KINH TĂNG NHẤT A-HÀM
Việt Dịch: Hòa Thượng
Thích Thanh Từ
Hiệu Đính: Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
PL 2541 - TL 1997
TẬP II
XXVII. PHẨM ĐẲNG TỨ ĐẾ
1. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-Vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo! Ta thường thuyết pháp Tứ đế. Dùng vô số phương tiện mà
quán sát pháp này, phân biệt nghĩa và diễn giảng rộng cho người. Thế nào là Tứ
đế? Nghĩa là pháp Khổ đế. Ta đem vô số phương tiện mà quán sát pháp này, phân
biệt nghĩa và diễn giảng rộng cho người; dùng vô số phương tiện thuyết Tập, Tận,
Ðạo đế mà quán sát pháp này, phân biệt nghĩa và diễn giảng rộng cho người.
Tỳ-kheo! Các Thầy nên gần gũi Tỳ-kheo Xá-lợi-phất, thừa sự cúng dường. Vì sao
thế? Tỳ-kheo Xá-lợi-phất dùng vô số phương tiện thuyết Tứ đế này, diễn giảng
rộng cho người. Tỳ-kheo Xá-lợi-phất sẽ phân biệt nghĩa này cho các chúng và bốn
bộ chúng, diễn giảng rộng cho người. Và vô số chúng sanh được sạch hết các trần
cấu, được pháp nhãn thanh tịnh.
Tỳ-kheo! Các Thầy nên gần gũi Tỳ-kheo Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, hầu hạ cúng
dường, Vì sao thế? Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là cha mẹ của chúng sanh. Ðã sanh rồi,
nuôi nấng cho lớn là Tỳ-kheo Mục-kiền-liên. Vì sao thế? Tỳ-kheo Xá-lợi-phất
thuyết pháp là muốn thành tựu Tứ đế cho người. Tỳ-kheo Mục-kiền-liên thuyết pháp
là thành tựu đệ nhất nghĩa, thành tựu hạnh vô lậu cho người. Các Thầy hãy gần
gũi Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.
Thế Tôn nói xong, trở vào tịnh thất. Thế Tôn đi chưa bao lâu, Tôn giả
Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
- Người nào có thể được pháp Tứ đế, người ấy mau được lợi lành. Thế nào là Tứ
đế? Nay nói Khổ đế và dùng vô số phương tiện diễn giảng rộng nghĩa này.
Thế nào là Khổ đế? Nghĩa là sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ưu bi não
khổ, oán tắng hội khổ, ái ân biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ. Nói tóm lại, là Nam
thạnh ấm khổ. Ðó là Khổ đế.
Thế nào là Khổ tập đế? Nghĩa là ái kết vậy.
Thế nào là Tận đế? Nghĩa là ái kết dứt hẳn, không sót. Ðó là Tận đế.
Thế nào là Ðạo đế? Nghĩa là Tám đạo phẩm của Hiền Thánh: Chánh kiến, chánh tư
duy, chánh ngữ, chánh phương tiện, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh niệm, chánh
định. Ðó là Ðạo đế. Chúng sanh chóng được lợi lành vì có thể nghe được pháp Tứ
đế này.
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đang thuyết pháp này, vô lượng chúng sanh không
kể được lúc nghe pháp này các trần cấu sạch hết, được pháp nhãn thanh tịnh:
"Chúng ta cũng chóng được lợi lành. Thế Tôn thuyết pháp cho ta ở yên phước địa."
- Thế nên này Bốn bộ chúng! Hãy tìm phương tiện hành Tứ đế này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
2. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-Vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo vào thành Xá-vệ. Những Tỳ-kheo này liền nghĩ: "Chúng
ta khất thực hãy còn sớm. Chúng ta nên đến thôn của ngoại đạo dị học, luận nghị
với họ".
Rồi những Tỳ-kheo này đi đến thôn ngoại đạo. Ðến nơi thăm hỏi rồi ngồi một
bên. Bấy giờ dị học hỏi các Tỳ-kheo rằng:
- Sa-môn Cù-đàm thuyết pháp này cho các đệ tử: "Tỳ-kheo, các Thầy đều nên học
pháp này, đều nên liễu tri, do liễu tri rồi nên cùng vâng làm". Chúng tôi, cũng
thuyết pháp này cho các đệ tử: "Các ông đều nên học pháp này, đều nên liễu tri,
do liễu tri rồi nên cùng vâng làm". Sa-môn Cù-đàm với chúng tôi đây có khác gì?
Có thêm bớt gì? Nghĩa là Sa-môn Cù-đàm thuyết pháp, ta cũng thuyết pháp, Sa-môn
Cù-đàm giáo hối, ta cũng giáo hối.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe lời này xong, không nói đúng cũng chẳng nói sai, từ
chỗ ngồi đứng lên mà đi. Những Tỳ-kheo ấy tự bảo nhau:
- Chúng ta nên đem nghĩa này bạch với Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo vào thành Xá-vệ khất thực, ăn xong thu xếp y bát, vắt tọa cụ lên
vai trái, đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi ngồi một bên. Bấy giờ số đông Tỳ-kheo đem
nhân duyên này bạch đầy đủ với Thế Tôn. Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu ngoại đạo kia hỏi điều này thì các thầy nên dùng lời này đáp họ:
- "Có một cứu cánh hay có nhiều cứu cánh?"
Hoặc có thể Phạm chí kia thuyết bình đẳng sẽ phải nói rằng:
"- Là một cứu cánh chứ chẳng phải nhiều cứu cánh.
"- Cứu cánh ấy là vô dục cứu cánh.
"- Thế nào, cứu cánh ấy là cứu cánh có sân giận hay cứu cánh không sân giận?
"- Cứu cánh ấy là cứu cánh không sân giận. Chẳng phải là cứu cánh có sân
giận.
"- Thế nào, cứu cánh ấy có si hay cứu cánh không si?
"- Cứu cánh ấy là cứu cánh không si.
"- Thế nào, cứu cánh ấy là cứu cánh có ái hay cứu cánh không ái?
"- Cứu cánh ấy là cứu cánh không ái.
"- Thế nào, cứu cánh ấy là cứu cánh có thọ hay cứu cánh không thọ?
"- Cứu cánh ấy là cứu cánh không thọ.
"- Thế nào, cứu cánh ấy là trí hay không phải trí?
"- Cứu cánh của trí.
"- Cứu cánh này là cứu cánh của nộ hay cứu cánh không nộ? Họ sẽ nói rằng:
"- Cứu cánh này là cứu cánh chẳng phải nộ.
Này Tỳ-kheo! Có hai kiến này. Thế nào là hai kiến? Là hữu kiến và vô kiến.
Các Sa-môn, Bà-la-môn chẳng biết gốc ngọn của hai kiến này. Họ liền có tâmn dục,
có tâm sân giận, có tâm ngu si, có tâm ái, có tâm thọ. Ðó là vô tri. Họ có tâm
nộ, không cùng hạnh tương ưng. Người ấy không thoát khỏi sanh, già, bịnh, chết,
sầu lo khổ não, chua cay vạn mối không thoát khỏi khổ.
Cũng có các Sa-môn, Bà-la-môn như thực mà biết. Người đó sẽ không có tâm ngu
si, sân giận, hằng cùng hạnh tương ưng, liền thoát được sanh, già, bịnh, chết.
nay thuyết nguồn gốc của khổ. Như thế, Tỳ-kheo! Có diệu pháp này gọi là pháp
bình đẳng. Các pháp không hành bình đẳng thì rơi vào ngũ kiến.
Nay ta sẽ thuyết về bốn thọ. Thế nào là bốn thọ? Nghĩa là dục thọ, kiến thọ,
giới thọ, ngã thọ. Ðó là bốn thọ. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn tận tri tên của dục
thọ, người ấy tuy biết tên của dục thọ mà lại chẳng tương ưng. Họ phân biệt tên
của dục thọ mà chẳng phân biệt tên kiến thọ, giới thọ, ngã thọ. Vì sao thế? Vì
Sa-môn, Bà-la-môn đó không thể phân biệt tên ba thọ này.
Thế nên hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn phân biệt hết các thọ này, họ liền phân
biệt dục thọ, kiến thọ mà chẳng phân biệt giới thọ, ngã thọ. Sở dĩ như thế là vì
Sa-môn, Bà-la-môn ấy không thể phân biệt hai thọ này.
Giả sử Sa-môn, Bà-la-môn có thể phân biệt hết các thọ, hoặc lại có người
chẳng đầy đủ. Người ấy bèn có thể phân biệt dục thọ, kiến thọ, giới thọ mà chẳng
phân biệt ngã thọ. Sở dĩ như thế là vì Sa-môn, Bà-la-môn ấy không thể phân biệt
ngã thọ vậy.
Thế nên lại có Sa-môn, Bà-la-môn phân biệt hết các thọ, lại có người không
đủ. Ðây gọi là bốn thọ. Có những nghĩa gì? Làm sao phân biệt?
Bốn thọ do ái sanh. Như thế, Tỳ-kheo! Có diệu pháp này đáng nên phân biệt.
Nếu có người không hành các thọ này, đây không gọi là bình đẳng. Vì sao thế? Vì
nghĩa của các pháp khó rõ, khó hiểu. Nghĩa của phi pháp như thế chẳng phải là
chỗ bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác nói. Tỳ-kheo nên biết! Như Lai có thể phân biệt
hết tất cả các thọ. Vì có thể phân biệt tất cả các thọ nên cùng tương ưng với
pháp; phân biệt dục thọ, kiến thọ, giới thọ, ngã thọ, Như Lai phân biệt hết các
thọ, nên cùng pháp tương ưng, không có trái nhau.
Bốn thọ này do đâu mà sanh? Bốn thọ này do ái sanh, do ái mà tăng trưởng và
thành tựu thọ này. Ta liền không khởi tâm đối với các thọ. Vì không khởi các thọ
nên không sợ hãi, vì không sợ hãi liền nhập Niết-bàn. Sanh tử đã tận, Phạm hạnh
đã lập, việc làm đã xong, không còn thọ thân sau nữa, như thật mà biết, đầy đủ
các pháp, là gốc của pháp hạnh. Sở dĩ như thế là vì pháp này rất vi diệu, nên
chư Phật thuyết, ở các hành không có thiếu sót.
Ở đây có đệ nhất Sa-môn (Tu-đà-hoàn), đệ nhị Sa-môn (Tư-đà-hàm), đệ tam
Sa-môn (A-na-hàm) và đệ tứ Sa-môn (A-la-hán). Không còn có Sa-môn nào vượt hơn
điều này, có thể hơn người này, tạo tiếng rống của sư tử.
Các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
3. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-Vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ trưởng giả Cấp Cô Ðộc đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi ngồi một bên. Thế
Tôn hỏi Trưởng giả:
- Thế nào Trưởng giả, trong nhà Ông cũng thường bố thí chứ?
Trưởng giả bạch Phật:
- Nhà con bây giờ nghèo mà cũng thường bố thí. Nhưng thức ăn uống xấu tệ,
không bằng lúc thường.
Thế Tôn bảo:
- Nếu lúc bố thí, hoặc tốt hay xấu, dù nhiều hay ít mà không dùng tâm ý, cũng
không phát nguyện, lại không có lòng tin nên do quả báo của việc làm này mà sanh
ra không được thức ăn ngon, ý không ưa vui, ý lại cũng không thích mặc quần áo
đẹp, cũng không thích gia nghiệp ruộng vườn tốt, tâm cũng không vui ngũ dục. Cho
dù có nô tỳ, đầy tớ, họ cũng không biết vâng lời. Vì sao thế? Chính vì trong lúc
bố thí không dụng tâm, nên chịu quả báo này.
Nếu lúc Trưởng giả bố thí, dù tốt hay xấu, nhiều hay ít, nên chí thành dụng
tâm, chớ có làm tổn phí thêm cầu đòi đời sau. Như thế nếu sanh ở đâu Trưởng giả
cũng có thức ăn uống tự nhiên, bảy báu đầy đủ, tâm thường vui trong ngũ dục. Cho
dù có nô tỳ, đầy tớ, họ đều biết vâng lời. Sở dĩ như thế là vì trong lúc bố thí,
có phát lòng hoan hỉ.
Trưởng giả nên biết! Quá khứ lâu xa có Phạm chí tên Tỳ-la-ma giàu có, nhiều
của báu, trân châu, hổ phách, xa cừ, mã não, thủy tinh, lưu ly. Ông ta ưa bố
thí. Lúc bố thí, ông dùng tám vạn bốn ngàn bát vàng đựng đầy bạc vụn mà bố thí
như thế. Ông ta lại đem tám vạn bốn ngàn bồn tắm bằng vàng bạc bố thí, lại đem
tám vạn bốn ngàn trâu, lấy vàng bạc treo lên sừng đem bố thí như thế; lại đem
tám vạn bốn ngàn ngọc nữ bố thí, y phục tự khoác lại đem tám vạn bốn ngàn giường
đều dùng chăn đệm thêu đủ màu trải lên; lại đem tám vạn bốn ngàn y phục bố thí;
lại đem tám vạn bốn ngàn long tượng bố thí, đều dùng vàng bạc trang sức; lại đem
tám vạn bốn ngàn ngựa bố thí, đều lấy yên cương vàng bạc phủ lên; lại đem tám
vạn bốn ngàn xe bố thí. Ông ta làm một cuộc đại thí như thế. Ông ta lại đem tám
vạn bốn ngàn nhà cửa bố thí. Ông bố thí tại bốn cửa thành, ai cần ăn cho ăn, cần
áo cho áo, y phục, thức ăn uống, giường chiếu, thuốc men trị bịnh.. đều cho tất
cả.
Trưởng giả nên biết! Ông Tỳ-la-ma ấy tuy bố thí như thế mà chẳng bằng tạo một
phòng xá đem bố thí cho Chiêu-đề Tăng. Phước này chẳng thể kể lường. Dù cho tạo
bố thí như thế và tạo phòng nhà đem thí Chiêu-đề Tăng, chẳng bằng thọ tam tự quy
y Phật, Pháp và Thánh chúng. Phước này chẳng thể kể. Dù cho người ấy bố thí như
thế, làm phòng nhà và thọ tam tự quy, tuy có phước này vẫn không bằng thọ trì
ngũ giới. Dù cho người ấy bố thí như thế là làm phòng nhà, thọ tam tự quy y, thọ
trì ngũ giới, tuy có phước này vẫn chẳng bằng trong khoảng búng ngón tay có lòng
thương xót chúng sanh. Phước này công đức không thể đo lường.
Dù cho người kia bố thí như thế, làm phòng xá Tăng, thọ tam tự quy, trì ngũ
giới và trong khoảng búng ngón tay thương xót chúng sanh; tuy có phước này cũng
không bằng trong chốc lát khởi tưởng thế gian không đáng ưa thích. Phước này
công đức không thể cân lường. Người ấy tạo công đức gì, Ta đều chứng minh hết;
tạo phòng nhà cho Tăng, Ta cũng biết phước này. Thọ tam tự quy Ta cũng biết
phước này. Thọ trì ngũ giới, Ta cũng biết phước này. Trong khoảng búng ngón tay
thương xót chúng sanh, Ta cũng biết phước này. Trong chốc lát khởi tưởng thế
gian không đáng ưa thích. Ta cũng biết phước này. Bấy giờ, Bà-la-môn làm cuộc bố
thí lớn như thế, há là người khác sao? Chớ xem thế. Vì sao? Thí chủ khi ấy chính
là Ta.
Trưởng giả nên biết! Quá khứ lâu xa, những công đức Ta tạo được là do lòng
tin chẳng dứt, không khởi tâm dính mắc. Thế nên Trưởng giả! Lúc muốn bố thí, hãy
hoan hỉ ban cho, chớ khởi tưởng dính mắc. Tự tay bố thí, chớ sai người khác.
Phát nguyện cầu quả báo, chớ sai người khác. Phát nguyện cầu quả báo, sau cầu
thọ phước, Trưởng giả sẽ được phước vô cùng. Như thế, Trưởng giả nên học điều
này.
Bấy giờ Trưởng giả nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
4. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Như lúc mặt trời vừa mọc, nhân dân đều đi làm ruộng, trăm chim hót vang,
con nít khóc la. Tỳ-kheo nên biết! Nay Ta lấy đây làm thí dụ và sẽ giải thích
nghĩa của nó. Nghĩa này phải hiểu thế nào?
Nếu lúc mặt trời vừa mọc, đây thí dụ Như Lai ra đời. Nhân dân đều làm ruộng,
thí dụ như đàn-việt, thí chủ tùy thời cung cấp y phục, cơm nước, giường nệm,
thuốc men trị bịnh. Trăm chim hót vang, đây dụ cho bậc Pháp sư cao đức, hay
thuyết pháp vi diệu cho bốn bộ chúng. Con nít khóc la là dụ cho Tệ ma Ba-tuần.
Thế nên các Tỳ-kheo! Như mặt trời mới mọc, Như Lai ra đời trừ đi bóng tối,
chiếu sáng tất cả. Như thế, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
5. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ Bồ-tát Di-lặc đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi ngồi một bên. Bồ-tát
Di-lặc bạch Thế Tôn:
- Bồ-tát Ma-ha-tát thành tựu mấy pháp để hành bố thí Ba-la-mật, đầy đủ được
sáu Ba-la-mật, chóng thành đạo Vô thượng Chánh Chân?
Phật bảo Bồ-tát Di-lặc:
- Bồ-tát Ma-ha-tát hành bốn pháp bổn, đầy đủ sáu Ba-la-mật, chóng thành Vô
thượng Chánh Chân Ðẳng Chánh Giác. Thế nào là bốn?
Ở đây Bồ-tát bố thí từ Phật Bích-chi xuống đến người phàm đều bình đẳng,
không chọn lựa, hằng nghĩ: "Tất cả do ăn mà tồn tại, không ăn thì chết". Ðó là
Bồ-tát thành tựu pháp đầu tiên, đầy đủ lục độ.
Lại nữa, nếu lúc Bồ-tát bố thí đầu, mắt, tủy, não, đất nước, tài sản, vợ con,
hoan hỉ bố thí, không có tâm dính mắc. Ví như người đáng lẽ chết, lúc ấy được
sống lại, vui mừng hớn hở không kềm nổi. Bấy giờ Bồ-tát phát tâm hoan hỉ cũng
như thế; bố thí thệ nguyện không sanh lòng chấp trước.
Lại nữa, Di-lặc! Lúc Bồ-tát bố thí đến khắp tất cả, chẳng tự vì mình khiến
thành đạo Vô thượng Chánh Chân. Ðó là thành tựu pháp thứ ba này, đầy đủ lục độ.
Lại nữa, Di-lặc! Bồ-tát Ma-ha-tát lúc bố thí suy nghĩ rằng: "Trong các loại
chúng sanh, Bồ-tát thật là thượng thủ, đầy đủ lục độ, trọn vẹn các pháp bổn". Vì
sao? Vì các căn tịch tĩnh, tư duy cấm giới, không khởi lòng sân giận, tu hành
tâm từ, dũng mãnh, tinh tấn, tăng trưởng các pháp lành, trừ các pháp bất thiện,
hằng giữ nhất tâm, ý chẳng lầm lẫn, đầy đủ pháp môn biện tài, trọn không vượt
thứ lớp, khiến các bố thí này đầy đủ lục độ, thành tựu Ðàn-ba-la-mật. Nếu Bồ-tát
Ma-ha-tát hành bốn pháp này, chóng thành Vô thượng Chánh Chân Ðẳng Chánh Giác.
Thế nên, Di-lặc! Nếu Bồ-tát Ma-ha-tát, lúc muốn bố thí nên phát thệ nguyện
đầy đủ các hạnh này. Như thế, Di-lặc nên học điều này.
Bấy giờ Bồ-tát Di-lặc nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
6. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Như Lai xuất hiện ở đời có Bốn vô sở úy. Như Lai được Bốn vô sở úy này, ở
trong thế gian không có chỗ dính mắc, ở trong đại chúng rống tiếng sư tử, chuyển
bánh xe pháp. Thế nào là bốn?
Nay Ta đã thành tựu pháp này, dù cho Sa-môn, Bà-la-môn, Ma hoặc Ma thiên,
loài bò bay máy cựa, ở trong đại chúng bảo Ta không thành tựu pháp này, việc này
chẳng đúng; Ta không sợ hãi. Ðó là vô sở úy thứ nhất.
Hôm nay, như Ta các lậu hoặc đã hết, không thọ thân nữa. Nếu có Sa-môn,
Bà-la-môn, các loài chúng sanh, ở trong đại chúng nói Ta chưa sạch hết các lậu
hoặc; việc này chẳng đúng. Ðó là vô sở úy thứ hai.
Nay Ta đã lìa pháp ngu tối, muốn cho ngu tối trở lại, không có việc này. Nếu
lại có Sa-môn, Bà-la-môn, Ma hoặc Ma thiên, chúng sanh, ở trong đại chúng nói Ta
bị ngu tối trở lại; việc này không đúng. Ðó là vô sở úy thứ ba của Như Lai.
Pháp xuất yếu của chư Như Lai dứt hết khổ, muốn cho không xuất yếu, trọn
không có việc ấy. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, Ma hoặc Ma thiên, các loại chúng
sanh, ở trong đại chúng, nói rằng Như Lai chẳng dứt hết khổ; việc này chẳng
đúng. Ðó là vô sở úy thứ tư của Như Lai. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
7. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nay có bốn người thông minh, dõng mãnh, thông suốt cổ kim, mọi pháp đều
thành tựu. Thế nào là bốn? Tỳ-kheo đa văn, thông suốt cổ kim, ở trong đại chúng,
thật là bậc nhất. Tỳ-kheo-ni đa văn, thông suốt cổ kim, ở trong đại chúng, thật
là bậc nhất. Ưu-bà-tắc đa văn, thông suốt cổ kim, ở trong đại chúng, thật là bậc
nhất. Ưu-bà-di đa văn, thông suốt cổ kim ở trong đại chúng, thật là bậc nhất.
Ðó là, Tỳ-kheo, có bốn người này ở trong đại chúng thật là bậc nhất.
Bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ này:
Dõng mãnh không chỗ sợ,
Ða văn hay thuyết pháp,
Trong chúng là
sư tử,
Năng trừ pháp khiếp nhược.
Tỳ-kheo thành tựu giới,
Tỳ-kheo-ni đa văn,
Ưu-bà-tắc vững tín,
Ưu-bà-di cũng thế.
Trong
chúng là đệ nhất,
Nếu hay hòa thuận chúng,
Muốn biết được nghĩa là,
Như lúc trời mới mọc.
Thế nên, này các Tỳ-kheo! Hãy học thông suốt cổ kim, thành tựu mọi pháp. Như
thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
8. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có bốn loại kim sí điểu. Thế nào là bốn? Kim sí điểu sanh bằng trứng, kim
sí điểu sanh bằng thai, kim sí điểu do thấp sanh, kim sí điểu do hóa sanh. Ðó là
bốn loài kim sí điểu.
Cũng thế, Tỳ-kheo! Có bốn loại rồng. Thế nào là bốn? Có rồng sanh bằng trứng,
có rồng sanh bằng thai, có rồng do thấp sanh và có rồng do hóa sanh. Ðó là,
Tỳ-kheo! Có bốn loại rồng.
Tỳ-kheo nên biết! Nếu kim sí điểu sanh bằng trứng, lúc muốn ăn thịt rồng, lên
trên cây thiết xoa, gieo mình xuống biển. Nước biển đó dọc ngang hai mươi tám
vạn dặm, dưới đó có bốn loại long cung. Có rồng loại trứng, có rồng loại thai,
có rồng thấp sanh, có rồng hóa sanh. Bấy giờ, kim sí điểu sanh bằng trứng dùng
cánh lớn quạt nước rẽ hai, bắt rồng loài trứng ăn thịt. Nếu lúc ấy nhằm loài
rồng sanh bằng thai thì kim sí điểu sẽ mất mạng. Kim sí điểu quạt nước bắt rồng,
lúc nước chưa khép lại, nó đã trở lại cây thiết xoa.
Tỳ-kheo nên biết! Nếu kim sí điểu sanh bằng thai, lúc muốn ăn thịt rồng, lên
trên cây thiết xoa gieo mình xuống biển. Nước biển đó ngang dọc hai mươi tám vạn
dặm, nó quạt nước, xuống để gặp loại rồng thai sanh. Nếu gặp rồng sanh bằng
trứng, cũng có thể bắt đem ra khỏi biển. Nếu nó gặp rồng thấp sanh thì thân chim
sẽ chết.
Tỳ-kheo nên biết! Nếu kim sí điểu thấp sanh, lúc muốn ăn thịt rồng lên trên
cây thiết xoa, gieo mình xuống biển. Nước biển đó ngang dọc hai mươi tám vạn
dặm. Chim ấy nếu được rồng loài trứng, loài thai, thấp sanh đều có thể bắt được.
Nếu gặp rồng hóa sanh, thì thân chim sẽ chết.
Này Tỳ-kheo! Nếu kim sí điểu hóa sanh, lúc muốn ăn thịt rồng, lên trên cây
thiết xoa gieo mình xuống biển. Nước biển đó ngang dọc hai mươi tám vạn dặm, nó
quạt nước, xuống gặp rồng loài trứng, loài thai, rồng thấp sanh, rồng hóa sanh
đều có thể bắt hết. Lúc nước chưa kịp khép lại, nó đã trở lên cây thiết xoa.
Tỳ-kheo nên biết! Nếu như Long vương phụng sự Phật, bấy giờ kim sí điểu không
thể ăn nuốt được. Vì sao thế? Như Lai thường hành Tứ đẳng tâm, vì thế nên chim
không thể ăn rồng. Thế nào là Tứ đẳng tâm?
Như Lai thường hành tâm từ, hằng hành tâm bi, hằng hành tâm hỉ, hằng hành tâm
xả (hộ). Ðó là, này Tỳ-kheo! Như Lai hằng có bốn tâm bình đẳng này; có gân sức
lớn, có đại dõng mãnh, không thể ngăn trở, phá hoại. Vì thế kim sí điểu không
thể ăn rồng. Vậy nên, các Tỳ-kheo! Hãy hành Tứ đẳng tâm. Như thế, các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
9. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu lúc Thiện tri thức bố thí, có bốn việc công đức. Thế nào là bốn? Biết
lúc bố thí, chẳng phải không biết lúc; tự tay bố thí, chẳng sai người khác; bố
thí thường trong sạch chẳng phải không trong sạch; bố thí hết sức vi diệu, không
có nhơ đục.
Thiện tri thức khi bố thí có bốn công đức này. Thế nên, này các Tỳ-kheo!
Thiện nam, tín nữ khi bố thí nên có đầy đủ bốn công đức này. Vì đủ bốn công đức
này sẽ được phước nghiệp lớn, được vị cam lồ tịch diệt. Nhưng phước đức này
chẳng thể cân lường. Nói sẽ có phước nghiệp như thế, hư không chẳng thể chứa
đựng. Ví như nước biển chẳng thể đo lường mà nói một hộc, nửa hộc, một lẻ, nửa
lẻ (mười lẻ: 1 thưng) để gọi số cân. Nhưng phước nghiệp này không thể nêu
đủ. Như vậy công đức thiện nam, tín nữ tạo được không thể kể tính; được phước
nghiệp lớn, được cam lồ diệt, nên nói sẽ có phước đức như thế. Thế nên, các
Tỳ-kheo! Thiện nam, tín nữ sẽ đầy đủ bốn công đức này. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy
học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
10. Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nay có bốn loại người đáng kính, đáng quý, là phước điền của đời. Thế nào
là bốn? Nghĩa là gìn giữ lòng tin, vâng theo giáo pháp, tự thân chứng và thấy
được đến nơi.
Thế nào gọi là người gìn giữ lòng tin? Hoặc có một người chịu người dạy dỗ,
dốc một lòng tin, ý không nghi nan. Có lòng tin đối với Như Lai Chí Chân Ðẳng
Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðạo Pháp Ngự,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Họ cũng tin lời Như Lai, cũng tin lời Phạm chí;
hằng tin lời những vị ấy, không chấp giữ trí mình. Ðó gọi là người giữ gìn lòng
tin.
Thế nào gọi là người tự vâng theo giáo pháp? Ở đây có người phân biệt pháp,
không tin người khác, quán sát pháp là có hay không, là thực hay hư. Người ấy
liền nghĩ: "Ðây là lời Như Lai. Ðây là lời Phạm chí". Vì biết đây là pháp ngữ
của Như Lai, người ấy liền phụng trì, còn các lời ngoại đạo thì xa lìa. Ðó gọi
là người vâng theo giáo pháp.
Thế nào gọi là người thân chứng? Ở đây, có người thân tự tác chứng, họ cũng
chẳng tin người khác, cũng chẳng tin lời Như Lai. Họ cũng chẳng tin các ngôn
giáo của các bậc tôn túc nói, chỉ theo tánh mình mà đi. Ðó gọi là người thân
chứng.
Thế nào gọi là người thấy đến nơi? Ở đây, có người đoạn ba kiết sử, thành tựu
pháp Tu-đà-hoàn, chẳng thối chuyển. Người ấy có được cái thấy rằng có bố thí, có
người nhận, có quả báo thiện ác, có đời này, đời sau, có cha, có mẹ, có
A-la-hán... Người ấy thọ giáo, thân tín, tác chứng mà tự du hóa. Ðó gọi là người
thấy đến nơi.
Ðó là, này Tỳ-kheo! Có bốn người này. Hãy nhớ trừ bỏ ba người trên. Nhớ tu
pháp thân chứng. Như thế, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.