KINH TĂNG NHẤT A-HÀM
Việt Dịch: Hòa Thượng
Thích Thanh Từ
Hiệu Đính: Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
PL 2541 - TL 1997
|
MỤC LỤC TỔNG QUÁT
TẬP I
01. PHẨM TỰA
02. PHẨM THẬP NIỆM
03. PHẨM QUẢNG DIỄN
04. PHẨM ĐỆ TỬ
05. PHẨM TỲ-KHEO-NI
06. PHẨM THANH TÍN SĨ (ƯU-BÀ-TẮC)
07. PHẨM THANH TÍN NỮ (ƯU-BÀ-DI)
08. PHẨM ATULA
09. PHẨM MỘT NGƯỜI CON
10. PHẨM HỘ TÂM
11. PHẨM BẤT ĐÃI
12. PHẨM NHẬP ĐẠO
13. PHẨM LỢI DƯỠNG
14. PHẨM NGŨ GIỚI
15. PHẨM HỮU VÔ
16. PHẨM HỎA DIỆT
17. PHẨM AN-BAN (1)
17. PHẨM AN-BAN (2)
18. PHẨM TÀM QUÍ
19. PHẨM KHUYẾN THỈNH
20. PHẨM THIỆN TRI THỨC
21. PHẨM TAM BẢO
22. PHẨM CÚNG DƯỜNG
23. PHẨM ĐỊA CHỦ
24. PHẨM CAO TRÀNG (1)
24. PHẨM CAO TRÀNG (2)
24. PHẨM CAO TRÀNG (3)
25. PHẨM TỨ ĐẾ
26. PHẨM TỨ Ý ĐOẠN (1)
26. PHẨM TỨ Ý ĐOẠN (2)
TẬP II
27. PHẨM ĐẲNG
TỨ ĐẾ
28. PHẨM THANH VĂN
29. PHẨM KHỔ LẠC
30. PHẨM TU ĐÀ
31. PHẨM TĂNG THƯỢNG
32. PHẨM THIỆN TỤ
33. PHẨM NGŨ VƯƠNG
34. PHẨM ĐẲNG KIẾN
35. PHẨM TÀ TƯ
36. PHẨN THÍNH PHÁP
(Dhammasavana)
37. PHẨN
LỤC TRỌNG (1)
37. PHẨN LỤC TRỌNG (2)
38. PHẨM LỰC (1)
38. PHẨM LỰC (2)
39. PHẨM ĐẲNG PHÁP
TẬP III
40. PHẨM THẤT
NHẬT (1)
40. PHẨM THẤT NHẬT (2)
41. PHẨM MẠC ÚY
42. PHẨM BÁT NẠN (1)
42. PHẨM BÁT NẠN (2)
43. PHẨM THIÊN TỬ MÃ HUYẾT HỎI
BÁT CHÁNH (1)
43. PHẨM THIÊN TỬ MÃ HUYẾT (2)
44. PHẨM CHÍN NƠI CƯ TRÚ CỦA
CHÚNG SANH
45. PHẨM MÃ VƯƠNG
46. PHẨM KẾT CẤM
47. PHẨM THIỆN ÁC
48. PHẨM BẤT THIỆN (1)
48. PHẨM BẤT THIỆN (2)
49. PHẨM CHĂN TRÂU (1)
49. PHẨM CHĂN TRÂU (1)
50. PHẨM LỄ TAM BẢO
51. PHẨM PHI THƯỜNG
52. PHẨM ĐẠI ÁI ĐẠO NHẬP NIẾT BÀN
BÀI TỰA
Ý nghĩa của bốn bộ A-hàm đồng với Trung A-hàm ở
phần đầu là nói rõ tôn chỉ, nên không lập lời tựa.
Tăng Nhất A-hàm là so sánh sự mạch lạc của pháp rồi dùng số mà xếp thứ tự. Số
tận cùng là mười, thêm vào một, nên gọi là Tăng Nhất. Mỗi pháp số tăng dần, nên
lấy tăng làm nghĩa. Pháp ấy phần lớn ghi chép về cấm luật để làm mẫu mực nghiêm
nhặt và là điều kiện kiểm định độ đời. Ngoại quốc từ người ở núi đến người ở
biển phần nhiều thường tụng ngâm bốn bộ A-hàm này. Có vị Sa-môn nước ngoài tên
Ðàm-ma-nan-đề, người nước Ðâu-khư-lặc, xuất gia từ bé, học rộng nghe nhiều, tụng
hai bộ A-hàm, ôn điều cũ để ngày càng mới, đi khắp các nước, không nơi nào không
qua. Ðời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên thứ hai mươi, ngài đến Trường An, người nước
ngoài hâm mộ. Quan Thái thú Vũ Oai là Triệu Văn Nghiệp yêu cầu ngài đọc ra; ngài
Phật Niệm dịch truyền; ngài Ðàm Tung sửa chữa. Mùa hạ năm Giáp thân bắt đầu, đến
mùa xuân năm sau thì xong, được bốn mươi mốt quyển, phân làm hai bộ thượng, hạ.
Bộ thượng gồm hai mươi sáu quyển trọn vẹn không bị quên sót, bộ hạ mười lăm
quyển, mất phần ghi kệ. Tôi cùng với Pháp Hòa khảo chính lại; Tăng Lược, Tăng
Mậu phụ giúp xem xét những chỗ thiếu sót, bốn mươi ngày thì xong. Năm này có
trận đánh ở A Thành, tiếng trống gần kề mà chúng tôi vẫn chuyên tâm trong việc
này. Trọn đủ hai bộ A-hàm là một trăm quyển.
Hai ngài Tỳ-bà-sa và Tu-mật-tăng-già-la-đát truyền sang đây (Trung Hoa) năm
bộ kinh lớn. Từ khi Pháp truyền sang phương Ðông, hai ngài là người đọc kinh để
dịch ưu việt hơn hết. Bốn bộ A-hàm do bốn mươi vị cao đức biên tập, mười vị
tuyển chọn một bộ: bắt đầu từ đề mục và chấm dứt bằng bài kệ. Sợ giáo pháp lưu
truyền ở đời lâu ngày bị thất lại, thiếu sót, nên cõi này trước đây ghi lại các
kinh đành rành; trong số ấy nay có hai bộ A-hàm; mỗi mỗi viết lại một quyển mới,
giữ trọn số mục cũ của kinh, ghi chú về sự thêm thắt, mất mát của kinh, khiến
cho người đọc tìm thấy được sự sai khác.
Hai bộ thượng hạ gồm có 472 kinh; phàm các vị học sĩ tuyển chọn hai bộ A-hàm
này, trong đó thường có những lời dạy về luật, người nước ngoài không rõ, xem
Sa-di và cư sĩ cùng như nhau. Từ này về sau, mong rằng cùng giữ gìn điều này như
luật định! Ðây chính là việc cấp thiết của nước ta. Những lời dạy căn dặn đinh
ninh của đức Thế Tôn, xin chớ nghe một cách sơ suất! Học rộng mà không biết giữ
gìn cấm giới là một tỳ vết trong sự thông suốt của giới học sĩ. Khương Hạnh
Tường dịch kinh Trung Bản Khởi, dịch luôn phẩm Ðại Ái Ðạo trong đó mà không biết
đó là kinh cấm, là phép của Tỳ-kheo-ni, rất cần phải cắt bỏ đi. Ðây là một sự
thô lậu lớn, đáng đau xót vậy.
Hai bộ kinh này, bậc đạo sĩ hữu lực mới có thể xem, cần phải để tâm. Còn như
người khinh thường không để ý, mong các vị đồng chí với tôi kêu gọi sửa đổi điều
này!
Ðời Tấn
Sa-môn Thích Ðạo An viết.