KINH DUY-MA-CẬT SỞ THUYẾT
VIMALAKĪRTINIRDEŚA-SŪTRA
Bản Dịch Việt: Tuệ Sỹ
BAN TU THƯ PHẬT HỌC
2546 - Nhâm Ngọ
TỰA CỦA TĂNG TRIỆU
Duy-ma-cật bất tư nghị kinh, đấy là tên gọi chỉ
cho chỗ tuyệt diệu tận cùng của huyền vi tạo hoá. Ý chỉ của nó u huyền như vực
thẳm, không thể thăm dò bằng ngôn tượng. Đạo lý ấy siêu việt ba không, không
phải là chỗ luận nghị của Nhị thừa. Khi biểu lộ thì vượt lên trên quần số; là
cảnh giới dứt tuyệt hữu tâm. Mịt mờ vô vi mà không gì là không tác vi. Không dễ
gì biết vì sao như nhiên, mà vẫn có thể như nhiên. Đấy là chỗ bất tư nghị.
Sao vậy?
Thưa, Thấnh trí vốn vô tri, mà muôn vàn phẩm loại đều được soi tỏ. Pháp thân
vốn vô tượng, nhưng lại ứng hiện theo từng hình tướng đặc thù. Vần điệu chí cao
thì vẫn không lời, mà thư tịch huyền vi khắp nơi quảng bá. Thiện quyền bí ẩn thì
không toan tính, mà động tĩnh thảy tương ưng sự thể. Do vậy mà có thể cứu vớt
tổng thể quần sinh, phơi bày vật để hoàn thành trách vụ. Lợi, được thấy khăp
thiên hạ, với ta thì vô vi; kẻ mê hoặc trông thấy mà cảm được ánh chiếu. Nhân đó
gọi là Trí. Quán, ứng theo hình, thì gọi là Thân; liếc nhìn thư tịch huyền vi,
bèn bảo đó là Ngôn. Thấy sự biến động mà bảo đó là Quyền. Thế thì, chỗ chí cực
của Đạo, há có thể bằng Hình, Ngôn, Quyền, Trí, mà nói lên được cảnh vực thần
diệu của nó sao?
Vả, chúng sinh mãi ngủ vùi, phi ngôn thì lấy gì để đanh thức? Đạo không
vận chuyển đơn côi. Đạo hoằng do người. Cho nên, Như Lai sai Văn-thù nơi phương
khác; triệu Duy-ma từ quốc độ kia; cùng tụ hội Tỳ-da-ly để chung truyền Đạo ấy.
Điểm thuyết minh của Kinh này, để thống hợp vạn hạnh, thì lấy quyền trí
làm chủ; trồng cội đức, thì lấy sáu độ làm rễ; cứu vớt kẻ ngu khờ mê hoặc thì
lấy từ bi làm đầu. Cực điểm của ngữ tông, thì lấy bất nhị làm cửa. Chúng thuyết
này đều là gốc của bất tư nghị vậy.
Cho đến như, mượn tòa của Phật Đăng Minh; xin cơm từ Hương thổ; tay đón
căn nhà đại thiên bao trùm cả vũ trụ. Đấy là dấu tích của bất tư nghị vậy. Không
dấu tích, không sao hiển bày bản nguyên. Bản và tích tuy sai thù, mà là Nhất thể
bất tư nghị vậy. Do đó, sai thị giả nêu đó làm tiêu danh.
Đấng Thiên vương của nước Đại Tần vốn thần minh tuấn kiệt, siêu việt thế
thường, tầm huyền vi riêng minh tỏ ngộ. Mở rông nền thống trị chí tôn trên cả
vạn cơ; hiển dương Đạo hoá truyền xuống nghìn đời sau. Rồi mkối khi tìm đến
thưởng ngoạn kinh điển này, cho rằng đây là am thất cho tinh thần trú ngụ. Nhưng
tiếc vì bản dịch của Chi Khiêm để cho lý bị nghẽn bởi văn, thường sợ tông chỉ
huyền vi rơi mất vì người dịch.
Vận của Trời cõi bắc mà được vận chuyển thông suốt là có lý do vậy. Vào
niên hiệu Hoăng thỉ thứ 8, tuế thứ thuần hỏa (AD. 406), mệnh sai Đại tướng quân
Thường sơn công, Hữu tướng quân An Thành Hầu, cùng với 1 200 Sa-môn nghĩa học,
tại Trường an Đại tự, thỉnh La-thập trùng dịch chính bản.
Thập, bằng cái lượng cao hơn đời, tâm mờ chân cảnh, đã suốt hết trong cõi
tuần hoàn, lại rành các địa phương ngữ. Khi ấy, tay cầm Phạn bản, miệng tự tuyên
dịch. Kẻ tục, người đâo chăm chăm. Một lời, lặp lại ba lần. Hun đúc thành tinh
vi, cốt cầu giữ cho được ý Thánh. Văn giản dị mà hài hoà. Ý chỉ uyển chuyển mà
rõ ràng. Ngôn từ vi ẩn sâu xa thật là sáng tỏ. Tôi vào cái tuổi còn kém trí, mà
may được dự nghe. Tuy tư duy chưa vươn tới lẽ huyền, nhưng cũng có thể ghiểu
được ý văn một cách sơ lược. Rồi theo chõ được nghe mà làm chú giải, tóm tăt
ghi thành lưòi. Chỉ thuật chớ không phải sáng