KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT
Hán Dịch: Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Viện Phật Học Phổ Hiền Xuất Bản PL. 2530 DL 1986 (Trọn Bộ 3 Tập)
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành P.L 2539 DL. 1995
QUYỂN THỨ HAI MƯƠI CHÍN
PHẨM TỨ ÐẾ
THỨ TÁM MƯƠI BỐN
Ngài Tu Bồ Ðề bạch Đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn!
Nếu các pháp ấy là Bồ Tát pháp thì những gì là Phật pháp?”.
Ðức Phật dạy: “Này Tu Bồ Ðề! Như ông hỏi, những pháp ấy là Bồ Tát pháp thì
những gì là Phật pháp?
Này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát pháp cũng là Phật pháp. Nếu biết nhứt thiết chủng trí là
được nhứt thiết chủng trí, dứt tất cả tập chủng phiền não, Bồ Tát sẽ được pháp
ấy.
Ðức Phật do nhứt niệm tương ứng huệ biết tất cả pháp rồi được Vô Thượng Bồ
Ðề.
Này Tu Bồ Ðề! Ðó là sự khác biệt nơi Đức Phật và Bồ Tát.
Ví như hướng đạo khác với đắc quả. Hai người ấy đều là thánh nhơn mà có hướng
với đắc khác nhau.
Này Tu Bồ Ðề! Người đi trong đạo vô ngại thì gọi là Ðại Bồ Tát.
Trong đạo giải thoát không có tất cả ám chướng thì gọi là Phật”.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp tự tướng rỗng không. Trong pháp tướng
rỗng không ấy, sao lại có sự khác biệt là Ðịa ngục, là Ngạ quỷ, là Súc sanh, là
Nhơn, là Thiên, là bực Càn Huệ, là bực Tánh địa, là bực Bát Nhơn địa, là Tu Ðà
Hoàn, là Tư Ðà Hàm, là A Na Hàm, là A La Hán, là Bích Chi Phật, là Bồ Tát, là
Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Chánh Giác?
Bạch đức Thế Tôn! Như người bất khả đắc, nghiệp nhơn duyên cũng bất khả đắc,
quả báo cũng bất khả đắc.
- Này Tu Bồ Ðề! Ðúng như lời ông nói, trong pháp tự tướng không không có
chúng sanh, không có nghiệp nhơn duyên, không có quả báo.
Này Tu Bồ Ðề! Chúng sanh chẳng biết các pháp tự tướng không. Chúng sanh ấy
gây tạo nghiệp nhơn duyên, hoặc tội, hoặc phước, hoặc bất động.
Do tội nghiệp nhơn duyên mà chúng sanh ấy đọa trong ba ác đạo, do phước
nghiệp nhơn duyên sanh loài người hay cõi Trời Dục Giới, do bất động nghiệp nhơn
duyên sanh trong cõi Sắc hay cõi Vô sắc.
Ðại Bồ Tát ấy lúc hành Ðàn na ba la mật nhẫn đến mười tám pháp bất cộng, thọ
thành hết những phẩm trợ đạo ấy, vào Kim Cang tam muội, được Vô Thượng Bồ Ðề
rồi, làm lợi ích cho chúng sanh.
Vì sự lợi ích ấy thường chẳng mất nên chẳng đọa trong sáu đường sanh tử.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðức Phật được Vô Thượng Bồ Ðề rồi, có được sáu đường sanh
tử chăng?
- Này Tu Bồ Ðề! Ðức Phật không có được sáu đường sanh tử.
- Bạch đức Thế Tôn! Ðức Phật có được nghiệp ác, nghiệp thiện, nghiệp vô ký
chăng?
- Này Tu Bồ Ðề! Không có được.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu không có được, sao Đức Phật lại nói là Ðịa ngục, Ngạ
quỷ, Súc sanh, Nhơn, Thiên; lại nói là Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A La
Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát và chư Phật?
- Này Tu Bồ Ðề! Nếu chúng sanh biết các pháp tự tướng không thì Ðại Bồ Tát
chẳng cầu Vô Thượng Bồ Ðề, cũng chẳng cứu chúng sanh nơi ba ác đạo, nhẫn đến qua
lại trong sáu đường sanh tử.
Này Tu Bồ Ðề! Bởi chúng sanh thiệt chẳng biết các pháp tự tướng không, nên
chẳng thoát được sáu đường sanh tử.
Bồ Tát ấy ở chỗ chư Phật, nghe các pháp tự tướng không, phát tâm cầu Vô
Thượng Bồ Ðề.
Này Tu Bồ Ðề! Các pháp chẳng phải như là của hàng phàm phu chấp trước.
Các chúng sanh ấy ở trong pháp vô sở hữu lại điên đảo vọng tưởng phân biệt có
được pháp:
Không có chúng sanh lại tưởng là có chúng sanh, không có sắc, thọ, tưởng,
hành, thức lại tưởng là có sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhẫn đến tất cả pháp hữu
vi đều vô sở hữu, lại dùng tâm điên đảo vọng tưởng gây tạo các nghiệp: thân,
khẩu, ý rồi qua lại trong sáu đường sanh tử chẳng thoát được.
Ðại Bồ Tát lúc hành Bát nhã ba la mật, tất cả pháp lành đều nhiếp vào trong
Bát nhã ba la mật, hành Bồ Tát đạo, được Vô Thượng Bồ Ðề.
Ðược Vô Thượng Bồ Ðề rồi vì chúng sanh mà thuyết pháp tứ thánh đế: khổ thánh
đế, khổ tập thánh đế, khổ diệt thánh đế, khổ diệt đạo thánh đế. Khai thị rành rẽ
tất cả pháp lành trợ đạo đều nhiếp vào trong bốn thánh đế.
Vì dùng pháp lành trợ đạo ấy nên phân biệt có Tam Bảo là: Phật bảo, Pháp bảo
và Tăng Bảo.
Vì chẳng tin và nghịch chống Tam Bảo ấy nên chẳng rời lìa được sáu đường sanh
tử.
- Bạch đức Thế Tôn! Có phải là dùng khổ thánh đế được độ, dùng khổ trí được
độ, dùng tập thánh đế được độ, dùng tập trí được độ, dùng diệt thánh đế được độ,
dùng diệt trí được độ, dùng đạo thánh đế được độ, dùng đạo trí được độ chăng?
- Này Tu Bồ Ðề! Chẳng phải khổ Thánh đế bình đẳng, nên ta nói tức là Niết
Bàn. Chẳng dùng khổ Thánh đế nhẫn đến chẳng dùng đạo thánh đế, cũng chẳng dùng
khổ trí nhẫn đến chẳng dùng đạo trí được Niết Bàn.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là tướng bình đẳng của bốn thánh đế?
- Này Tu Bồ Ðề! Nếu là không có khổ, không có khổ trí, không có tập, không có
tập trí, không có diệt, không có diệt trí, không có đạo, không có đạo trí thì
gọi là tướng bình đẳng của tứ thánh đế.
Lại nữa, Này Tu Bồ Ðề! Bốn thánh đế như chẳng khác với pháp tướng, pháp tánh,
pháp trụ, pháp vị, thiệt tế.
Có Phật hay không có Phật, pháp tướng vẫn thường trụ. Tại sao? Vì chẳng hư,
chẳng mất vậy.
Ðại Bồ Tát ấy lúc hành Bát nhã ba la mật.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Ðại Bồ Tát vì thông đạt thiệt tế nên hành Bát
nhã ba la mật? Như vì thông đạt thiệt tế nên chẳng đọa Thanh Văn địa, Bích Chi
Phật địa mà thẳng vào Bồ Tát vị.
- Này Tu Bồ Ðề! Nếu Ðại Bồ Tát như thiệt thấy các pháp. Thấy rồi được pháp vô sở
hữu. Ðược pháp vô sở hữu rồi thấy tất cả pháp không đều nhiếp nơi tứ thánh đế.
Những pháp chẳng nhiếp nới tứ thánh đế cũng đều không.
Nếu xem thấy như vậy, lúc ấy Ðại Bồ Tát bèn vào trong Bồ Tát vị. Ðó là Bồ Tát
an trụ trong tánh địa chẳng theo đảnh đọa. Tại sao? Vì dùng đảnh đọa ấy thì đọa
vào Thanh Văn địa, Bích Chi Phật địa.
Bồ Tát ấy an trụ trong tánh địa hay phát sanh bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn
vô sắc định.
Bồ Tát ấy an trụ trong sơ định địa, phân biệt tất cả các thông đạt bốn thánh
đế: biết khổ, chẳng móng tâm duyên khổ, nhẫn đến biết đạo, chẳng móng tâm duyên
đạo, chỉ thuận theo tâm Vô Thượng Bồ Ðề mà quán các pháp như thiệt tướng.
- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là quán các pháp tướng như thiệt?
- Này Tu Bồ Ðề! Là quán các pháp không.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là quán không?
- Này Tu Bồ Ðề! Là tự tướng không. Bồ Tát ấy dùng trí huệ như vậy quán tất cả
pháp không, không có pháp tánh có thể thấy được. An trụ trong pháp tánh ấy được
Vô Thượng Bồ Ðề.
Tại sao vậy?
Vì tướng vô tánh là Vô Thượng Bồ Ðề.
Tướng vô tánh ấy chẳng phải chư Phật làm ra, chẳng phải Bích Chi Phật làm ra,
chẳng phải A La Hán làm ra, cũng chẳng phải bực hướng đạo làm ra, cũng chẳng
phải bực đắc quả làm ra, cũng chẳng phải Bồ Tát làm ra. Chỉ vì chúng sanh chẳng
biết, chẳng thấy các pháp như thiệt tướng, nên Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la
mật, dùng sức phương tiện mà vì chúng sanh thuyết pháp”.