 |
TÍCH TRUYỆN PHÁP CÚ
Thiền Viện Viên Chiếu
Nguyên Tác: "Buddhist Legends", Eugène Watson Burlingame
|
MỤC LỤC TỔNG QUÁT
| Lời Nói Ðầu
|
| Dẫn Nhập
|
|
| Phẩm
I: Song Yếu |
|
| 01. Nếu Con Mắt Ngươi Làm Hại Ngươi, Hãy Móc Bỏ Nó Ði |
08. Những Ðại Ðệ Tử |
| 02. Khóc Ðòi Những Chuyện Trên Trời |
09. Trưởng Lão Nan-đà |
| 03. Chàng Mập Tissa |
10. Cunda - Ðồ Tể Mổ Heo |
| 04. Không Lấy Oán Trả Oán |
11. Cư Sĩ Hiền Thiện |
| 05. Những Vị Tỳ-kheo Hay Cãi Cọ Xứ Câu-thâm (Kosambi) |
12. Nghiệp Của Ðề-bà-đạt-đa |
| 06.
Kala Anh Và Kala em |
13.
Bà Sumanà |
| 07. Ðề-bà-đạt-đa Ðắp Y Không Tương Xứng. |
14. Chuyện Hai Huynh Ðệ |
|
| Phẩm
II: Không Phóng Dật |
|
| 1. Những Chuyện Luân Hồi Quanh Vua Udena |
5. Ðại Ca-diếp |
| 2. Tiếng Nói Của Một Người Giàu |
6. Hai Huynh Ðệ |
| 3. Châu-lợi-bàn-đặc |
7. Magha Trở Thành Trời Sakka |
| 4. Ngày Lễ Của Kẻ Ngu |
8. Một Tỳ-kheo Chứng A-la-hán |
| 9. Tissa ở Phố Chợ |
|
| Phẩm
III: Tâm |
|
| 1. Trưởng Lão Meghiya |
5. Trưởng Lão Tâm Ðược Ðiều Phục |
| 2. Người Ðọc Ðược Tâm |
6. Tỳ-kheo Và Thần Cây |
| 3. Một Tỳ-kheo Bất Mãn |
7. Vì Bạo ác Nổi Mụn Nhọt |
| 4. Tăng Hộ Cháu |
8. Nanda Chăn Bò |
| 9. Vừa Là Mẹ Vừa Là Cha |
|
| Phẩm
IV: Hoa |
|
| 01. Ðất Của Tâm |
07.
Vua Và Vua Các Vua. |
| 02. Một Tỳ-kheo Chứng A-la-hán |
08. Ðám Cưới Bà Tỳ-xá-khư |
| 03. Vua Vidùdabha Trả Thù Họ Thích-ca |
09. Câu Hỏi Của Trưởng Lão A-nan |
| 04. Người Tôn Vinh Chồng |
10. Ðế Thích Cúng Dường Ðại Ca-diếp |
| 05. Kosiya Keo Kiệt |
11. Godhica Chứng Niết-bàn |
| 06. Ẩn Sĩ Lõa Thể Pàthika |
12.
Sirigutta Và Garahadinna |
|
| Phẩm
V: Ngu |
|
| 01. Nhà Vua Và Người Nghèo Có Vợ Ðẹp |
08. Một Nông Dân Bị Kết Tội Oan |
| 02. Một Tăng Sinh Khó Dạy |
09. Sumana - Người Làm Vườn |
| 03. Kẻ Vận Rủi Trong Nhà |
10. Uppalavannà Bị Cưỡng Bức |
| 04. Kẻ Móc Túi |
11. Ðạo Sĩ Lõa Thể Jambuka |
| 05.
Trí Ngu |
12. Quỷ Rắn Và Quỷ Quạ |
| 06. Từ Trụy Lạc Tới Ðức Hạnh |
13. Quỷ Búa Tạ |
| 07. Một Người Cùi Bị Thử Thách Phủ Nhận Niềm Tin |
14.
Citta Và Sudhamma |
| 15. Sa-di Bảy Tuổi Ðược Lòng Mọi Người |
|
| Phẩm
VI: Hiền Trí |
|
| 01. Một Người Ðược Kho Báu Tinh Thần |
06. Vững Vàng Như Ðá Tảng |
| 02. Những Tỳ-kheo Ương Ngạnh |
07. Yên Lặng Sau Cơn Bão |
| 03. Trưởng Lão Xa-nặc |
08. Một Lũ Lang Thang |
| 04. Trưởng Lão Ðại Kappina |
09. Chồng Và Vợ |
| 05.
Sa-di Pandita |
10. Ít Người Ðến Bờ Kia |
| 11. Từ Bỏ Ðen Tối. |
|
|
| Phẩm
VII: A La Hán |
|
| 01. Ðấng Như Lai Không Ðau Khổ |
06. Tưởng Mình Bị Khi Dễ |
| 02. Thoát Khỏi Trói Buộc |
07. Mất Một Mắt |
| 03. Một Tỳ-kheo Trữ Thức Ăn |
08.
Không Tin Vào Ai Khác |
| 04. Tỳ-kheo Và Nữ Thần |
09. Trưởng Lão Revata Trong Rừng Keo |
| 05. Ðế Thích Lễ Kính Một Tỳ-kheo |
10. Một Kỹ Nữ Cám Dỗ Một Tỳ-kheo |
|
| Phẩm
VIII: Ngàn |
|
| 01. Tên Ðao Phủ |
08. Chàng Trai Tăng Tuổi Thọ |
| 02. Sự Chuyển Hóa Của Bàhiya Dàruciriya |
09.
Sa-di Samkicca |
| 03. Cô Gái Lấy Tên Cướp |
10. Tỳ-kheo Và Kẻ Cướp |
| 04. Ðược Và Mất |
11. Lưỡi Dao Cạo |
| 05. Chú Của Xá-lợi-phất |
12. Patacara Bị Mất Cả Gia Ðình |
| 06. Cháu Của Xá-lợi-phất |
13. Kisà Gotami Tìm Hạt Cải Trị Bệnh Cho Ðứa Con Ðã Chết |
| 07. Bạn Của Xá-lợi-phất |
14. Góa Phụ Bazhuputtikà Và Những Ðứa Con Bất Hiếu |
|
| Phẩm
IX: Ác |
|
| 01. Bà-la-môn Tiểu Nhất Y |
07. Thương Gia Ðại Phú |
| 02. Một Tỳ-kheo Bất Mãn |
08. Người Thợ Săn Bắn Mê Muội |
| 03. Thiên Nữ Với Tỳ-kheo |
09. Thợ Săn Bị Bầy Chó Của Mình Nuốt Sống |
| 04. Cấp Cô Ðộc Và Nữ Thần |
10. Thợ Kim Hoàn, Tỳ-kheo Và Con Ngỗng |
| 05. Tỳ-kheo Không Giữ Gìn Tốt Ðồ Dùng |
11. Ba Nhóm Tỳ-kheo |
| 06. Chưởng Khố Chân Mèo |
12. Suppabuddha Lăng Nhục Ðạo Sư |
|
| Phẩm
X: Hình Phạt |
|
| 01. Lục Quần Tỳ-kheo |
06. Ngạ Quỷ Hình Trăn |
| 02. Lục Quần Tỳ-kheo |
07. Cái Chết Của Ðại Mục-kiền-liên |
| 03. Một Bầy Trẻ |
08. Tỳ-kheo Lắm Của |
| 04. Tỳ-kheo Và Con Ma |
09. Santati, Quan Ðại Thần Của Vua |
| 05. Tỳ-xá-khư Và Quyến Thuộc Giữ Bát Quan Trai |
10. Tỳ-kheo Và Bộ Ðồ Rách |
| 11.
Sa-di Sukha |
|
| Phẩm
XI: Già |
|
| 01. Bạn Của Tỳ-xá-khư Say Rượu |
05. Ni Cô Và Bóng Sắc |
| 02. Ðức Phật Chữa Trị Một Tỳ-kheo Lụy Tình |
06. Hoàng Hậu Millikà Và Con Chó |
| 03.
Bà Ni Già |
07. Một Tỳ-kheo Thường Nói Không Ðúng Chỗ |
| 04. Nhóm Tỳ-kheo Cả Tin |
08. Kệ Của Trưởng Lão A-nan |
| 09. Ðại Phú, Con Của Chưởng Khố. |
|
| Phẩm
XII: Tự Ngã |
|
| 01. Hoàng Tử Bồ-đề Và Con Chim Thần |
06. Ðề-bà-đạt-đa Tìm Cách Giết Phật |
| 02. Một Tỳ-kheo Tham Lam |
07. Ðề-bà-đạt-đa Gây Chia Rẽ Trong Tăng Ðoàn |
| 03. Hãy Hành Ðộng Theo Lời Nói |
08. Vị Tỳ-kheo Ðố Kỵ |
| 04. Ðừng Ghét Bỏ Cha Mẹ |
09. Cô Gái Giang Hồ Cứu Mạng Một Cư Sĩ |
| 05. Mahà Kàla Bị Giết |
10. Tu Tập Chân Chánh Ðể Tôn Quý Thế Tôn |
|
| Phẩm
XIII: Thế Gian |
|
| 01. Một Thiếu Nữ Chế Giễu Thầy Tỳ-kheo Trẻ |
06. Câu Chuyện Của Chỉ Man |
| 02. Ðức Phật Về Thăm Ca-tỳ-la-vệ |
07. Cô Bé Dệt Vải |
| 03. Năm Trăm Tỳ-kheo Chứng Quả |
08. Ba Mươi Vị Tỳ-kheo |
| 04. Hoàng Tử Vô Úy (Abhaya) Mất Hầu Thiếp |
09. Chiến Già Vu Khống Phật |
| 05. Thầy Tỳ-kheo Và Cây Chổi |
10. Phẩm Vật Không Thể Nào So Sánh |
| 11. Ðức Hạnh Ðược Trả Giả |
|
| Phẩm
XIV: Phật |
|
| 01. Ðấng Toàn Giác |
05. Phật Trị Bệnh Bất Mãn Cho Thầy Tỳ-kheo |
| 02. Thần Thông Song Hành |
06. Sa-môn Và Long Vương |
| 03. Long Vương Và ái Nữ |
07. Người Cao Quý Sinh Ra ở Ðâu? |
| 04. Phương Cách Giáo Giới Trong Ngày Bố-tát Của Bảy Ðời Ðức Phật |
08. Ðiều Gì Hạnh Phúc Nhất Trên Ðời |
| 09. Tôn Kính Những Bậc Ðáng Tôn Kính |
|
| Phẩm
XV: Hạnh Phúc |
|
| 01. Mối Tranh Chấp Giữa Hai Lân Bang |
05. Phận Ban Thức Ăn Cho Người Ðói |
| 02. Ma Vương Chế Ngự Thôn Dân |
06. Ăn Uống Tiết Ðộ |
| 03. Vua Ba-tư-nặc Bại Trận |
07. Sống Chân Chánh Là Tôn Kính Phật |
| 04. Ðừng Nhìn Say Ðắm Nữ Nhân |
08. Ðế Thích Săn Sóc Thế Tôn |
|
| Phẩm
XVI: Hỷ Ái |
|
| 01. Cha Mẹ Và Con |
05. Cô Nương Tử Kim |
| 02. Phật An Ủi Người Phiền Muộn |
06. Ðừng Ðể Tâm Vào Của Cải Thế Gian |
| 03. Phật An Ủi Kẻ Ưu Sầu |
07. Ngài Ca-diếp Ðược Cúng Bánh |
| 04. Các Hoàng Tử Lệ-xá Và Kỹ Nữ |
08. Tôn Giả Chứng Quả A-na-hàm |
| 09. Nandiya Ðược Sanh Thiên |
|
| Phẩm
XVII: Sân Hận |
|
| 01. Sân Hận Tàn Phá Dung Nhan |
05. Bà-la-môn Ðón Phật Như Con |
| 02. Thọ Thần Và Thầy Tỳ-kheo |
06. Có Phải Người Tặng Quà Làm Nên Quà Tặng |
| 03. Người Nghèo Và Cô Con Gái |
07. Không Có Gì Quá Nhiều, Quá ít |
| 04. Việc Thiện Nhỏ Ðưa Ðến Thiên Giới |
08. Lục Quần Tỳ-kheo. |
|
| Phẩm
XVIII: Cấu Uế
|
|
| 01. Người Ðồ Tể Và Ðứa Con Trai |
07. Tất Cả Giới Cấm Ðều Khó Giữ |
| 02. Dần Dà Từng Chút |
08. Kẻ Bới Lỗi Người Khác |
| 03. Con Rận Tiếc Của |
09. Những Người Lơ Ðễnh |
| 04. Thầy Tỳ-kheo Kiêu Ngạo |
10. Trưởng Giả Ram |
| 05. Tà Hạnh Của Nữ Nhân |
11. Tỳ-kheo Bới Lỗi |
| 06. Lịch Sự Và Thô Lỗ |
12. Hư Không Có Dấu Chân? |
|
| Phẩm
XIX: Công Bình Pháp Trụ
|
|
| 01. Quan Tòa Bất Công |
06. Ðầu Trọc Không Làm Nên Tỳ-kheo |
| 02. Lục Quần Tỳ-kheo |
07. Ðiều Gì Làm Nên Sa-môn |
| 03. Không Phải Vì Nói Nhiều Mà Ðược Ca Tụng |
08. Không Phải im Lặng Làm Nên Bậc Thánh |
| 04. Người Trẻ Có Thể Là Trưởng Lão? |
09. Cao Quí Là Hành Ðộng Cao Quí |
| 05. Thế Nào Là Người Hoàn Toàn? |
10. Ðừng Tự Mãn |
|
| Phẩm
XX: Ðạo |
|
| 01. Bát Chánh Ðạo Là Ðường Tối Thượng |
07. Pothila, ông Sư Rỗng |
| 02. Vô Thường |
08. Các Lão Tỳ-kheo Và Lão Bà |
| 03. Khổ |
09. Cỏ Úa, Hoa Phai |
| 04.
Vô Ngã |
10. Chắc Chắn Sẽ Chết |
| 05. Chớ Hẹn Ngày Mai |
11. Người Mẹ Mất Con Và Những Hạt Cải |
| 06. Con Quỉ Ðầu Heo |
12. Người Ðàn Bà Mất Hết Thân Quyến |
|
| Phẩm
XXI: Tạp Lục |
|
| 01. Sông Hằng Dâng Nước |
05. Cậu Bé Và Quỉ Dữ |
| 02. Không Lấy Oán Báo Oán |
06. Hoàng Tử Bạt-kỳ Làm Sa-môn |
| 03. Các Tỳ-kheo Phù Hoa |
07. Cư Sĩ Tâm - Người Thành Tín |
| 04. Sa-môn Giết Cha Mẹ |
08. Cô Gái Ðức Hạnh |
| 09. Vị Sa-môn Ðộc Cư |
|
| Phẩm
XXII: Ðịa Ngục
|
|
| 01. Cái Chết Của Tôn-đà-ly |
05. Thầy Sa-môn Tự Phụ |
| 02. Con Quỷ Xương Khô |
06. Người Vợ Ghen Tuông |
| 03. Xảo Thuật Tìm Thức Ăn |
07. Tự Canh Phòng Như Giữ Thành |
| 04. Kẻ Ðào Hoa |
08. Các Ðạo Sĩ Lõa Thể |
| 09. Trẻ Con Quy Y Phật |
|
| Phẩm
XXIII: Voi |
|
| 01. Phật Bị Lăng Nhục |
05. Chú Tiểu Và Dạ Xoa |
| 02. Thầy Sa-môn Luyện Voi |
06. Con Voi Sa Lầy |
| 03.
Lão Bà-la-môn Và Các Con |
07. Voi Làm Thị Giả Phật |
| 04. Ăn Uống Ðiều Ðộ |
08. Ma Vương Cám Dỗ Phật. |
|
| Phẩm
XXIV: Tham Ái |
|
| 01.
Con Cá Vàng |
07. Xạ Thủ Trẻ Tài Ba |
| 02. Con Heo Nái Tơ |
08. Ma Vương Chẳng Nhát Ðược La-hầu-la |
| 03. Thầy Tỳ-kheo Bỏ Ðạo |
09. Nhà Tu Khổ Hạnh Hoài Nghi |
| 04.
Ngôi Nhà Tù |
10. Pháp Thí Thắng Mọi Thí |
| 05. Sắc Ðẹp Phù Du |
11. Quan Chưởng Khố Không Con |
| 06. Chàng Trai Có Cô Vợ Diễn Viên Nhào Lộn |
12. Bố Thí Nhiều Và Bố Thí ít |
|
| Phẩm
XXV: Tỳ Kheo |
|
| 01. Giữ Gìn Ngũ Căn |
07. Ðảng Cướp Ði Tu |
| 02. Thầy Tỳ-kheo Giết Ngỗng |
08. Cỏ Úa, Hoa Phai |
| 03. Thầy Tỳ-kheo Không Giữ Gìn Mồm Miệng |
09. Vị Sa-môn Nhàn Tịnh |
| 04. Bằng Sự Tinh Tấn Làm Vinh Dự Cho Phật |
10. Vị Sa-môn Và Chiếc Khố Rách |
| 05. Thầy Tỳ-kheo Lạc Bầy |
11. Người Thầy Chánh Pháp Là Thầy Ta |
| 06. Người Bà-la-môn Cúng Dường Năm Lần Thành Quả Ðầu Tiên |
12. Vị Sa-môn Và Long Vương |
|
| Phẩm
XXVI: Bà La Môn |
|
| 01. Bà-la-môn Ðại Hỉ |
21. Vị Sa-môn Và Thiên Thần |
| 02. Thế Nào Là "hai Trạng Thái"? |
22. Vị Sa-môn Và Người Ðàn Bà |
| 03. Thế Nào Là Bờ Kia? |
23. Bốn Vị Sa-di |
| 04. Thế Nào Là Bà-la-môn? |
24. Tôn Giả Ðại-bàn-đặc Có Còn Sân Giận Không? |
| 05. Ðức Phật Sáng Ngời |
25. Sức Mạnh Tập Khí |
| 06. Thế Nào Là Tỳ-kheo? |
26. Thầy Tỳ-kheo Bị Kết Tội Trộm Cắp |
| 07. Ðức Nhẫn Nại Chinh Phục Sự Tàn ác |
27. Tôn Giả Xá-lợi-phất Bị Hiểu Lầm |
| 08. Ngài Di Mẫu Thọ Giới |
28. Tôn Giả Mục-kiền-liên Bị Hiểu Lầm |
| 09. Tôn Kính Người Ðáng Tôn Kính |
29. Bỏ Cả Tốt Lẫn Xấu |
| 10. Thế Nào Là Bà-la-môn? |
30. Tôn Giả Nguyệt Quang |
| 11. Người Bà-la-môn Gian Xảo |
31. Bảy Năm Trong Bụng Mẹ |
| 12. Bà Kisa Gotami, Vị Tỳ-kheo Ni Tu Hạnh Ðầu Ðà |
32. Cô Gái Giang Hồ Quyến Rũ Thầy Tỳ-kheo Sundarasamudda |
| 13. Thế Nào Là Bà-la-môn? |
33.
Jotika Và Jatila |
| 14. Diễn Viên Xiếc Uggasena |
34. Vua A-xà-thế Ðánh Chiếm Lâu Ðài Jotika |
| 15. Tranh Cãi Về Sức Kéo |
35. Người Diễn Kịch Câm Xuất Gia Làm Sa-môn |
| 16. Ðức Thế Tôn Chế Ngự Kẻ Sân Giận |
36. Người Diễn Kịch Câm Xuất Gia Làm Sa-môn |
| 17. Tôn Giả Xá-lợi-phất Bị Mẹ Mắng |
37. Người Gõ Ðầu Lâu |
| 18.
A-la-hán Có Phàm Thân Hay Không? |
38.
Ông Bà Visàkha |
| 19. Người Nô Lệ Trút Gánh Nặng |
39.
Angulimàla, Vô Não |
| 20. Khemà Trí Tuệ |
40. Phạm Hạnh Của Thí Chủ Quyết Ðịnh Phước Báo Của Cúng Dường |
| Phần Kết |
LỜI NÓI ÐẦU
Tập "Tích Truyện Pháp Cú"này được dịch theo bản Anh ngữ "Buddhist Legends" của học giả Eugène Watson Burlingame. Nhà học giả này đã căn cứ trên nguyên tác Pháp Cú Sớ Giải (Dhammapada
Commentary) bằng tiếng Pàli. Tương truyền Pháp Cú Sớ Giải là công trình của ngài Buddhaghosa (Phật Âm), sống khoảng thế kỷ thứ V Tây lịch.
Nhận thấy sự lợi ích rộng lớn của nó, chúng tôi phụng dịch để đóng góp vào nền Phật học nước nhà. Tuy cố gắng hết sức, nhưng không sao tránh khỏi những thiếu sót, kính mong chư vị Cao Túc thương tình tha thứ cho.
Chúng con cũng xin tri ân Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ cho việc in ấn dịch phẩm.
Kính Ghi,
Thiền Viện Viên Chiếu
Cuối Năm Ất Hợi, 1995.
DẪN NHẬP
Kính lạy Ðức Thế Tôn Phật Ðà, đấng Toàn Thiện Toàn Giác.
Con xin cúi đầu đảnh lễ Phật, đảnh lễ Pháp, đảnh lễ Tăng.
Cả thế gian chìm trong đêm tối dày đặc của vô minh phiền não. Ngài cũng ở thế gian mà quét sạch được nó. Với năng lực siêu phàm chứng đạt được, Ngài đã thắp sáng ngọn đèn Chánh pháp.
Ngài là bậc Toàn Trí, phân biệt rành mạch chơn ngụy trong mọi vấn đề. Ðấng Ðạo sư đã thuyết nói chánh pháp, vì lòng từ vô lượng đã giảng giải giáo pháp theo căn cứ, khiến trời người đều được an vui, mãn nguyện.
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".
Ðấy là ước nguyện của Trưởng lão Kumàra Kassapa đã thổ lộ với tôi, vị Trưởng lão đã khéo tự điều phục được mình, hằng sống với tâm an tịnh, chí nguyện luôn kiên trì. Ngài chân tình khuyến thỉnh tôi, do lòng mong muốn Chánh pháp được trường tồn.
Vì vậy, tôi sẽ thay thế thổ ngữ đầy những lối diễn đạt dài dòng này, phiên dịch tác phẩm qua thứ tiếng thông dụng, êm ái, dễ nghe của kinh điển. Những điểm nào khó hiểu, chưa rõ nghĩa trong các câu kệ, dù chữ hay lời, tôi xin sẽ làm sáng tỏ. Phần còn lại, tôi sẽ trình bày bằng tiếng Pàli, phù hợp với tinh thần các câu kệ. Như thế, tôi mong sẽ đem đến an vui, mãn nguyện cho tâm bậc hiền trí về cả hai mặt đạo và đời.
Tác Giả Bản Pàli.