KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT
Hán Dịch: Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Viện Phật Học Phổ Hiền Xuất Bản PL. 2530 DL 1986 (Trọn Bộ 3 Tập)
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành P.L 2539 DL. 1995
|
QUYỂN THỨ HAI MƯƠI TÁM
PHẨM CỤ TÚC
THỨ TÁM MƯƠI MỐT
Ngài Tu Bồ Ðề bạch Đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn!
Nếu Ðại Bồ Tát hành sáu ba la mật, mười tám không, ba mươi bảy pháp trợ đạo,
mười trí lực, bốn vô úy, bốn trí vô ngại, mười tám pháp bất cộng mà chẳng đầy đủ
Bồ Tát đạo, chẳng có thể được Vô Thượng Bồ Ðề, vậy Ðại Bồ Tát phải thế nào để
được Vô Thượng Bồ Ðề?”.
Ðức Phật bảo ngài Tu Bồ Ðề: “Lúc hành Bát nhã ba la mật, nếu Ðại Bồ Tát vì
sức phương tiện nên hành Ðàn na ba la mật: chẳng thấy có bố thí, chẳng thấy có
người thí, chẳng thấy có người thọ, cũng chẳng xa rời các pháp ấy mà hành Ðàn na
ba la mật. Ðây là soi sáng Bồ Tát đạo.
Này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát vì sức phương tiện nên đầy đủ Bồ Tát đạo như vậy. Ðầy đủ
xong thì có thể được Vô Thượng Bồ Ðề.
Trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí huệ nhẫn đến mười tám pháp
bất cộng cũng như vậy”.
Ngài Xá Lợi Phất bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát tu tập Bát nhã ba
la mật thế nào?”
Ðức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Nếu Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật, vì sức
phương tiện nên chẳng phá hoại sắc, chẳng tùy theo sắc. Tại sao? Vì sắc tánh
không, nên chẳng hoại chẳng tùy. Nhẫn đến thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Này Xá Lợi Phất! Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật, vì sức phương tiện nên
hành Ðàn na ba la mật chẳng hoại, chẳng tùy. Tại sao? Vì Ðàn na ba la mật tánh
không, nên chẳng hoại, chẳng tùy. Nhẫn đến mười tám pháp bất cộng cũng như vậy”.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu các pháp không có tự tánh có thể hoại được, có thể
tùy được, thì thế nào Ðại Bồ Tát có thể tu tập Bát nhã ba la mật và các học xứ
của chư Ðại Bồ Tát. Tại sao? Vì Ðại Bồ Tát nếu chẳng học Bát nhã ba la mật thì
chẳng có thể được Vô Thượng Bồ Ðề?
- Này Xá Lợi Phất! Như lời ông nói, Bồ Tát chẳng học Bát nhã ba la mật thì
chẳng có thể được Vô Thượng Bồ Ðề. Vì chẳng rời sức phương tiện nên có thể được.
Này Xá Lợi Phất! Nếu Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật mà có một pháp tánh
khả đắc thì mới nên lấy, còn nếu là bất khả đắc thì sẽ lấy chỗ nào? Những Bát
nhã ba la mật, Thiền na ba la mật, Tinh tiến ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Thi
la ba la mật, Ðàn na ba la mật, sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến Vô Thượng
Bồ Ðề.
Này Xá Lợi Phất! Bát nhã ba la mật ấy chẳng nắm lấy tướng được. Nhẫn đến tất
cả Phật pháp chẳng nắm lấy tướng được.
Này Xá Lợi Phất! Ðó gọi là bất thủ Bát nhã ba la mật nhẫn đến Phật pháp, là
chỗ phải nên học của Ðại Bồ Tát.
Lúc Ðại Bồ Tát học trong ấy, tướng học còn là bất khả đắc huống là Bát nhã ba
la mật, Phật pháp, Bồ Tát pháp, Bích Chi Phật pháp, Thanh Văn pháp, phàm phu
pháp.
Tại sao? Này Xá Lợi Phất! Các pháp không một pháp nào có tánh.
Các pháp không có tánh như vậy thì những gì là phàm phu, là Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà
Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Phật!
Nếu không có các Hiền Thánh ấy thì sao lại có pháp, vì biết pháp ấy nên phân
biệt nói là phàm phu, là Tu Ðà Hoàn nhẫn đến Phật.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu các pháp không có tánh không thiệt, không căn bổn thì
sao lại biết là phàm phu nhẫn đến là Phật?
- Này Xá Lợi Phất! Chỗ nắm lấy phàm phu như sắc v.v… có tánh có thiệt chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không chỉ là do tâm điên đảo thôi.
- Này Xá Lợi Phất! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát vì sức phương tiện,
vì thấy các pháp không có tánh không có căn bổn nên có thể phát tâm Vô Thượng Bồ
Ðề.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát vì sức
phương tiện, vì thấy các pháp không có tánh không có căn bổn nên phát tâm Vô
Thượng Bồ Ðề?
- Này Xá Lợi Phất! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát chẳng thấy các pháp
căn bổn ở trong đó thối mất, sanh lòng giải đãi.
Này Xá Lợi Phất! Nay các pháp căn bổn thiệt không ngã, không có tánh sở hữu,
thường rỗng không. Chỉ vì điên đảo ngu si nên chúng sanh nắm lấy ấm, nhập giới.
Ðại Bồ Tát này lúc thấy các pháp không có tánh sở hữu, thường rỗng không, tự
tướng không, thật hành Bát nhã ba la mật, tự lập mình như nhà ảo thuật mà vì
chúng sanh thuyết pháp.
Với người xan tham, Bồ Tát vì họ nói pháp bố thí. Với người phá giới, nói
pháp trì giới. Với người sân hận, nói pháp nhẫn nhục. Với người giải đãi, nói
pháp tinh tiến. Với người tán loạn, nói pháp Thiền định. Với người ngu si, nói
pháp trí huệ.
Bồ Tát thuyết pháp làm cho chúng sanh an trụ nơi bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tiến, thiền định, trí huệ. Rồi sau đó vì họ mà nói thánh pháp có thể ra
khỏi khổ. Dùng pháp ấy có thể được quả Tu Ðà hoàn nhẫn đến Vô Thượng Bồ Ðề.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát khả đắc chúng sanh vô sở hữu ấy, dạy họ bố thí
nhẫn đến trí huệ rồi sau nói thánh pháp có thể ra khỏi khổ. Vì dùng pháp ấy nên
được quả Tu Ðà hoàn nhẫn đến Vô Thượng Bồ Ðề.
- Này Xá Lợi Phất! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát không có lỗi hữu sở
đắc.
Tại sao? Này Xá Lợi Phất! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát chẳng có
được chúng sanh. Chỉ vì pháp rỗng không tương tục mà gọi là chúng sanh.
Này Xá Lợi Phất! Ðại Bồ Tát an trụ trong hai đế mà vì chúng sanh thuyết pháp,
đó là thế đế nà đệ nhứt nghĩa đế.
Này Xá Lợi Phất! Trong hai đế, dầu chúng sanh bất khả đắc, Ðại Bồ Tát hành
Bát nhã ba la mật vì sức phương tiện nên thuyết pháp cho chúng sanh.
Chúng sanh nghe pháp ấy, đời nay ngô ngã còn là bất khả đắc, huống là người
sẽ được Vô Thượng Bồ Ðề và pháp dùng để tu.
Này Xá Lợi Phất! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát vì sức phương tiện
nên thuyết pháp cho chúng sanh như vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát ấy tâm quảng đại, không có pháp khả đắc, hoặc
là nhứt tướng, hoặc là dị tướng, hoặc là biệt tướng mà có thể đại trang nghiêm
như vậy.
Vì dùng sự trang nghiêm ấy nên chẳng sanh cõi Dục, chẳng sanh cõi Sắc, chẳng
sanh cõi vô sắc.
Bồ Tát ấy chẳng thấy tánh hữu vi, tánh vô vi mà ở trong ba cõ độ thoát chúng
sanh, cũng chẳng có được chúng sanh.
Tại sao? Vì chúng sanh chẳng phược, chẳng giải được. Vì chúng sanh chẳng
phược, chẳng giải nên không cấu, không tịnh. Vì không cấu, không tịnh nên không
phân biệt năm loài. Vì không phân biệt năm loài nên không nghiệp, không phiền
não. Vì không nghiệp, không phiền não thì chẳng nên có quả báo. Vì do quả báo ấy
mà sanh trong ba cõi.
- Ðúng như vậy. Này Xá Lợi Phất! Như lời ông nói, nếu chúng sanh là trước có
sau không thì chư Phật, Bồ Tát có tội lỗi. Các pháp, năm loài sanh tử cũng như
vậy, nếu trước có sau không thì chư Phật, chư Bồ Tát có tội lỗi.
Này Xá Lợi Phất! Nay đây không luận có Phật hay không Phật, các pháp tướng
vẫn trụ không dị biệt.
Trong pháp tướng ấy còn không có ngã, không có chúng sanh, thọ giả nhẫn đến
không có tri giả, kiến giả, huống là có sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Nếu không có những pháp ấy thì thế nào có năm loài qua lại, và chỗ cứu vớt
chúng sanh ra.
Này Xá Lợi Phất! Các pháp ấy, tánh của nó thường không.
Vì thế nên chư Ðại Bồ Tát từ nơi chư Phật quá khứ nghe pháp tướng ấy mà phát
tâm Vô Thượng Bồ Ðề. Trong ấy không có pháp gì để sẽ được, cũng không có chỗ nào
chúng sanh quyết định nắm lấy.
Pháp chẳng thể ra được. Chỉ vì chúng sanh điện đảo nên nắm lấy. Bởi thế mà
Ðại Bồ Tát phát đại trang nghiêm thường chẳng thối chuyển Vô Thượng Bồ Ðề.
Bồ Tát này chẳng nghi ngờ rằng tôi sẽ chẳng được Vô Thượng Bồ Ðề. Chắc chắn
tôi sẽ được Vô Thượng Bồ Ðề. Sau khi được Vô Thượng Bồ Ðề rồi, dùng thiệt pháp
lợi ích chúng sanh cho họ ra khỏi điên đảo.
Này Xá Lợi Phất! Ví như nhà ảo thuật, thuật làm trăm ngàn muôn ức người, những
thứ uống ăn cho no đủ. Những người này vui mừng hô rằng tôi được phước lớn, tôi
được phước lớn.
Ý của ông nghĩ sao, trong đây có người nào ăn uống no đủ chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không.
- Này Xá Lợi Phất! Ðại Bồ Tát từ khi mới phát tâm trở lại, thật hành sáu ba
la mật, tứ thiền, tứ tâm, tứ định, tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám pháp bất cộng,
đầy đủ Bồ Tát đạo, thành tựu chúng sanh, tịnh Phật quốc độ. Nhưng không có pháp
chúng sanh có thể được độ”.
Ngài Tu Bồ Ðề bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Những gì là Bồ Tát đạo ấy có thể
thành tựu chúng sanh, tịnh Phật quốc độ.
- Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát từ lúc mới phát tâm trở lại, hành Bố thí ba la
mật, Trì giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Tinh tiến ba la mật, Thiền định ba
la mật, Bát nhã ba la mật nhẫn đến hành mười tám pháp bất cộng, thành tựu chúng
sanh, tịnh Phật quốc độ.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Ðại Bồ Tát hành Bố thí ba la mật thành tựu
chúng sanh?
- Này Tu Bồ Ðề! Có Ðại Bồ Tát lúc hành Bố Thí ba la mật, tự mình bố thí, cũng
dạy người khác bố thí, bảo họ rằng các người chớ nắm lấy bố thí, nếu nắm lấy bố
thí thì sẽ lại phải thọ thân nữa. Vì phải thọ thân nữa nên phải nhận nhiều sự
khổ. Này các người! Trong các pháp tướng không có bị bố thí, không có người bố
thí, không có kẻ nhận lãnh. Ba thứ ấy đếu tánh rỗng không ấy chẳng thể lấy được.
Tướng không thể lấy được là tánh rỗng không.
Này Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bố thí ba la mật, Ðại Bồ Tát bố thí chúng sanh, trong
ấy chẳng có được bố thí, chẳng có được người thí, chẳng có được kẻ nhận. Tại
sao? Vì vô sở đắc ba la mật gọi là Bố thí ba la mật.
Vì Bồ Tát ấy chẳng có được ba pháp ấy nên c1o thể dạy chúng sanh cho họ được
quả Tu Ðà Hoàn nhẫn đến Vô Thượng Bồ Ðề.
Như vậy, Này Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bố thí ba la mật, Ðại Bồ Tát thành tựu chúng
sanh. Bồ Tát ấy tự mình hành bố thí, cũng dạy người bố thí, khen ngợi pháp bố
thí, vui mừng khen ngợi người bố thí.
Bố thí như vậy xong, Bồ Tát ấy sanh nhà dòng Sát Ðế Lợi, Bà La Môn, Cư Sĩ,
hoặc làm Tiểu Vương, hoặc làm Chuyển Luân Thánh Vương. Bấy giờ dùng bốn việc
nhiếp lấy chúng sanh. Ðó là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
Dùng bốn việc ấy nhiếp lấy chúng sanh rồi, chúng sanh lần lần an trụ nơi
giới, tứ thiền, tứ tâm, tứ định, tứ niệm xứ nhẫn đến bát thánh đạo phần, ba giải
thoát môn, được vào trong chánh vị, được quả Tu Ðà Hoàn nhẫn đến quả A La Hán,
hoặc được đạo Bích Chi Phật. Hoặc dạy cho họ được Vô Thượng Bồ Ðề ấy rất dễ
được. Tại sao? Không có pháp nhứt định làm chỗ chúng sanh nắm lấy được, chỉ vì
điên đảo nên chúng sanh nắm lấy thôi. Vì thế mà các người nên tự mình rời lìa
sanh tử, cũng phải dạy người khác rời lìa sanh tử. Các người phát tâm hay lợi
ích cho mình, cũng sẽ lợi ích người khác.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát phải hành Bố thí ba la mật như vậy.
Do hành bố thí ba la mật mà từ khi mới phát tâm trở lại, Bồ Tát trọn chẳng
đọa ác đạo, thường làm Chuyển Luân Thánh Vương. Tại sao? Vì tùy theo chỗ gieo
giống mà được quả báo lớn vậy.
Lúc Bồ Tát ấy làm Chuyển Luân Thánh Vương thấy có người đến xin nghĩ rằng tôi
chẳng vì việc nàm khác mà thọ ngôi Chuyển Luân Thánh Vương, mà chỉ vì lợi ích
tất cả chúng sanh. Suy nghĩ xong bảo người đến xin rằng đây là vật của nhà
người, nhà ngươi tự lấy đi chớ e dè, ta không tiếc đâu. Ta vì chúng sanh mà thọ
lấy sanh tử, vì thương xót các người mà ta đầy đủ lòng đại bi.
Bồ Tát thật hành đại bi ấy làm lợi ích cho chúng sanh, cũng chẳng được tướng
chúng sanh quyết định thiệt, chỉ giả danh mà có thể gọi là chúng sanh. Danh tự
ấy rỗng không. Như tiếng vang, thiệt chẳng thể nói tướng quyết định được.
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát phải hành Bố thí ba la mật như vậy, ở trong chúng
sanh không tiếc gì cả, nhẫn đến chẳng tiếc da thịt của chính thân mình, huống là
vật ngoài thân. Do pháp này mà có thể cứu vớt chúng sanh ra khỏi sanh tử. Pháp
này là những gì? Ðó là Bố thí ba la mật, Trì giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la
mật, Tinh tiến ba la mật, Bát nhã ba la mật nhẫn đến mười tám pháp bất cộng,
dùng những pháp ấy làm cho chúng sanh từ trong sanh tử được ra khỏi.
Lại Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong Bố thí ba Bố thí ba la mật, Trì
giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Tinh tiến ba la mật, Bát nhã ba la mật nhẫn
đến mười tám pháp bất cộng mật, bố thí xong bảo rằng: Này các người! Các người
đến đây giữ giới, tôi sẽ cung cấp các người không để thiếu hụt. Những đồ uống
ăn, Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý phục, đồ năm, nhẫn đến tất cả đồ cần để sống
tôi sẽ cung cấp đầy đủ đồ dùng cho các người không thiếu hụt, hoặc là món ăn,
thức uống nhẫn đến bảy báu.
Các người an trụ trong giới luật nghi này, lần lần sẽ được hết khổ, nương nơi
ba thừa mà được giải thoát, hoặc Thanh Văn thừa, hoặc Bích Chi Phật thừa, hoặc
Phật thừa.
Lại Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong Bố thí ba la mật, nếu thấy chúng
sanh sân hận thì bảo họ rằng: Này các người! Duyên cớ gì mà các người giận hờn?
Tôi sẽ cấp đồ cần dùng cho các người. Các người muốn vật gì cứ lấy ở nơi tôi,
tôi sẽ cung cấp đầy đủ để các người khỏi thiếu hụt.
Bồ Tát này an trụ trong Bố thí ba la mật dạy chúng sanh nhẫn nhục, bảo họ
rằng: Trong tất cả pháp, không có pháp nào thiệt chắc, chỗ giận của các người là
nhơn duyên rỗng không, chẳng thiệt chắc, đều từ nhớ tưởng, hư vọng mà sanh. Các
người bị cái sân hận không căn bổn phá hoại nơi tâm mà ác khẩu mắng nhiếc, dao
gậy hại nhau, nhẫn đến giết chết. Các người chớ vì pháp hư vọng ấy mà sanh sân
hận không căn bổn phá hoại nơi tâm mà ác khẩu mắng nhiếc, dao gậy hại nhau, nhẫn
đến giết chết. Các người chớ vì pháp hư vọng ấy mà sanh sân hận để rồi phải đọa
trong Ðịa ngục, Súc sanh, Ngạ quỷ, chịu vô lượng khổ. Các người chớ vì những
pháp hư vọng không thiệt mà gậy tội nghiệp. Vì tội nghiệp ấy thì còn chẳng được
thân người, huống là được sanh đời có Phật. Này các người! Ðời có Phật khó gặp,
thân người khó được. Các người chớ để mất dịp tốt. Nếu mất dịp tốt thì chẳng cứu
được.
Ðại Bồ Tát ấy giáo hóa chúng sanh như vậy. Tự mình hành nhẫn nhục, cũng dạy
người khác hành nhẫn nhục, khen ngợi pháp nhẫn nhục, vui mừng khen ngợi người
hành nhẫn nhục.
Bồ Tát ấy làm cho chúng sanh an trụ trong nhẫn nhục, lần lần do tam thừa mà
được hết khổ.
Như vậy, Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ Bố thí ba la mật làm cho chúng sanh
an trụ nhẫn nhục.
Này Tu Bồ Ðề! Thế nào là Ðại Bồ Tát an trụ bố thí ba la mật làm cho chúng
sanh tinh tiến?
Này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát thấy chúng sanh giải đãi, bảo họ rằng: Các người sao lại
giải đãi? Chúng sanh thưa vì nhơn duyên ít. Bồ Tát ấy bảo mọi người rằng tôi sẽ
làm cho các người đầy đủ nhơn duyên: hoặc bố thí, hoặc trì giới, hoặc nhẫn nhục,
những nhơn duyên như vậy làm cho các người đều đầy đủ.
Những chúng sanh ấy được Bồ Tát lợi ích nhơn duyên nên họ được thân tinh
tiến, khẩu tinh tiến, tâm tinh tiến. Vì ba nghiệp tinh tiến nên đầy đủ tất cả
pháp lành, tu pháp thánh vô lậu. Vì tu pháp thánh vô lậu nên được quả Tu Ðà Hoàn
nhẫn đến Vô Thượng Bồ Ðề.
Như vậy, Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát lúc hành Bố thí ba la mật, an trụ Tinh tiến
ba la mật để nhiếp lấy chúng sanh.
Này Tu Bồ Ðề! Thế nào là Ðại Bồ Tát lúc hành Bố thí ba la mật, giáo hóa chúng
sanh khiến họ tu Thiền ba la mật?
Này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát thấy chúng sanh loạn tâm, bảo họ rằng các người nên tu
thiền định. Chúng sanh thưa chúng tôi chẳng đầy đủ nhơn duyên. Bồ Tát bảo ta sẽ
làm cho các người đầy đủ nhơn duyên, để các người tâm chẳng theo giác quán, tâm
chẳng chạy tan. Do đủ nhơn duyên ấy, chúng sanh dứt giác quán, nhập sơ thiền,
nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, hành từ, bi, hỉ, xả. Do thiền và tâm vô lượng ấy
mà chúng sanh có thể tu tứ niệm xứ nhẫn đến bát thánh đạo phần. lúc tu ba mươi
bảy pháp trợ đạo ấy, chúng sanh lần nhập tam thừa mà được Niết Bàn, trọn chẳng
mất đạo.
Này Tu Bồ Ðề! Như vậy, lúc hành Bố thí ba la mật, Ðại Bồ Tát dùng Thiền ba la
mật nhiếp lấy chúng sanh, khiến họ hành Thiền ba la mật.
Này Tu Bồ Ðề! Thế nào là Ðại Bồ Tát hành Bố thí ba la mật, dùng Bát nhã ba la
mật nhiếp lấy chúng sanh?
Này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát thấy chúng sanh ngu si, không trí huệ, bảo họ rằng: Các
người sao không tu trí huệ? Chúng sanh thưa vì không đầy đủ nhơn duyên. Bồ Tát
ấy bảo những nhơn duyên mà các người cần để được đầy đủ trí huệ có thể lấy ở ta,
đó là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định. Khi những nhơn duyên
ấy đã đầy đủ, các ngươi tư duy như vầy: Lúc tư duy Bát nhã ba la mật, có pháp gì
có thể được chăng? Những là ngã, chúng sanh, thọ mạng, nhẫn đến tri giả, kiến
giả có thể được chăng? Những là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, Dục giới, Sắc giới,
Vô sắc giới, sáu ba la mật, ba mươi bảy pháp trợ đạo, quả Tu Ðà Hoàn, quả Tư Ðà
Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, đạo Bích Chi Phật, Vô Thượng Bồ Ðề có thể được
chăng?
Lúc tư duy như vậy, ở trong Bát nhã ba la mật, chúng sanh ấy không có pháp
nào có thể được, có thể nắm lấy.
Nếu chẳng nắm lấy các pháp, nấy giờ chúng sanh ấy chẳng thấy pháp có sanh, có
diệt, có cấu, có tịnh, chẳng phân biệt là Ðịa ngục, là Súc sanh, là Ngạ quỷ, là
A tu la, là Nhơn, là Thiên, là Trì giới, là phá giới, là Tu Ðà Hoàn, là Tư Ðà
Hàm, là A Na Hàm, là A La Hán, là Bích Chi Phật, là Phật.
Như vậy, Này Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bố thí ba la mật, Ðại Bồ Tát dùng Bát nhã ba
la mật nhiếp lấy chúng sanh.
Này Tu Bồ Ðề! Thế nào là Ðại Bồ Tát an trụ trong Bố thí ba la mật, Giới ba la
mật, Nhẫn ba la mật, Tiến ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật nhẫn đến
ba mươi bảy pháp trợ đạo nhiếp lấy chúng sanh?
Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong Bố thí ba la mật, đem đồ cấp dưỡng làm
lợi ích cho chúng sanh. Do nhơn duyên làm lợi ích này, chúng sanh có thể tu tứ
niệm xứ nhẫn đến bát thánh đạo phần. Chúng sanh hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo ấy
được ra khỏi sanh tử.
Như vậy, Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát dùng thánh pháp vô lậu nhiếp lấy chúng sanh.
Lại Này Tu Bồ Ðề! Lúc Ðại Bồ Tát giáo hóa chúng sanh bảo họ rằng: Này các
người! Các người đến nơi ta mà lấy những vật cần dùng, những là đồ uống ăn,
Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý phục, đồ nằm, hương
hoa, nhẫn đến bảy báu. Từ nay các người mãi mãi được lợi ích an vui. Các người
chớ nghĩ rằng những vật này chẳng phải sở hữu của chúng tôi. Từ lâu luôn luôn ta
vì chúng sanh mà tập hợp những vật ấy, các người nên lấy những vật ấy như vật
của mình không khác.
Bồ Tát giáo hóa chúng sanh khiến họ hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tiến, thiền định, trí huệ, nhẫn đến khiến họ được ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười
trí lực nhẫn đến mười tám pháp bất cộng, cũng khiến họ được các pháp vô lậu,
những là quả Tu Ðà Hoàn, quả Tư Ðà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, đạo Bích Chi
Phật, Vô Thượng Bồ Ðề.
Này Tu Bồ Ðề! Như vậy, lúc hành Bố thí ba la mật, Ðại Bồ Tát giáo hóa chúng
sanh cho họ được rời lìa ba ác đạo và tất cả sự khổ sanh tử qua lại.
Lại nữa, Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trì giới ba la mật giáo hóa chúng
sanh, bảo họ rằng: Các người thiếu nhơn duyên gì mà phá giới? Ta sẽ cấp cho các
người để đầy đủ nhơn duyên, những là bố thí, nhẫn đến trí huệ và các thứ vật
dùng để sống.
Ðại Bồ Tát này an trụ Trì giới ba la mật làm lợi ích chúng sanh, khiến họ
hành mười điều lành, xa rời mười điều bất thiện.
Những chúng sanh ấy trì các giới, chẳng phá giới, chẳng tạp giới, chẳng nắm
lấy giới, lần lần do ba thừa mà được hết khổ.
Thi ba la mật làm đầu như Bố thí ba la mật.
Bốn ba la mật kia cũng như vậy”.