
Tại sao? Vì Bồ Tát này chẳng thấy hai cõi ấy, cũng chẳng thấy thiền định ấy,
cũng chẳng thấy người nhập thiền, cũng chẳng thấy ngươi dùng pháp ấy nhập thiền,
chẳng thấy chỗ nhập thiền.
Nếu ở nơi pháp ấy mà chẳng có được. Bấy giờ Bồ Tát liền hay đầy đủ Thiền na
ba la mật vô tướng.
Bồ Tát dùng Thiền na ba la mật vô tướng này có thể vượt hơn bực Thanh Văn,
Bích Chi Phật.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát do đầy đủ Thiền ba la mật vô tướng mà
hay vượt hơn bực Thanh Văn, Bích Chi Phật.
- Này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát này khéo học nội không, khéo học ngoại không, nhẫn đến
khéo học vô pháp hữu pháp không. Nơi các thứ không ấy, không có pháp để làm chỗ
an trụ được, như hoặc là quả Tu Ðà Hoàn, hoặc là quả Tư Ðà Hàm, nhẫn đến nhứt
thiết chủng trí. Những pháp không này cũng không.
Ðại Bồ Tát thật hành những pháp không như vậy hay vào trong bực Bồ Tát.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là bực đại Bồ Tát? Thế nào là chẳng phải bực?
- Này Tu Bồ Ðề! Tất cả sở hữu đắc là chẳng phải bực Bồ Tát. Tất cả vô sở đắc
là bực Bồ Tát.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là hữu sở đắc? Những gì là vô sở đắc?
- Này Tu Bồ Ðề! Sắc là hữu sở đắc, thọ, tưởng, hành, thức là hữu sở đắc.
Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý là hữu sở đắc, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí là
hữu sở đắc. Ðây là chẳng phải bực Bồ Tát.
Này Tu Bồ Ðề! Bực Bồ Tát là các pháp ấy chẳng chỉ bày được, chẳng nói phô
được.
Các pháp nào chẳng chỉ bày được? Ðó là sắc nhẫn đến nhứt thiết chủng trí.
Tại sao?
Này Tu Bồ Ðề! Sắc tánh là chẳng chỉ được, chẳng nói được, nhẫn đến nhứt thiết
chủng trí tánh là chẳng chỉ được, chẳng nói được. Như thế gọi là Bồ Tát.
Bồ Tát vào trong bực Bồ Tát rồi, tất cả thiền định tam muội đầy đủ còn chẳng
theo sức của thiền định để sanh, huống là an trụ trong tham, sân, si, để sanh
khởi những tội nghiệp ư?
Bồ Tát an trụ trong pháp như huyễn lợi ích cho chúng sanh, nhưng cũng chẳng
thấy có chúng sanh, cũng chẳng thấy có huyễn. Nếu tất cả không thấy có được thì
hay thành tựu chúng sanh, thanh tịnh Phật độ.
Này Tu Bồ Ðề! Như thế gọi là Bồ Tát đầy đủ Thiền ba la mật vô tướng hay
chuyển pháp luân, đó là pháp luân không có được.
Lại nữa, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật biết tất cả pháp như
mộng, như hưởng, như ảnh, như diệm, như huyễn, như hóa.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Ðại Bồ Tát biết tất cả pháp như mộng, như
hưởng, như ảnh như diệm, như huyễn, như hóa?
- Này Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát chẳng thấy mộng, chẳng
thấy người thấy mộng, chẳng thấy hưởng, chẳng thấy người nghe hưởng, chẳng thấy
ảnh, chẳng thấy người thấy ảnh, chẳng thấy diệm, chẳng thấy người thấy diệm,
chẳng thấy huyễn, chẳng thấy hóa, chẳng thấy người thấy hóa.
Tại sao? Vì những mộng, hưởng, ảnh, diệm, huyễn và hóa ấy là pháp điển đảo
của kẻ phàm, người ngu vậy.
A La Hán chẳng thấy mộng, chẳng thấy người thấy mộng, nhẫn đến chẳng thấy
hóa, chẳng thấy người thấy hóa.
Bích Chi Phật, Ðại Bồ Tát và chư Phật đều cũng chẳng thấy mộng, chẳng thấy
người thấy mộng, nhẫn đến chẳng thấy hóa, chẳng thấy người thấy hóa.
Tại sao? Vì tất cả pháp không có tánh sở hữu, chẳng sanh, chẳng định.
Nếu là pháp không có tánh sở hữu, chẳng sanh, chẳng định thì thế nào Ðại Bồ
Tát hành Bát nhã ba la mật lại ở trong ấy nắm lấy tướng sanh, tướng định, việc
ấy chẳng phải vậy.
Thiệt vậy, này Tu Bồ Ðề! Hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát chẳng trước chấp nơi sắc
nhẫn đến chẳng trước chấp nơi thức, chẳng trước chấp Dục, Sắc, Vô sắc ba cõi,
chẳng trước chấp các thiền, các giải thoát tam muội, chẳng trước chấp tứ niệm xứ
nhẫn đến bát thánh đạo, chẳng chấp trước không tam muội, vô tướng tam muội, vô
tác tam muội, chẳng chấp trước Ðàn na ba la mật nhẫn đến Bát nhã ba la mật.
Do vì chẳng chấp trước nên hay đầy đủ Bồ Tát sơ địa. Trong sơ địa cũng chẳng
trước chấp.
Tại sao? Vì Bồ Tát này còn chẳng thấy có được địa ấy, huống là sanh lòng
trước chấp! Nhẫn đến thập địa cũng vậy.
Ðại Bồ Tát này hành Bát nhã ba la mật cũng chẳng thấy có được Bát nhã ba la
mật.
Nếu lúc hành Bát nhã ba la mật chẳng thấy có được Bát nhã ba la mật, thì lúc
ấy thấy tất cả pháp đều vào trong Bát nhã ba la mật, cũng chẳng thấy có được các
pháp ấy. Vì các pháp ấy cùng Bát nhã ba la mật không hai, không khác.
Tại sao? Vì các pháp vào trong như, pháp tánh, thiệt tế nên là vô phân biệt.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu các pháp vô tướng, vô phân việt sao lại nói là thiện,
là bất thiện, là hữu lậu, là vô lậu, là thế gian, là xuất thế gian, là hữu vi là
vô vi?
- Này Tu Bồ Ðề! Theo ý ông thế nào? Trong thiệt tướng của các pháp, có pháp
nào nói được là thiện, là bất thiện, nhẫn đến hữu vi, vô vi chăng? Có pháp nào
nói được là quả Tu Ðà Hoàn, nhẫn đến A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Vô Thượng
Bồ Ðề chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Chẳng nói được.
- Này Tu Bồ Ðề! Vì nhơn duyên như vậy nên phải biết tất cả pháp vô tướng, vô
phân biệt, không sanh, không định, chẳng chỉ bày, nói phô được.
Này Tu Bồ Ðề! Ngày trước lúc ta hành Bồ Tát đạo, cũng không có pháp nào có
tánh được hoặc là sắc, hoặc là thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến hoặc là hữu vi
hoặc là vô vi, hoặc là quả Tu Ðà Hoàn nhẫn đến Vô Thượng Bồ Ðề.
Như vậy, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật từ lúc mới phát tâm đến
lúc thành Vô Thượng Bồ Ðề phải khéo học các pháp tánh.
Vì khoa học các pháp tánh nên gọi là đạo Vô Thượng Bồ Ðề.
Hành đạo ấy hay đầy đủ sáu ba la mật, thành tựu chúng sanh, thanh tịnh Phật
độ.
An trụ trong pháp ấy được Vô Thượng Bồ Ðề, dùng pháp tam thừa độ thoát chúng
sanh, cũng chẳng chấp trước pháp tam thừa.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát dùng pháp vô tướng phải học Bát nhã ba la mật như
vậy”.