THIỀN TÂM TỪ
SỐNG VỚI CHÁNH NIỆM, TRÍ TUỆ & LÒNG BI MẪN
Nguyên Tác: "A HEART AS WIDE AS THE WORLD"
Tác Giả: Sharon Salzberg; Tỳ Kheo Thiện Minh Dịch
PHẦN III
1. SỐNG VỚI TRÍ TUỆ VÀ LÒNG BI MẪN
Xuyên qua lịch sử, chúng ta đã thấy có nhiều nhân vật đã khám phá được chân lý, những người này đã biểu lộ một cảm xúc trọn vẹn bắt nguồn từ sự nhận thức rõ ràng và tình yêu thương. Khi chúng ta nghe đến những con người phi thường như thế, hoặc nếu như chúng được may mắn được một trong những người ấy, chúng ta nhận thấy ở trong bản thân họ có một năng lực tiềm ẩn mà trong mỗi người chúng ta đều có; chúng ta nhớ lại bản chất thật của mình. Sự tu tập thiền định mang lại trí tuệ tiềm ẩn của chúng ta và lòng bi mẫn với cuộc sống. Một khi được phát triển qua sự tu tập, những phẩm chất này nâng cao lên niềm khát khao không cưỡng lại được để giúp đỡ kẻ khác. Sự hiểu biết về mối tương trợ lẫn nhau của chúng ta với tất cả chúng sinh, và những hành
động đó tuôn chảy một cách tự nhiên từ sự kiện này, rồi cũng tiếp tục đưa chúng qua quay trở lại bản chất thật của mình, tạo ra sức mạnh lòng biết ơn và sự tỉnh giác sâu sắc. Năng lực tinh thần này biểu thị trong cuộc sống của chúng ta, trong thế giới riêng biệt hàng ngày của chúng ta. Sống bằng sự tu tập qua hành động chân thành và sự hiểu biết phát sinh tự nhiên do bởi sự dốc lòng đối với sự giải thoát của bản thân mình và cho đến sự giải thoát của tất cả chúng sinh. Trong thực tế chúng ta có thể sống với một tấm lòng rộng mở như thế gian.
2. CUỘC CÁCH MẠNG CỦA ÐỨC PHẬT
Những lời dạy của Ðức Phật cách đây hơn 2500 năm vào lúc đó cấu trúc của xã hội Ấn Ðộ được xây dựng trên một hệ thống triết học cứng nhắc. Theo quan điểm của thế giới được phổ biến vào thời đó, mọi việc đều thuộc về một phạm trù có một bản chất đặc biệt và một bổn phận tương ứng, hoặc một mục đích trong cuộc sống. Ví dụ, người ta xem nó như là bản chất hoặc bổn phận của lửa là để đốt cháy và của đá là cứng, của cây cỏ để mọc và màu xanh, và của bò là ăn cỏ và tạo nên sữa. Trách nhiệm của mỗi con người là nhận ra bản chất của riêng nó và tuân theo một khuynh hướng lý tưởng đặc biệt đối với họ. Khuynh hướng này được xem là một chân lý bất di bất dịch.
Theo khuynh hướng xã hội, khái niệm này được chuyển đổi thành hệ thống đẳng cấp. Người ta sanh ra đã được định trước số phận để đáp ứng bản chất nào đó. Nó là bổn phận của những tầng lớp nào đó hoặc những đẳng cấp của con người để cai trị, của tầng lớp Bà La Môn để làm trung gian với những thế lực thần thánh, và của một số người khác tham gia vào việc sản xuất thực phẩm và vật liệu hàng hóa. Với nhân sinh quan này, những hành động được quan niệm như là luân lý và phù hợp cho một giai cấp hoăc giới tính được cảm thấy hoàn toàn bất diệt với người khác. Nó thích hợp và lợi ích cho một người nam thuộc giai cấp Bà La Môn để đọc và nghiên cứu kinh điển, ví dụ như, trong lúc đó sự kiện này hoàn toàn bị ngăn cấm và được xem thật ghê sớm đối với một ai đó bị khai trừ ra khỏi
đẳng cấp hoặc kẻ hạ lưu.
Theo bối cảnh xã hội này, Đức Phật đã đưa ra giáo pháp có tính chất cách mạng này. Những gì Ngài đã giảng dạy bằng ngôn từ hợp với đạo lý là cơ bản, và nó vẫn còn bơ bản cho tới ngày nay. Ngài tuyên bố rằng việc duyên định một hành động có hoặc vô đạo đức là ý muốn của người thực hiện nó ý định phát sinh ra nó "Không phải do bởi sinh ra là một vị Bà La Môn, hoặc một kẻ vô gia cư", Đức Phật dạy, "nhưng bởi nghiệp. Thực tế, lời dạy này nói lên toàn bộ cấu trúc xã hội Ấn Ðộ - được nhiều người xem là bất khả xâm phạm - là hoàn toàn không có một ý nghĩa tâm linh chút nào.
Ðức Phật tuyên bố rằng chính hoàn cảnh thật sự đã tạo nên sự tốt đẹp của mỗi con người sự tốt đẹp của người đó đạt được nhờ nỗ lực cá nhân, chứ không phải bởi dòng giống, gia tộc. Không đặt thành vấn đề nếu bạn là người đàn ông hoặc đàn bà, sang hoặc hèn, người Bà La Môn hoặc kẻ hạ lưu - một hành động dựa trên lòng tham chắc hẳn sẽ gặp một loại nhân quả nhất định, và một hành động dựa trên tình thương chắc hẳn sẽ gặt được một loại nhân quả nhất định. "Một người Bà La Môn đích thật là người hòa nhã, khôn ngoan và quan tâm", Ngài dạy, như vậy và hoàn toàn phủ nhận sự quan trọng của đẳng cấp trong xã hội, màu da, tầng lớp và giới tính để đổi lấy chuẩn mực đạo đức.
Ðức Phật tuyên bố rõ ràng rằng chúng ta không bị lệ thuộc vào bất cứ tiêu chuẩn khác biệt nào. Khổ đế và sự diệt khổ, bị ràng buộc thật sâu xa đối với hành vi đạo đức của mình, là điều giống nhau cho tất cả mọi người chúng ta. Bất kể người đó đang hành động điều gì, ý định hoặc ý muốn phía sau hành động là hạt giống của nghiệp được gieo trồng. Sức mạnh thôi thúc (nghiệp lực) phía sau hành động như vậy được xem là khía cạnh có quan trọng và tác động mạnh nhất của hành động. Theo cơ bản, những ý định của chúng ta là một biểu hiện về sức mạnh của tâm chúng ta. Việc chuyển đổi sự thúc đẩy của chúng ta biến chuyển toàn bộ cuộc sống của chúng ta; hạnh phúc, mức độ quan hệ của chúng ta với người khác, sự tự do của chúng ta. Chẳng có một điều nào của sự biến này bị gắn chặt
vào vẻ đặc biệt bên ngoài của chúng ta là ai, điều duy nhất là được giữ lại trong khả năng tiềm tàng không giới hạn về những gì mà chúng ta có thể thành tựu.
Bằng cách phủ nhận quyền lực tâm linh đó và khả năng được dành cho một tầng lớp đặc biệt, Đức Phật chấp nhận rằng chúng ta không cần một ai khác nữa để làm trung gian với thần thánh, chúng ta không cần một giai cấp đặc biệt mà bổn phận của họ đã là đi sâu vào tâm linh. Tâm linh ở trong khả năng của mọi người; nó là bổn phận của mọi người, là vai trò của mọi người. Tất cả mọi người có thể sử dụng sức mạnh tỉnh giác cho sự giải thoát của bản thân; chân lý của chúng ta là một sự thật "tự chứng ngộ"; đức tin của chúng ta được thử thách và được cố gắng bởi cảm nhận của bản thân. Một công việc có hiệu quả mạnh mẽ nhất đầu tiên được thực hiện bằng tâm, bởi vì tâm là người tiên phong cho tất cả mọi yếu tố của cuộc sống. Bằng cách vạch rõ cho chúng ta thấy sự quan trọng về
những ý định của mình, Đức Phật cho thấy rõ rằng mỗi người chúng ta đều có bổn phận đối với tâm của chúng ta, và do đó đi đến sự giải thoát của bản thân ta. Một quan điểm vô cùng quen thuộc ở Ấn Ðộ xa xưa cho rằng sự ham muốn xác thịt phát sinh nơi tâm của người đàn ông là do lỗi của người đàn bà, là do kết quả sự cám dỗ của người nữ với người nam. (Có phải điều này nghe có vẻ quen thuộc thậm chí cho đến ngày nay phải không?). Ðức Phật phản bác quan điểm này bằng cách dạy rằng, bất cứ đối tượng nào, bản chất ham muốn phát sinh trong bất cứ tâm của người nào đều giống như nhau, và sự chọn lựa bằng cách nào để đáp lại là trách nhiệm của người đó do sự ham muốn trong tâm của người đó sinh khởi. Cuối cùng, việc chối bỏ trách nhiệm đơn thuần chỉ kết án chúng ta là một người
bị tước quyền trong cuộc sống của mình. Giải thoát là một năng lực tiềm ẩn có thật, nhưng chúng ta làm việc như thế nào với tâm của mình là tùy thuộc nơi chúng ta.
Chỉ bản thân chúng ta mới có thể biết những thôi thúc của mình. Trong bất cứ hành động nào những gì được người ta nhìn từ bên ngoài đơn thuần không khác hơn là một hành động. Nếu như tôi trao cho bạn một cuốn sách, bất cứ ai chứng kiến chỉ sẽ thấy bàn tay tôi đưa ra và tặng bạn cuốn sách. Tôi có thể cho bạn cuốn sách bởi vì tôi thích bạn và muốn bạn có nó. Tôi có thể cho bạn cuốn sách bởi vì tôi biết bạn cần cuốn sách. Tôi muốn và hy vọng rằng bạn sẽ thấy thích hợp để tặng nó làm vật trao đổi; tôi có thể cho bạn cuốn sách bởi vì chúng ta đang ở trong một căn phòng đông người và tôi muốn tỏ ra là một người rộng lượng; hoặc tôi có thể hành động từ nhiều động cơ thúc đẩy khác nhau. Sự khác biệt được nêu ra là một trường hợp điển hình và động cơ thúc đẩy của tôi sẽ trau
dồi tính rộng lượng, hoặc một hình thức khác là tham. Trên cơ sở nhấn mạnh rằng giáo pháp đặt quan trọng sự giải thoát về việc chuyển đổi những ý định của một người, điều đáng phê phán là chúng ta biết rõ những gì về những ý định của chúng ta. Bởi vì ý định của chúng ta nằm trong sức mạnh của tâm, và khả năng thay đổi bản chất.
Trong lời dạy độc nhất này về sức mạnh của ý Đức Phật đã phá vỡ cái bong bóng của giai cấp, xã hội; sự sai lệch của trách nhiệm; sự tôn sùng ngu muội về quyền lực tôn giáo, và sự phân định khả năng theo tiêu chuẩn bên ngoài. Trong lời dạy này Ngài trả lại khả năng giải thoát cho mỗi người chúng ta.
3. CỐ CHẤP
Hai người bạn của tôi đã từng làm việc chung với nhau trong một thời gian, về sau đó có sự bất đồng ý kiến. Họ không trò chuyện với nhau trong một năm - cho tới khi hoàn cảnh đưa họ trở lại gần gũi với nhau chỉ trong vài phút. Mặc dù đó chỉ là một khoảng thời gian ngắn ngủi, nhưng họ có sự giải hòa chân thành. Một thời gian ngắn sau đó, một trong hai người bạn ấy bất ngờ bị bệnh nặng. Trong khi chúng tôi chờ đợi sự chẩn đoán, tôi đã gọi điện cho một người bạn khác biết. Sau đó tiếp tục bình luận về sự việc mà chúng tôi không biết sẽ xảy ra thế nào; cô ta phản ánh một cách chân thành về mối quan hệ được phục hồi của họ. "Tôi thật sung sướng biết bao khi chúng tôi có những khoảnh khắc bên nhau" cô ta nói. Rồi hồi tưởng lại một tình huống khác mà ở đó mà cô ta vừa mới
từ bỏ những gì xấu xa từ một sự mâu thuẫn cá nhân đã qua, chị ta nói một cách phấn khởi, "Tôi hơi cố chấp!" Tôi yêu cái lối bình luận đó. Thực tế, bởi vì chúng ta không biết được điều gì sẽ đến với mình ở bất cứ lúc nào, có một sự nhẹ nhõm lớn lao ngay lúc này "hơi cố chấp" chính xác hơn là theo đuổi dấu vết những điều phẫn uất, những điều gây phiền muộn, và những cảm xúc không nói nên lời.
Dựa trên một phần của sự hiểu biết là thật sự chúng ta không bao giờ biết chúng ta sẽ gặp nhau trở lại. Những cộng đồng tu sĩ châu Á có một nghi lễ tha thứ chính thức khi từ biệt. Lần đầu khi U Pandita đến dạy ở Trung tâm Thiền Minh Sát Tuệ, đó là lần đầu tiên Ngài làm việc hoàn toàn với những người phương Tây. Ðó là một khóa tu tập thiền tích cực. Trong lúc đó nhiều người trong chúng tôi nhận ra được một lợi ích cá nhân tuyệt vời khi làm việc với thiền sư, nhưng cũng có một số điều hiểu lầm về văn hóa. Khi U Pandita chuẩn bị rời Thiền viện, khi buổi lễ kết thúc khóa thiền, thiền sư nói rằng "Nếu tôi đây đã làm tổn thương hoặc làm hại đến quývị bằng bất cứ hình thức nào, hoặc cố ý hoặc vô tình, tôi đây xin được tha thứ". Và nếu quý vị đã làm tổn thương tôi bằng hình
thức nào đó vô tình lầm hoặc cố ý, tôi tha thứ cho quý vị". Bằng hình thức này thiền sư có thể ra đi mà không mang theo những ghi sâu về bất cứ sai dựa trên quá khứ. Không một ai sẽ bị in hằn vào tâm khảm của Ngài như là "một người đã nói điều không thích hợp" hoặc "một người thường không theo bất cứ sự dẫn dắt nào". Và Ngài có thể vượt qua bất cứ phẫn nộ hoặc những cảm xúc tồi tệ bất cứ ai có thể mang lại cho Ngài. Ngài đã thực hiện điều này không vì những vấn đề đã hết sức tồi tệ trong suốt khóa thiền nhưng bởi vì nó được xem là một tính cách thích hợp của lời nói tạm biệt. Nó phản ánh tính chất quan trọng của sự đoạn trừ những cảm nhận quá khứ để chúng ta không mang theo những ấn tượng sâu sắc của nhau.
Thực ra, khi tôi gặp lại thiền sư U Pandita khoảng sáu tháng sau đó, tôi cảm thấy rất khác lạ, và Ngài dường như khác lạ đối với tôi. Mặc dù mối quan hệ trước đây của chúng tôi rất tốt, điều này như thể mối quan hệ của chúng tôi đang bắt đầu trở lại, và sự mới mẻ của một sự mở đầu khác thật tuyệt vời. Bởi vì Ngài đã thực hiện nghi lễ đó cách đây sáu tháng, chúng tôi có thể gặp nhau mà không bị ràng buộc bởi những cảm nhận lúc trước, tốt hay xấu. Hình thức tha thứ này tạo nên khả năng của sự gặp gỡ một ai đó chúng ta biết sau khi chia tay, và cả hai cùng đến với nhau với những tấm lòng rộng mở. Và nếu chúng ta không gặp nhau trở lại, chúng ta sẽ không bị trói buộc với bất cứ mối quan hệ vướng mắc dây dưa. Chúng ta sẽ bị "ràng buộc".
Mang một mối thù hằn có thể cảm thấy giống như một hình thức an toàn: "Tôi biết mình là ai. Tôi là người bị làm tổn thương bởi một người nào đó và sẽ luôn luôn nổi giận với anh ta". Nhưng cái cảm giác an toàn đó là giả tạo; nó không bao gồm sự biết rõ chắc chắn về cái chết của bản thân và của người khác. Khi tử thần ra tay, chúng ta đau khổ cùng với tiếc nuối đắng cay về những sự việc sẽ mãi mãi lưu lại không tỏ bày ra được và những cảm giác sẽ không được truyền đạt. Thời gian cho sự đuổi kịp là bây giờ. Không còn đủ thời gian cho sau này, hoặc bất cứ sự vững chắc nào về những gì tương lai nắm giữ. Bất cứ cách nhìn hiện thực nào khác đều được xây dựng lên từ cái tâm bởi vì nó tin tưởng rằng một ngày nào đó chúng ta phải chết đi.
Mọi lời từ giã mà chúng ta nói trong cuộc sống của mình là một sự từ bỏ hoàn toàn để đi vào một nỗi chưa hề biết đến. Và như vậy, ở mỗi cuộc chia tay đều có một dịp để chấp thủ vào, để giải phóng bản thân khỏi những trạng thái tâm tiêu cực, và dâng hiến sự giải thoát này cho những người khác.
4. LỖI LẦM
Cách đây vài năm Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã dành nhiều tuần để dạy về "Pháp kiên nhẫn" ở Tucson, Ariszona. Có hơn 1200 người đã tham dự . Tất cả mọi người chúng tôi đều nghỉ ở khách sạn bên ngoài thành phố, biến đổi một địa điểm thương mại trở thành một trung tâm thiền. Mỗi buổi sáng và chiều Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thường phụ trách, và vào những buổi tối, những thiền sư Phật giáo phương Tây chúng tôi sẽ nói về những "khía cạnh đặc biệt về pháp kiên nhẫn". Sylvia Boorstein và tôi là hai thiền sư phương Tây đầu tiên trong chương trình sẽ giảng pháp. Tôi phải thú nhận là mình cảm thấy một chút lo âu hồi hộp khi nói chuyện trước một số khán thính giả đông như vậy, và tôi muốn hiểu rõ một việc "một cách tường tận". May mắn thay, một ít đêm sau đó, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma với tính cách
tuyệt vời của Ngài, đã đem lại cho tất cả chúng tôi một lời dạy sâu sắc thật sự về "việc hiểu rõ nó một cách tường tận".
Ngài đang phân tích một chương của Shantideva, "Hướng dẫn đến cách sống của Bồ Tát - Nhập Bồ Tát Hạnh", một bản kinh thuộc thế kỷ thứ 8 bao hàm toàn bộ con đường dẫn đến sự giác ngộ. Ði hết dòng này sang dòng khác của bản kinh, đức Ðạt Lai Lạt Ma trình bày sự chú giải của Ngài bằng tiếng Tây Tạng, và trong khi nó được người khác phiên dịch, thì Ngài xem xét những dòng kế tiếp Ngài sẽ trình bày. Vốn tiếng Anh của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma khá tốt, và vào một điểm phát biểu trong phần dịch, Ngài xem bản kinh và nói với người phiên dịch "Anh đã nhầm rồi. Ðó không phải là những gì tôi đã phát biểu". Sự bất đồng tiếp theo là về vấn đề cú pháp - có phải Shantiveda khi đưa ra một quan điểm về pháp kiên nhẫn, đã nói "Bà ta nói điều đó với anh ta" hoặc "Anh ta đã nói điều đó với
bà". Người phiên dịch đáp lại bằng cách nói rằng "Thưa Ngài, tôi không nhầm. Theo thực tế bản kinh viết "Anh ta đã nói điều đó với bà ta". Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trả lời "Không, bản kinh viết "Bà ta đã nói điều đó với anh ta".
Người phiên dịch lại không đồng ý, và rồi họ thảo luận lại trong một lúc: "Anh ta đã nói điều đó với bà ta". Không, "Bà ta đã nói điều đó với anh ta", và v.v... Sau đó Ðức Ðạt Lai Lạt Ma lật trở lại các trang trong bản kinh cho tới khi tìm được phần tranh luận. Ngài xem nó, rồi bật tiếng cười lớn, nói một cách vui vẻ, "Ha, ha, ha! Ôi, tôi sai rồi".
Chính là Ngài đang mắc phải một lỗi lầm trước 12000 người, nhưng vẫn phá lên cười ầm ĩ về việc này. Tôi không chắc là mình có thể cười một cách thật thoải mái như thế nếu như tôi đã nhầm lẫn khi đang nói chuyện trước 12000 người vào mấy đêm trước đó. Ngài đóng một vai trò tuyệt vời một mẫu người có tấm lòng bao dung độ lượng, đầy nhiệt huyết tự nhiên xuất hiện khi chúng ta không còn bảo vệ một khái niệm thường có về sự việc chúng ta là ai.
Khi chúng ta cố gắng đưa ra một hình ảnh nào đó, hoặc do một ai đó đặc biệt, hoặc hoàn hảo và chưa bao giờ có một lỗi lầm, đều có một sự khắt khe trong lòng. Khi chúng ta để cho lòng mình thoải mái, không làm ra vẻ là "một ai đó đặc biệt", chúng ta có thể thật sự là ta, với tính trung thực, với quan điểm bao dung, và với lòng bi mẫn. Những phẩm chất này là những điều kiện của sự giải thoát, bất cứ điều gì đang xảy ra. Và khi chúng ta thật sự thảnh thơi, bao dung, chúng ta có thể giống như Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, có thể cười lớn vui vẻ khi chúng ta mắc sai lầm.
5. NĂM TRIỀN CÁI
Vào buổi sáng nọ có một phụ nữ rời khỏi căn hộ của mình để đi làm việc. Bà ta đi xuống đường, rút chìa khóa và mở khóa chiếc xe hơi của mình. Ngay khi bà ta tra chiếc chìa khóa vào ổ khóa của xe, bà ta nhận thấy rằng chiếc xe dường như thấp gần mặt đất hơn thường lệ. Khi bà ta nhìn xuống và hết sức sửng sốt, trông thấy bốn bánh xe đã bị đánh cắp! Phản ứng tức khắc của bà ta là rảo nhanh đến trung tâm thương mại gần nhất và mua cho mình một bộ đồ ngủ bằng lụa như là một cách để trấn an mình. Chỉ như vậy sau đó bà ta có thể quay về nhà và gọi cảnh sát.
Bạn của tôi, Sylvia Boorstein, cũng là một thiền sư, dùng câu chuyện này như một cách để mô tả (ngũ triền cái) năm trở ngại. Trong giáo pháp của Ðức Phật, năm triền cái là tham dục, sân, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi. Chúng đặc biệt dùng để mô tả những trạng thái tâm làm cho chúng ta mất tập trung khi tu tập thiền, nhưng chúng là những trạng thái tâm thần làm chúng ta mất chánh niệm về những gì đang xảy ở bất cứ khoảnh khắc nào. Khi bị cuốn hút vào những trạng thái tâm thần nầy, cảm xúc của chúng ta về những gì có thể xảy ra đều bị giới hạn. Tâm của chúng ta không thể hoạt động một cách thoải mái và bao dung. Hơn thế nữa, mỗi người trong chúng ta có khuynh hướng phản ứng lại với những hoàn cảnh trong đó có một người nổi bật hoặc hình thức khác của những tính cách
này.
Trong câu chuyện về những chiếc vỏ xe bị đánh cắp, phản ứng của một người đối với tình huống là một thí dụ hoàn hảo về trạng thái tâm của một ai đó bị cuốn vào sự trở ngại của tâm tham. Bây giờ chúng ta hãy tưởng tượng một người nào đó có một khuynh hướng mạnh mẽ về giận hờn (sân) hơn là tham. Người này đi xuống lầu, bắt đầu tra chìa khóa vào cửa xe, và sự việc giống như trên xảy ra - bà ta phát hiện thấy vỏ xe mình bị đánh cắp. Bà nổi giận và đá vào chiếc xe, bà ta đá vào chiếc xe rồi quay trở lại chung cư và la lối với người bảo vệ. "Tại sao ông không quan tâm cẩn thận hơn?" Khi bà ta đến sở làm, bà ta giận dữ và nổi cáu với bất cứ ai ở đó. Rốt cuộc, sự việc dường như có lý với bà ta là sự khó chịu có thể chia xẻ cho mọi người.
Tiếp đến là một người có thói quen uể oải lười biếng (hôn trầm). Bà ta đi đến chiếc xe của mình và phát hiện các bánh xe bị mất cắp. Sau đó bà quay trở lại căn hộ, không đi đến sở làm nữa, và nói "Tôi không thể xử lý được, tôi quá mệt mỏi chán chường. Ngày mai tôi sẽ đi làm việc". Bà ta nằm nghỉ một vài giờ, và chỉ như vậy bà ta mới có năng lực để đối phó với tình huống.
Rồi có một người có thói quen không giữ được bình tĩnh, bất an. Bởi vì bất an thường biểu hiện bằng sự việc dễ bực bội và cáu gắt, một khía cạnh của trở ngại này là trạng thái lo âu. Mẫu người này khi phát hiện ra những bánh xe của mình bị mất, và bắt đầu lo âu, cáu gắt. Bà ta lại nghĩ thầm "Hôm nay là mấy cặp vỏ xe; ngày mai là chiếc xe, rồi sau đó đến mình".
Cuối cùng là trở ngại hoài nghi, sự kiện này biện hộ trong bản thân chúng ta là "bị si mê" khi chúng ta bị cuốn vào sự hoài nghi, chúng ta không biết phải làm gì tiếp theo đó. Năng lực và sự tỉnh giác của chúng ta bị sụp đổ. Mọi thứ đều như để tan vỡ, và không kiểm soát được tâm vì nó nhảy từ việc này sang việc khác. Trong tình huống những vỏ xe bị đánh cắp đặc biệt này, trạng thái tâm có thể là tự thán và tự nghi ngờ. Người phụ nữ trông thấy mấy cặp vỏ xe bị đánh cắp nhưng chỉ đứng đó và nói thầm "Tại sao tôi luôn luôn tạo ra những sự chọn lựa tồi tệ như thế? Tại sao tôi lại đậu xe ở đây? Tại sao tôi lại sống ở trong khu phố tồi tệ như vầy? Ðây là tất cả lỗi lầm của tôi". Không biết làm gì hơn ngoại trừ oán thán bản thân, bà ta cảm thấy bối rối và hồ nghi, và
không thể đưa ra một hành động hữu dụng để cải thiện tình huống.
Chúng ta gọi câu chuyện này là "Chuyện về Tham, Sân, Si, Hôn trầm", hoặc, bởi vì đôi lúc chúng ta cảm thấy rằng mình đang chiến đấu với 5 trở ngại (ngũ triền cái) cùng một lúc, nó cũng được gọi là "Câu chuyện về Tham, Sân, Si, Hôn Trầm và Trạo cử". Tuy thế, bất kể nhiều trở ngại phát sinh trong tâm, hoặc bất kể chúng có thể sâu sắc như thế nào, chúng ta không cần phán xét chúng hoặc bản thân chúng ta đối với sự tồn tại của chúng. Trí tuệ, được đạt do nhờ chánh niệm, cho chúng ta thấy rằng chúng hoàn toàn là những trạng thái tâm đi qua. Chúng ta nhận thức chúng rõ ràng cùng với một ý tưởng thông thoáng. Như vậy chúng ta không còn bị bó buộc để hành động bằng một tính cách đặc biệt, được kiểm soát bằng trạng thái tâm đó.
Như vậy vào một buổi sáng, khi chúng đi đến xe hơi của mình và phát hiện ra những vỏ xe bị đánh cắp. Chúng ta cảm thấy một sự thôi thúc để đi mua bộ áo ngủ bằng lụa, hoặc đổ lỗi cho mọi người; chúng ta đối mặt với những phiền muộn rắc rối của mình, hoặc đi nghỉ, hoặc có những nỗi lo âu của chúng ta nảy sinh ra nỗi lo lắng sâu sắc, hoặc suy sụp trở thành hoài nghi và hoang mang. Mặc dù một hoặc một số những khuynh hướng này buộc phải phát sinh, nếu chúng ta có chánh niệm về chúng thay vì bị chúng lôi kéo, chúng ta sẽ có một sự mở rộng của tâm. Bằng sự mở rộng này, chúng ta có sự tự do để quyết định phản ứng của mình đối với bất cứ tình huống nào.
6. Ở GIỮA CON ÐƯỜNG TRUNG ÐẠO
Giáo pháp của Ðức Thế Tôn được mọi người biết đến là Con Ðường Trung Ðạo, bởi vì nó tránh những điều thái quá của sự thỏa thích trong những cảm giác, mặt khác là khổ hạnh quá mức và tự hành xác. Cuộc đời của Ðức Phật trước lúc thành đạo, theo như được truyền lại, bao gồm hai cực đoan này. Khi Ngài còn là thái tử Siddhattha, Đức Phật sống trong hào nhoáng thỏa thích dục lạc. Chuyện kể rằng cha mẹ của Ngài hết sức quan tâm đến nỗi Ngài không biết đến bất cứ sự bất hạnh nào, họ dùng những thợ làm vườn làm việc suốt đêm thâu để hái những bông hoa tàn, héo úa, để cho thái tử không bị lụy phiền vì hình ảnh héo úa của bông hoa.
Cuối cùng, khi Thái tử Siddhattha chứng kiến được khổ đau thật sự vẫn tồn tại trong thế gian, Ngài bị thôi thúc buộc phải đi tìm chân lý. Ðầu tiên Ngài đi theo con đường tự hành xác kéo dài trong sáu năm. Ngài sống một cuộc đời xuất gia và cực kỳ khổ hạnh. Vào thời đó ở Ấn Ðộ, người ta tin rằng bằng cách hành hạ thân xác, người ta có thể giải thoát tinh thần, có thể giúp nó bay vút lên vượt qua những kiềm tỏa của thế giới trần tục. Tuy thế, sau nhiều năm tu ép xác khổ hạnh, Ðức Phật nhận ra sự thỏa thích dục lạc quá độ cũng như sự thiếu thốn quá mức cũng không dẫn đến mục đích giải thoát thật sự.
Thế giới dục lạc thỏa thích quá mức là đầy hoan lạc nhưng trống rỗng, và nó bao bọc xung quanh ta bằng một đám sương mù làm cho chúng ta không tìm được bất cứ điều gì sâu sắc hơn. Trong khi ấy, chúng ta đang say sưa với những cảm giác, nỗi thống khổ của kẻ khác đe dọa tính tự mãn thích thú kèm theo cuộc sống phóng túng buông thả của chúng ta. Như vậy chúng ta có khuynh hướng không quan tâm đến nỗi khổ của những người khác, cùng với nỗ lực che dấu nỗi đau khổ trong lòng mình. Và như vậy chúng ta chấm dứt cách sống cách biệt với cuộc sống trọn vẹn.
Tương tự, con đường tự hành xác và khổ hạnh chỉ củng cố những cảm giác tự phản và tự căm thù, làm cho chúng ta xa cách với tình thương, đó là ở phần quan trọng nhất của sự biến chuyển tâm linh. Ngày nay chúng ta không thể bị lôi cuốn trở thành những đạo sĩ khổ hạnh và tu ép xác, nhưng chúng ta vẫn lạm dụng và khinh bỉ thân xác với những hy vọng tìm được hạnh phúc, như đã được nhìn thấy ở bệnh dịch căng thẳng tinh thần (ăn uống mất ngon) trong xã hội của chúng ta. Thêm nữa, có lẽ được che giấu nhiều hơn, hình thức tự hành xác là tạo nên những mối quan hệ giày vò ngay chính tâm của bản thân chúng ta, như thể là một sức mạnh lăng mạ của sự tự kiểm điểm bản thân và tự căm thù bằng một cách nào đó để giải thoát chúng ta.
Ði theo con đường Trung Ðạo giữa hai cực đoan này không có nghĩa theo một chút buông thả và một chút ép xác và pha trộn lẫn nhau. Sự việc không như thể là ta nhủ thầm, "Chà, tôi đã trải qua mấy ngày buông thả, có thể đây là lúc để ép xác. Nếu sống một vài ngày tương đương nhau ở hai khuynh hướng, chúng sẽ mang lại sự quân bình". Con đường Trung Ðạo không phải là việc tầm thường, tìm ra được mẫu số chung thấp nhất của hai cực đoạn về sự buông thả và tự hành xác và hoàn toàn thụ động. Ðúng hơn, đó là việc nhận thức được sự căng thẳng tinh thần và sự đau khổ của mỗi cực đoạn và đi đến một nơi khác lạ hoàn toàn, ở đó người ta không rơi vào một trong hai phạm vi này. Chúng ta không bị cuốn theo hai cực đoan này.
Con Ðường Trung Ðạo là sự quân bình của tính chính trực đạo đức, tập trung tư tưởng và tuệ giác trong sáng. Chúng ta tìm ra được Con Ðường Trung Ðạo, nơi quân bình, từ một cách nhìn lại bản thân chúng ta trọn vẹn, về những gì chúng ta có khả năng biết được hạnh phúc tìm ra ở nơi nào. Và chúng ta theo đuổi nó vì lòng yêu thương cho bản thân và những người khác, bắt nguồn từ sự nhận thức đầy lòng biết ơn và phấn khởi về tiềm năng của chúng ta là giải thoát và vì lợi ích cho thế gian. Hiểu biết được chân lý hạnh phúc tìm ra nơi đâu, chúng ta cống hiến hết mình cho điều chúng ta cần đến và chúng ta cảnh giác về những gì chúng ta không cần.
Ði theo Con Ðường Trung Ðạo là một tiến trình khám phá liên tục từng khoảnh khắc. Chúng ta không thể dựa vào con Ðường Trung Ðạo của Ðức Phật đi qua 2500 năm trước, hoặc thậm chí ngay chính bản thân mình khám phá ra nó ngày hôm qua. Bao dung , tế nhị và sống động, chúng ta phải nhận ra nó liên tục từng mỗi khoảnh khắc. Nhờ sự tỉnh giác và sự thương xót cho bản thân và người khác, chúng ta khám phá cái vị trí trong thân chúng ta đó là sự biểu hiện của cái tâm được giải thoát. Như thế, Trung Ðạo vừa là con đường vừa là sự biểu hiện tự do và giải thoát.
Bởi vì có vô số lần và những tính cách chúng ta phải đối phó với nó hàng ngày, con đường Trung Ðạo được xem như là một đường vô cực nó là một hình dáng bất thường mô phỏng bằng những dáng tương tự trên một phạm vi những kích cỡ to lớn. Ví dụ như, theo tự nhiên, thông thường một phần nhỏ của một vật gì xuất hiện trong một tỷ lệ thu gọn giống như một mô hình nhỏ trọn vẹn. Những bờ biển bị lởm chởm khi người ta nhìn cách một khoảng thật xa từ vệ tinh, từ một chiếc phi cơ, hoặc đứng từ một vách đá dốc ngay trên chúng. Toàn bộ một chiếc lá dương xỉ trông giống như một kiểu phóng đại của những phần nhỏ hơn của nó. Những dãy núi cũng có những hình dáng gồ ghề, bất thường như thế khi chúng ta nhìn chúng từ một khoảng cách thật xa hoặc nhìn chúng cận cảnh ở những mẫu đá
granit. Ngay cả hệ thống thái dương hệ bao la cũng giống như một nguyên tử được phóng đại khổng lồ.
Mỗi và từng khoảnh khắc tìm được sự quân bình giữa hai cực đoan tự hành xác và buông thả là một khuôn mẫu hoàn hảo của Con Ðường Trung Ðạo tuyệt vời dẫn đến giải thoát mỗi khoảnh khắc quân bình là một khớp nối của toàn bộ con đường bằng sự trọn vẹn của nó. Giải thoát không chỉ là mục đích nhận ra trong tiến trình mở rộng liên tục. Trên Con Ðường Trung Ðạo, chúng ta tìm thấy sự giải thoát không chỉ ở lúc kết thúc chuyến hành trình, mà ở chính giữa, và ở chính giữa của con đường, hơn thế nữa, ở chính giữa của chính giữa của con đường. Mỗi bước chân trên con đường đi đến giải thoát là mỗi bước chân giải thoát.
7. NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN Ở BỨC TƯỜNG PHÍA TÂY
Bức Tường Phía Tây ở Jerusalem, từng được mọi người biết đến là Bức Tường Than Khóc, nó được xem là một trong những địa điểm thiêng liêng nhất của thế giới Do Thái giáo. Nó là một Bức Tường còn lại của một ngôi đền lịch sử được xây dựng vào thế kỷ thứ 2 trước CN. Có một phong tục thiêng liêng liên quan đến việc viết một lời cầu nguyện trên một mảnh giấy và đặt mảnh giấy trong một khe ở một nơi nào đó trong Bức Tường. Khi tôi ở Jerusalem, tôi đã đến đó đặt những lời cầu nguyện trong Bức Tường cùng với những lời cầu nguyện của những người khác.
Tôi theo phong tục này trong tinh thần lời cầu nguyện đầy ý nghĩa nhất đối với tôi, đó là không phải viết cho một đấng tối cao hoặc dùng để van xin, nhưng chính xác hơn là trong tinh thần của tâm từ, sự tu tập tâm từ (Metta) tâm từ có nghĩa là tấm lòng hướng về hạnh phúc và an lạc đến tất cả chúng sinh và hướng thẳng sức mạnh của ý định của chúng ta trong sự nhận thức mục đích đó. Như vậy, trên mảnh giấy của tôi, tôi đã viết ra những lời cầu nguyện của tôi cho những người bạn bị bệnh tật, và những người bạn có bố mẹ qua đời v.v..., rồi đặt nó vào trong những lời cầu nguyện của người khác vào một trong những khe hở của Bức Tường.
Ngày hôm sau, tôi trở lại Bức Tường đó, tôi nhận thấy mảnh giấy của tôi vẫn còn ở đó, dường như đáng ngạc nhiên, xét cho cùng có đến hàng trăm người đặt những lời cầu nguyện của họ vào trong Bức Tường mỗi ngày. Với một lý do nào đó, đối với tôi nó là một điềm lành vì mảnh giấy của tôi không rơi ra ngoài hoặc bị rớt xuống đất.
Ngày hôm sau tôi trở lại Bức Tường để kiểm tra. Lần này tôi không còn chắc rằng tôi có thể tìm thấy mảnh giấy màu vàng nhỏ bé của tôi với những lời mong ước cho hạnh phúc và tốt đẹp đến với những bè bạn của tôi, và tôi để lại cái cảm giác hơi chút thất vọng.
Khi tôi trở lại vào ngày thứ tư, tôi lại càng khó chịu hơn, bởi vì bây giờ tôi không thể phân biệt mảnh giấy đặc biệt của tôi với tất cả những mảnh khác. Nó vẫn còn đó hay đã rơi mất?
Vào ngày thứ năm, khi tôi trở lại, trong lòng vẫn còn bận tâm về mảnh giấy của mình, tôi biết nó không còn hy vọng. Bức Tường đã phủ đầy hàng ngàn mảnh giấy khác, tất cả đều mang những lời cầu nguyện, tôi sẽ chẳng bao giờ biết được điều gì đã xảy đến với tôi.
Bất ngờ sau đó, tôi nhận ra sự cố chấp với mảnh giấy mang lời cầu nguyện đặc biệt của tôi thật vô lý biết bao. Ðột nhiên, sự việc không thành vấn đề là tôi có thể phân biệt những lời cầu nguyện của mình với tất cả những lời cầu nguyện khác. Mỗi lời cầu nguyện theo tính cách nào đó vang vọng lại với từng lời nguyện khác. Mỗi người chúng ta đã đi đến Bức Tường thể hiện cách diễn đạt của chúng ta với sự thôi thúc cơ bản quen thuộc là hướng về hạnh phúc, an lạc, cho bản thân mình và những người chúng ta yêu mến. Không đặt thành vấn đề những gì đặc biệt, thực tế tất cả những gì đặc biệt, thực tế tất cả chúng ta đều cầu nguyện chung một điều. Không còn đặt vấn đề nữa là tôi đang xem mảnh giấy của mình hoặc bất cứ mảnh giấy nào của người khác. Những ước mong của tôi phản
ánh trong những lời cầu nguyện của họ và ngược lại.
Bất kể chúng ta cầu nguyện thế nào hoặc bằng ngôn ngữ gì, bất kể tôn giáo nào chúng ta đang tu tập, bất kể xứ sở nào chúng ta đến, cơ bản là tất cả chúng ta đều mong muốn cùng một điều: được hạnh phúc, an lành và giải thoát. Vào ngày đó, đứng trước Bức Tường Phía Tây, tiếng than khóc chung của toàn thể chúng sinh mong muốn là hạnh phúc, luôn cả bản thân tôi, vang lên cùng một tiếng nói.
8. MỘT CÁI GÌ ÐÓ HOẶC KHÔNG
"Tại sao có một điều gì khi không thể có điều gì?". Có một lần bạn của tôi nói rằng đây là câu hỏi chính đáng sau những tác phẩm triết học của Ludwig Wittgenstein. Sau khi đó, khi tôi đang thảo luận tư tưởng này với một người bạn khác, chị ta nói "À, là các tu sĩ Phật giáo, chúng ta cũng có thể hỏi, 'Tại sao không có gì khi có thể có một cái gì?'" Thực sự theo tôi nghĩ, tại sao không có điều gì tồn tại, không điều gì là có thực, trong khi dường như nó giống có thể có một điều gì đó? Toàn bộ thế giới này có thể phát sinh bằng cách nào, tuy thế không có một điều gì để bám víu được? Làm cách nào toàn thể vũ trụ có thể xuất hiện, rồi chỉ để tàn lụi theo thời gian?
Phần nhiều nỗi khổ riêng tư của chúng ta được tạo nên do bởi rơi vào một trong hai quan điểm quá khích về đời sống thực tại - là mọi thứ là một cái gì đó hoặc không là gì cả. Theo một quan điểm chúng ta cảm thấy rằng có một điều gì an toàn hoặc có thực là được nhận ra ở một nơi nào trên thế gian. Chắc hẳn phải có một điều gì tồn tại mà chúng ta có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hoặc biết. Sau đó mọi vật tạo ra nhiều thực thể, bởi vì chúng ta có niềm hy vọng liên tục là có một nơi nào đó có sự an toàn tuyệt hảo và hạnh phúc vững bền, và chúng ta tiếp tục tìm kiếm nó, rồi chỉ là thất vọng. Khi chúng ta bị dính mắc hoặc bị cuốn dính vào quan điểm này, chúng ta bám víu và chấp vào một thế gian thay đổi và vẻ bên ngoài, rồi chúng ta đau khổ.
Một quan điểm quá khích khác toàn bộ chẳng có gì để trở thành vấn đề. Mọi vật là một hình thức rỗng không, và chúng ta sống trong vô thức, trong sự nổi loạn vô vọng. Quan điểm đoạn diệt này dẫn đến tình trạng tê liệt. Nhân sinh quan này nói rằng, "Bởi vì mọi vật trống rỗng và không có thực thể, dù gì đi nữa chẳng có điều nào tạo nên sự khác biệt? Tại sao phải thực hiện bất cứ điều gì? Chúng ta rơi vào sự lãnh đạm, cô lập và đau khổ.
Con Ðường Trung Ðạo của Ðức Thế Tôn tránh xa cả hai quan điểm quá khích này.Vạn vật không phải thường còn, cũng không trống rỗng sự biểu hiện duy nhất của thực thể. Cuộc sống của chúng ta dựa vào cái nơi rất mong manh đó, ở đấy mọi điều kiện phát sinh, và tuy thế nó không có thực thể, không có thực. Thực thể là mơ hồ, lờ mờ, và sinh động; và tuy vậy nó không có thực thể, mong manh và chúng suy tàn. Bởi vì nó diễn tả nên lời sự nghịch lý này, Đức Phật thường dùng những hình ảnh để mô tả bản chất của sự hiện hữu. Ngài dạy rằng chúng ta cảm nhận cuộc sống giống như cái cầu vồng, tiếng vang dội, giấc mơ, giống như giọt sương trên cọng cỏ, như tia chớp trong bầu trời mùa hè.
Nhờ có tuệ giác, chúng ta thấy được có và không của sự hiện hữu. Chúng ta thấy rằng bất cứ điều gì có thể biết được với thân hoặc tâm này, biết được nhờ bởi những cảm giác của chúng ta, là thoáng qua và không có thực, giống như chiếc cầu vồng. Chúng ta cũng thấy rằng cảm nhận của chúng ta sinh rồi diệt phù hợp với định luật thiên nhiên, chẳng hạn như luật của nghiệp. Chúng ta thấy rằng mình không sống trong một vũ trụ ngẫu nhiên, vô thức, không thứ tự. Có điều kiện trong thế gian, tương trợ lẫn nhau, và có mối quan hệ.
Khi chúng ta cảm nhận sự mong manh, sự yếu ớt, không vững bền của cuộc sống, chúng ta có khả năng phát triển trí tuệ. Khi chúng ta cảm nhận mối quan hệ trong cuộc sống, mối tương trợ lẫn nhau, chúng ta phát triển tình thương. Không ai sống tách rời khỏi người khác. Ðúng hơn là họ giống như hai cánh của con chim. Như nhà thơ Issa viết:
Thế giới của sương
Chỉ là thế giới của sương –
và thế nhưng
"và thế nhưng" điều mà chúng ta mang nặng trong trái tim mình và ở đây điều nghịch lý bề ngoài toàn bộ lại xảy ra như thế.
9. GIỚI LUẬT CHO NHỮNG NGƯỜI KHÔN KHÉO
Tôi và một số bạn bè đang trò chuyện; lúc ấy, một người trong bọn tôi đề cập đến một loạt những cuốn sách vi tính với các tựa đề như Microsoft Word for Dummies (Phần mềm Word cho những kẻ ngốc) và Windows for Dummies (Phần mềm Windows cho những kẻ ngốc). Anh ta nói rằng có nghe một ai đó cũng sẽ viết một quyển sách gọi là tình dục dành cho những người ngốc nữa - Sex for Dummies. Sau đó một người bạn khác nói thêm tình dục dành cho người ngốc thì quá dễ dàng. Cuốn sách chúng tôi cần là "Tình dục dành cho người thông minh" - Sex for Smart People . Hoặc có lẽ một tựa đề chính xác hơn cho cuốn sách chúng ta thật sự cần đến là "Tình dục khéo léo dànhcho bất cứ ai" - Smart Sex for Anybody .
Chúng ta có thể nhớ lại tất cả những hành động mà mình đã thực hiện dẫn đến khả năng dành cho bất cứ số lượng những tập sách được viết về hành động không khéo léo và tạo nên đau khổ. Câu hỏi chúng tôi cần được hỏi là: Làm cách nào chúng ta có thể tránh xa những hành động này và sống khôn khéo? Khi chúng ta đã phát triển sự hiểu biết rõ ràng, chúng ta nhận thấy rằng việc tìm kiếm hạnh phúc thật sự tùy thuộc vào việc ôn luyện về các tập sách "khôn khéo" như: Smart Sex for All People, Smart Communication for All People, The Intelligence Loving Yourself for All People hoặc The Wisdom of Caring for Others for All People. Thật sự, những giới luật của Phật giáo có trên 2500 năm có thể được xem như là nền tảng của những cuốn sách như thế này.
Ðối với những người tại gia, chỉ có 5 giới luật cơ bản (Ngũ giới) được truyền dạy. Giới thứ nhất là tránh sát sinh bất cứ sinh vật nào. Dựa trên mối quan tâm của chúng ta đến tất cả chúng sinh, sự kiện này phát triển một sự tôn kính trong chúng ta đối với toàn bộ cuộc sống. Giới luật kế tiếp là tránh xa trộm cắp hoặc lấy những gì mà không được người ta cho phép. Giới luật thứ ba, tránh xa tội tà dâm, có nghĩa kiềm chế việc sử dụng năng lực tình dục theo một cách để gây hại cho bản thân hoặc người khác. Thứ tư là tránh xa lời nói dối và vọng ngữ, mà được thừa nhận là có sức mạnh và sự tác động đối với việc chúng ta giao tiếp. Và giới luật cuối cùng của 5 giới luật căn bản là tránh xa những chất say, chẳng hạn như ma túy và rượu, làm cho tâm bị u mê và gây nên sự đãng
trí, gây cản trở chúng ta cảm nhận được sự tỏa sáng tự nhiên của tâm.
Cơ bản những giới luật mang lại một cơ cấu cho đời sống tâm linh. Chúng không có ý định đưa ra như là những luật lệ khắt khe. Nhờ sự tồn tại vĩnh cửu của những giới luật giúp cho cuộc sống của chúng ta chặt chẽ. Giữ tâm chánh niệm về những thôi thúc và những hành động của mình, chúng ta giữ bản thân khỏi tạo nên sự căng thẳng không cần thiết thực hiện điều này, chúng ta phát huy một tinh thần mãn nguyện, và tâm của chúng ta trở nên vắng lặng (tĩnh) cho sự nhận thức rõ ràng để sinh khởi. Một cuộc sống không có sự gìn giữ giới luật, chúng ta thiếu đi thành phần cần thiết này cho việc tu tập nội tâm. Tuệ giác sâu sắc nhất của chúng ta biến thành niềm hạnh phúc và lòng từ bi cũng như sự cảm nhận mà tất chúng ta đều có mối liên hệ lẫn nhau, tạo nên một khuynh hướng tự
nhiên để tin được một cách hành động phù hợp đối với những giới luật.
Có một lần trong một khóa thiền một người nọ đề nghị tôi nói về những giới luật cổ điển. Khi tôi trình bày xong, người đặt vấn đề dường như hết sức bực mình. Anh ta nói với tôi, "Nhưng tất cả những điều đó chỉ là một cách để tránh xa đau khổ! Ðiều đó có nghĩa là tất cả chúng ta đều sợ đau khổ. Và điều đó dường như đi ngược lại với tư tưởng Phật giáo" - chắc chắn những giới là một cách để tránh đau khổ - bằng cách là không tạo nên nó. Thực hiện điều này hoàn toàn không phải là một hành động hèn nhát. Trong thế gian này nơi mọi người chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau, những giới luật chỉ là thừa nhận rằng những hành động của chúng ta có những hậu quả. Ðây không chỉ là một quan điểm tốt đẹp; nó là một định luật tự nhiên. Và như thế trong cuộc sống của mình, ta có lẽ tốt
hơn chúng ta nên quyết định làm chiến sĩ đấu tranh giải thoát nỗi đau khổ còn hơn là một chiến sĩ vì nỗi đau khổ lớn lao hơn.
Và nó thật sự đem lòng dũng cảm của một chiến sĩ thoát khỏi những hành động đơn thuần chỉ là thích hợp, quen thuộc, và dễ dàng. Unconsious Sex (Tình Dục vô ý thức), Careless Speech (Lời phát biểu vô ý thức), Thoughtless Action (Hành động vô ý thức) tất cả những tựa đề trên có thể làm những cuốn sách rất dài, và nhiều người trong chúng ta có khả năng để viết ít nhất vài chương cho mỗi đề tài. Nhưng bất kể những hành động quá khứ của chúng ta, khởi sự ngay bây giờ, chúng ta có thể bắt đầu hiểu rõ ràng hơn và như vậy sống theo một cách khôn ngoan hơn và đầy lòng biết ơn hơn. Với tâm chánh niệm về cách cư xử của chúng ta, thay vì bị lôi cuốn bởi những thói quen cũ, chúng ta có thể quyết tâm chú ý đến những gì thật sự mang lại cho chúng ta hạnh phúc cũng như cho những
người khác. Trong những lĩnh vực đó chúng ta đã bị đánh lừa, và đã bị đau khổ và gây nên khổ đau chúng ta có thể quyết định để trở nên tỉnh giác hơn... Bằng sự tạo lập lại cuộc sống của chúng ta theo cách này, chúng ta cũng mang lại sự vắng lặng cho tâm chúng ta và toàn bộ cách sống của chúng ta - để có những kho báu thật sự của cái tâm giải thoát có thể được, chúng ta phát hiện, soi sáng bản thân chúng ta.
10. NIỀM HÂN HOAN CỦA LÒNG BI MẪN
Vào mùa hè nọ, tôi tham dự một hội thảo tại một tu viện Thiên chúa giáo đề tài Phật giáo. Ở đây Ðức Lạt Lai Lạt Ma là người tham dự chính yếu. Sự kiện được mở màn với buổi lễ trồng cây có sự tham dự của toàn bộ huynh đệ của tu viện . Tôi tình cờ đứng kế bên Ðạt Lai Lạt Ma khi sắp sửa khai mạc buổi lễ. Bất ngờ, Ngài nhận ra một đồng đạo huynh đệ hết sức lớn tuổi ngồi trên chiếc xe lăn bên kia sân. , Ðức Ðạt Lai Lạt Ma kêu lên phá tan bầu không khí trang nghiêm"Ồ, ông ấy thọ quá!" và theo sau là những người bảo vệ và phóng viên truyền hình, Ngài băng qua sân và ôm lấy vị sư già. Ðiều làm tôi xao xuyến trong khoảnh khắc ấy là niềm vui mà Ðức Lai Lạt Ma kêu lên, "Ông, ông ta thọ quá!" Ðó không phải là sự thương xót; đó là niềm vui thích hân hoan. Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đang
ca ngợi tuổi thọ của vị sư già, và niềm vui Ngài cảm thấy có vị sư già tham dự với chúng tôi.
Chúng ta thường suy nghĩ về lòng bi mẫn được tạo nên bởi sự nhận thức nỗi khổ đau - và chắc chắn là đúng thật. Nhưng cũng có một phẩm chất của lòng bi mẫn, một cảm giác về mối quan hệ sâu sắc, phát sinh từ niềm hân hoan vui mừng. Có một lần một ai đó đã hỏi Munindra tại sao Ngài tu tập thiền. Những thiền sinh của Ngài tu tập xung quanh, mong đợi một câu trả lời kiêu kỳ đề cao. Thiền sư Munindra trả lời "Tôi tu tập thiền để ghi nhận những bông hoa tím nhỏ mọc bên vệ đường nếu không thì có thể bỏ quên". Khi chúng ta bắt đầu để ý những bông hoa tím nhỏ, chúng tôi cũng mong mỏi những người khác thấy chúng, vì niềm vui và sự khuây khỏa của họ. Tuy vậy điều này không phải là sự thương hại nhưng là lòng bi mẫn ước mong được chia xẻ niềm vui hoan lạc.
Lòng bi mẫn đầy hân hoan như thế cũng có thể phát sinh từ sự thích thú của chúng ta trong những trạng thái tâm nào đó. Sau khi tu tập lòng cao thượng hoặc từ bi chúng ta có thể nhận thấy tâm của mình mở rộng và dứt bỏ những tình huống ở đó chúng ta thường bám víu, lo sợ mất đi một điều gì quý báu, hoặc tự hỏi liệu chúng ta chừng nào sẽ đạt được mong ước. Trong khi tu tập thiền, chúng ta thích thú và thậm chí say mê trong những sự mở rộng này và trong những nhận thức đó xảy ra với chúng ta. Niềm vui thích này không tiêu biểu bởi sự chấp thủ, bởi vì chúng ta biết rằng những cảm nhận này theo bản chất của chúng sẽ thay đổi. Ðúng hơn, nó được tiêu biểu bằng lòng biết ơn đối với khả năng của con người được mở rộng, yêu thương, chăm sóc, nhận thấy chân lý, mối quan hệ.
Nhận thức rằng tất cả mọi người đều có khả năng này, lòng bi mẫn hân hoan được thức dậy trong chúng ta cũng như sự cầu chúc cho tất cả những người khác có thể mở rộng trái tim, quan tâm chăm sóc, và mối quan hệ, hơn là mãi mãi cô đơn và lo sợ.
Một điểm quan trọng cần ghi nhớ rằng sự mong ước củalòng bi mẫn này không xuất phát từ một quan điểm tự cho mình là đúng hoặc lòng ham muốn cải đạo. Nó đến từ sự nhận thức có biết bao nhiêu con người ham muốn được hạnh phúc và tuy thế thật sự có được mấy người hạnh phúc. Cảm giác của lòng bi mẫn phát triển trong chúng ta biết như thế nào về sức mạnh của tình yêu có sẵn quanh chúng ta. Nhưng tuy vậy cũng còn có nhiều người cô đơn dường nào. Lòng bi mẫn phát sinh từ vẻ đẹp của những chiếc hoa tím nhỏ mọc bên vệ đường và tuy thế nhận ra chúng bị người ta bỏ quên hoàn toàn. Nó đến từ sự quan sát có bao nhiêu bậc trưởng thượng khôn ngoan trong chúng ta, và họ đã bị quên lãng và lụi tàn như thế nào, lòng bi mẫn thú vị đến từ sự biết được khả năng tuyệt vời của tấm lòng con
người để tạo mối quan hệ, và mong ước nhiều người hơn trong chúng ta cảm thấy mối quan hệ lẫn nhau.
11. KẾT THÚC CON ÐƯỜNG TÂM LINH
Ấn Ðộ có nhiều loại thiền sư, nhà sư và nhiều con đường tu tập khác nhau, đủ loại và nhiều kiểu. Ðối với một số người, sự kiện này tạo nên sự bối rối và mâu thuẫn. Còn một số người khác, đó là điều thú vị. Khi tôi đang tu học với Ngài Munindra ở Bồ Ðề Ðạo Tràng, những người bạn thiền sinh của tôi đôi khi thường đến Ngài bày tỏ ý định tu tập và khám phá truyền thống tôn giáo khác, hoặc là muốn thọ giáo vài vị thầy khác. Tôi lấy làm ngạc nhiên về thái độ bao dung của thiền sư Munindra. Ngài thường khuyến khích cổ vũ họ nên đi. Khi có người ngạc nhiên hỏi tại sao Ngài lại hành động như thế, Munindra ôn tồn đáp "Sự so sánh không làm tổn hại gì đến Dhamma - Giáo pháp hết.
Sự thật là sự thật. Chúng ta không thể nào chia cắt nó ra thành những miếng nhỏ để rồi xem đó như là những mảnh chân lý riêng của mình, hoặc xem nó như một biểu tượng, một thành tựu đặc biệt của mình. Chúng ta đau khổ vì sự so sánh, chứ Giáo pháp thì không. Chúng ta đau khổ vì độc quyền về sự thật, vì cảm nhận chia rẽ và đua tranh. Giáo pháp không phải là điều gì để chấp thủ, đề phòng, hoặc chứng tỏ cao cả hơn. Chúng ta không cần phải chấp thủ với chúng, như thế chúng là một món đồ chúng ta có thể giữ lại một vật sở hữu của mình. Cuối cùng, duy nhất chỉ có cuộc sống của chúng ta và sự chọn lựa giáo pháp để đem lại sự sáng suốt, chứ không phải sự u mê. Ðây là tinh hoa về giáo pháp của Ðức Phật: lòng ta không còn đau khổ chứ không phải là việc chọn lựa tông phái.
Phần cốt lõi của giáo pháp, sự tu tập, và tấm gương điển hình sống động về Đức Phật được biết đến "Phật pháp". Con đường của Ðức Phật, danh xưng "Buddhism" được xem là một học thuyết hoặc một hệ thống đức tin, là một sự đổi mới gần đây của người phương Tây và thật sự điều này không chính xác. Theo Buddhadharma thì không có nghĩa là chấp nhận "một học thuyết", trung thành với một giáo điều, hoặc dán lên cho mình một nhãn hiệu nào khiến ta trở nên khác biệt với người khác. Ðây không phải là một vấn đề của đức tin. Nó cũng không phải một phương cách tuyệt đối để đi theo gót chân của Ðức Phật lịch sử. Nó là một phương tiện cho chúng ta nhận ra được trí tuệ bẩm sinh của mình và lòng bi mẫn vô hạn.
Khi có một sự quyến luyến vào một hệ thống đức tin thì có nhu cầu để bảo vệ nó. Chính Ðức Thế Tôn đã từ chối tham dự vào những cuộc tranh luận về giáo điều: Sự kiện này rất phổ biến khi Ngài còn đương thời. Ngài phát biểu một cách xác đáng "Như Lai đây không muốn tranh cãi với mọi người, nhưng chính là mọi người tranh cãi với Như Lai". Bằng sự nhận thức phong phú cùng với lòng bi mẫn, Ngài thật sự cổ vũ những môn đệ của Ngài đoạn trừ tất cả những sự dính mắc, kể luôn cả điều tinh túy của việc chứng minh bằng con đường tâm linh riêng rẽ của một người. Ngài mô tả về giáo pháp của Ngài như là một chiếc bè, chúng ta dùng để vượt qua dòng sông khổ đau, cho tới khi đến bến bờ an lạc bên kia. Một khi ta đã đặt chân đến nơi đó rồi, chúng ta từ bỏ ngay chiếc bè. Chúng ta đừng
tiếp tục kéo nó theo mình.
Sự chứng minh cứng nhắc với hệ thống tín ngưỡng phát sinh do một phần hoang mang và lo sợ. Khi chúng ta không cảm thấy liên hệ với một ý tưởng riêng tư về chân lý, chúng ta không thấy thanh thản và bám víu vào những quan điểm hẹp hòi. Nếu chúng ta cảm thấy bị lừa dối hoặc bối rối, chúng ta lo sợ và tìm kiếm một điều gì để bám víu, một hình thức an toàn ở một nơi nào đó. Ðây là hình ảnh của chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa cuồng tín và tính kiêu ngạo.
Kiểu tâm linh dạy đời bắt nguồn từ những quan điểm bè phái gây ra một cảm giác phân biệt lớn lao, về chúng ta "và" họ là tốt đẹp hơn" mà cuối cùng cho thấy đó là một chốn ngục tù do mình tạo dựng lên; một cái hang được trang trí tuyệt vời. Do bởi bám víu vào những quan điểm tâm linh bằng một tính cách như thế, chúng ta sử dụng vẻ kỳ bí và cái đẹp của tâm linh như là một đối tượng để khai thác, thay vì nó là bí quyết để dẫn đến tình thương vô hạn.
Ðể đoạn trừ việc dính mắc vào những quan điểm, chúng ta phải chấp nhận một cách chân thành nỗi lo sợ phát sinh ra khuynh hướng này. Khi chúng ta đối mặt với nỗi sợ hãi của mình, chúng ta có thể lần tìm trở lại nỗi hoang mang trong tâm của mình. Nhờ tu tập, khi ấy chúng ta cảm nhận chân lý của sự hiện hữu, và chúng ta thấy được vô thường, khổ và vô ngã, chúng ta cảm thấy không cần thiết để bảo vệ hoặc bám víu thật chắc vào giáo điều. Chúng ta có thanh thản nương tựa vào chân lý. Lòng của chúng ta xao động vì nỗi khổ của mình và của những người khác. Chúng ta không muốn gieo trồng thêm một cảm giác cách biệt với bất cứ ai. Như lời của thiền sư Munindra dạy "Sự so sánh không làm tổn hại gì đến giáo pháp hết". Chúng ta không cần phải đau đớn vì sự so sánh, bởi vì chúng
ta không cần đòi hỏi một sự độc quyền về chân lý. Chân lý sẽ bảo vệ chúng ta, chúng ta không cần phải bảo vệ chân lý.
Giáo pháp của Ðức Thế Tôn mang lại một tính cách để sống, điều đó chứng tỏ tính lôgíc của nó, tính hiệu quả của nó, ngay trong sự tu tập của chúng ta. Như thế, Giáo pháp không phải là một đức tin để được bảo vệ nhưng là sự hướng dẫn cho sự biến đổi. Trên chuyến hành trình khám phá riêng rẽ của mình, chúng ta thấy rằng sự chấp thủ vào tính cách mà chúng ta đi theo không phải hoàn toàn là điểm mấu chốt; nhưng chân lý của bản thân, nó là mục đích của việc theo đuổi con đường chánh đạo. Sự chấm dứt việc chấp thủ toàn bộ các vấn đề, kể luôn cả con đường tâm linh này, mới là phần cuối của con đường tâm linh.
12. SẴN SÀNG CHẾT
Bà Aung San Suu Kyi đang đi xuống con đường làng với một ít người của bà. Ngay khi ấy một số người lính nhảy khỏi xe, khom người xuống, đặt súng nhắm vào bà, và chuẩn bị nổ súng theo lệnh viên đại úy của họ. Suu Kyi xua tay bảo những những người ủng hộ bà tránh xa ra và bà một mình tiến đến trước các tên lính. Sau đó bà ta kể "Tôi thấy để cho họ chỉ có một mục tiêu nhắm bắn dễ hơn là kéo những người khác vào". Vào giây phút cuối một viên sĩ quan cao cấp hơn đến hiện trường và hủy bỏ lệnh.
Sau đó Suu Kyi nói "Tôi chưa bao giờ nghĩ đến bản thân mình như là một người đặc biệt gan dạ". Can đảm, bà bình luận thêm, "xuất phát từ việc tu dưỡng thói quen khắc phục bằng cách đối mặt với sự sợ hãi trước mệnh lệnh của một người". Suu Kyi có thể làm điều đó mà bà tin tưởng sâu sắc những gì cần phải được thực hiện, dù cho bất cứ sự sợ hãi nào mà chắc hẳn bà phải cảm nhận.
Bà Aung San Suu Kyi được trang bị với sự quyết tâm chấm dứt sự áp bức chính trị trong đất nước, bà đã chối từ sự tự do và sự an toàn của mình. Suốt những năm tháng bị giam cầm bà, chính quyền quân sự đề nghị trả tự do cho bà, nhưng chỉ khi bà rời khỏi Durma và sống lưu đày. Bà ta đã luôn luôn từ chối. Nhiều người ủng hộ bà đã khuyên bà ra đi và tiếp tục công việc của bà vì sự nghiệp dân chủ ở hải ngoại, nơi đó sẽ an toàn hơn cho bà. Nhưng bà ta không ra đi. Sau sáu năm giam cầm, Suu Kyi phát biểu trong một cuộc phỏng vấn, "À, tôi biết rằng mình sẽ không đầu hàng, nhưng luôn luôn có khả năng là tôi sẽ chết trước lúc họ trả tự do cho tôi".
Có một lần tôi đã phụ trách hướng dẫn một khóa thiền dành cho những nhà hoạt động xã hội, trong nhóm này có một số ít người vô gia cư trước khi tham gia vào công tác xã hội. Một người tham gia là một kẻ nghiện ngập trước đó đã sống sót qua nhiều năm làm kẻ trấn lột. Chúng tôi hỏi thăm anh ta bằng cách nào để anh ta tiếp cận những người anh có ý định ăn cướp. Ðiều gì ở trong tâm anh ta? Anh ta có một kỹ thuật? Anh ta trả lời "Không, chẳng có kỹ thuật nào, nhưng khi tôi đến gần những người ấy, tôi phát hiện ra rằng một chỗ nào đó trong thân tôi hoàn toàn sẵn sàng để chết, và tôi không nói một lời, hãy biết rõ điều đó. Ðó là những gì làm cho người ta hèn nhát. Vũ khí tuyệt vời nhất của tôi sự thật là tôi không sợ chết".
Hai người, Aung San Suu Kyi và kẻ trấn lột, cả hai đều dành cho những mục đích của mình, tuy nhiên họ có thể khác biệt nhau, nhưng cả hai đều sẵn sàng để chết. Kẻ cướp giật trước đây nói anh ta không sợ chết, và điều này mang lại cho anh ta khả năng đặt mình vào những vị trí bấp bênh và làm tổn thương người khác. Bà Aung San Suu Kyi nói rằng trong khi bà chắc hẳn là hết sức sợ hãi khi đối mặt với kẻ thù của mình, dù thế nào đi nữa bà đã hành động như vậy, mặc dù có thể làm bà mất mạng, và nó tạo cho bà cái khả năng phục vụ cho kẻ khác. Cả hai người này rõ ràng đã vượt qua sự sợ hãi. Nhưng có một sự khác biệt về cơ bản trong bản chất về sự không sợ hãi của họ.
Chúng ta có thể tưởng tượng là mình không sợ hãi, sẵn sàng chết bởi vì chúng ta bị kẹt trong một thế giới u buồn và hoang vắng; tình cảm của chúng ta bị ngăn trở và giới hạn đối với sự sống còn riêng tư. Hoặc chúng ta thật sự có thể không lo sợ và sẵn sàng chết bởi vì chúng ta khám phá được cái cảm giác sâu kín nhất và những gì mang ý nghĩa là còn sống. Chúng ta có thể thật sự không sợ hãi chỉ khi có một tấm lòng bi mẫn bao dung, chúng ta nhận ra nỗi sợ hãi sâu kín trong lòng hết sức vi tế, khi chúng ta giữ chánh niệm về nó; không thù ghét bản thân vì sợ hãi, và không bị nó khống chế. Ðây là sức mạnh đặc biệt của tâm chánh niệm. Những quyết định của chúng ta không bị sai nhiễm bởi cảm giác mà chúng ta không có ý thức - những cảm giác đó làm trở ngại khả năng nhìn vào
sự thật của chúng ta.
Dâng hiến hết tấm lòng để chấm dứt nỗi khổ đau trên thế giới. Phương hướng hành động của Suu Kyi được thực hiện rõ ràng. Ðược củng cố bằng tâm chánh niệm, bà ta có thể nói "Nỗi sợ hãi chính là nhà tù và sự giải thoát thật sự là thoát khỏi nỗi sợ hãi".
13. TỪNG BƯỚC
Vào thập niên 80, Joseph Goldstein cùng tôi đến Zimbabwe, châu Phi, để dạy. Những người học trò của chúng tôi tổ chức một chuyến đi cùng chúng tôi đến Thác nước Victoria và khu vực chung quanh nó. Vào một buổi hoàng hôn, Joseph và tôi khởi hành lên một con thuyền nhỏ cùng với một người hướng dẫn, thả theo dòng sông Zambezi, ngắm cảnh hoàng hôn, nghe những âm thanh lạ thường của những con thú bản xứ bên bờ. Nó là một cảnh đẹp kỳ lạ. Tôi cảm thấy như thể tôi tình cờ gặp được thời kỳ nguyên thủy, tôi thấy rõ mình ở giữa một tạo vật kỳ bí. Toàn bộ thế giới và tất cả những rắc rối của nó hoàn toàn biến mất.
Một lát sau đó Joseph đề nghị với người dẫn đường có thể cho thuyền cập bờ và đi bộ trong một khoảng thời gian cho tới khi rạng đông. Câu trả lời của người hướng dẫn cắt ngay những cảnh tưởng nên thơ của chúng tôi. Anh ta nói rằng "Toàn bộ bờ biển bị gài mìn trong thời nội chiến. Thú vật thường bị mìn nổ tan xác. Nhiều trẻ em đi lang thang bị mất mạng ở đó hoặc mất chân tay. Tốt hơn đừng nên". Ðúng vậy, tốt hơn đừng nên. Thả trôi xuồng hạ lưu sông Zambezi, những cảm nhận của tôi bắt đầu chuyển sang sự khủng khiếp của những sự hiểm nghèo ẩn núp ở đó, ở giữa cảnh "thiên đàng".
Tôi đã từng biết rằng có hơn 100 triệu mìn bẫy nằm rải rác khoảng 60 quốc gia trên thế giới. Một thời gian dài sau đó, những đội quân đã bỏ trống chiến trường và những chiến trường chính trị đã thay đổi, những bãi biển mìn nằm bất động dưới mặt đất vẫn tiếp tục hủy hoại mạng sống con người, sống trên một quy mô rộng lớn. Mìn bẫy không phân biệt giữa một quân thù đang tiến đến gần và một đứa bé chơi đùa vui vẻ, giữa một kẻ xâm lấn nguy hiểm và một khách du lịch vô tư đi tản bộ. Có hơn một ngàn người bị chết bởi mìn bẫy mỗi tháng, nhiều người bị thương hơn hoặc bị tàn tật suốt đời. Về vấn đề tài chính, việc dọn một bãi mìn tốn kém gấp một trăm lần khi đặt nó xuống đất, và sự việc này hiển nhiên là một công việc rất nguy hiểm. Kết quả phần nhiều các bãi mìn vẫn chưa
được tháo gỡ.
Có một bản thỉnh nguyện của những người dân khắp mọi nơi để xin chữ ký, yêu cầu tất cả các quốc gia ngưng sản xuất và sử dụng mìn bẫy. Hằng năm nhà sư người Kampuchia, Đại Trưởng lão Maha Ghosananda, ngài được đề cử giải Nobel hòa bình dẫn một đoàn hòa bình đi khắp Kampuchia thu thập chữ ký cho lệnh nghiêm cấm. Sau nhiều thập niên tàn sát đẫm máu và nội chiến. Kampuchia là một trong những quốc gia có nhiều mìn nhất trên thế giới. Bãi mìn nằm trên hơn phân nửa lãnh thổ Kampuchia không an toàn cho nông nghiệp hoặc bất cứ hoạt động nào của con người và đây là một xứ sở có tỷ lệ phần trăm người cao nhất thế giới bị tàn tật vì các vụ nổ mìn. Kampuchia cũng đã đóng góp nhiều chữ ký cho bản thỉnh nguyện hơn bất cứ quốc gia nào. Thông thường một chữ ký là một dấu tay bằng
mực đỏ, bởi vì có quá nhiều người mù chữ.
Ở mỗi nơi dừng chân của đoàn biểu dương hòa bình, Ngài Maha Ghosananda thuyết giảng một bài Pháp đơn giản về "sự cần thiết của việc tháo gỡ những bãi mìn trong tim của chúng ta: tham, sân, ảo tưởng, chúng như là nguồn gốc các bãi mìn ở dưới đất". Những lực lượng này nằm ẩn trong thâm tâm chúng ta, có lẽ nằm phía sau của một vẻ bề ngoài thanh thản. Nhưng khi một ai đó gây một điều gì cho chúng ta mà chúng ta không thích, hoặc những tình huống nào phát sinh, rồi chúng sẽ nổ tung, thật thảm thương gây nguy hại cho người khác và bản thân mình.
Sự việc giống như gài mìn thì dễ dàng nhiều hơn là tháo gỡ, cũng giống như những thói quen được tạo ra một cách vô ý thức. Giống như mìn bẫy ở dưới đất là kết quả của những hành động vô ý thức, được thực hiện mà không nghĩ đến những hậu quả lâu dài. Chúng ta cũng vậy, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, tham dự vào những hành động tham, sân, hoặc ảo tưởng, những hậu quả lâu dài vô ý thức.
Trong chuyến hành trình của chúng ta để từ bỏ những khuynh hướng quen thuộc của tham, sân và ảo tưởng, chúng ta thường tìm được sức mạnh trong sự đoàn kết. Chúng ta có thể giúp nhau để cùng nhau thực hiện những gì mà một người nào đó cảm thấy rằng chúng ta không thể tự lực. Trong những kinh điển Phật giáo "có những người bạn tốt" được nhấn mạnh như là một sức lực đóng góp mạnh mẽ để duy trì những phẩm chất lạc quan, chẳng hạn như tình yêu hoặc trí tuệ. Có những người bằng hữu tốt đẹp, các vị thầy, những người cố vấn và cộng đồng giúp đỡ chúng ta bằng cách mang lại một ý thức đoàn kết, chia sẻ những giá trị, hỗ trợ lẫn nhau, tạo phấn khởi và nhắc nhở lẫn nhau.
Ngài Maha Ghosanada đã nói "Chuyến hành trình của chúng ta vì hòa bình bắt đầu từ hôm nay và mỗi ngày. Chúng ta sẽ không bao giờ hèn nhát. Chúng ta sẽ đi từ từ, từ từ, từng bước, từng bước. Mỗi bước sẽ là một lời cầu nguyện". Chúng ta chỉ có thể thực hiện chuyến này để tháo gỡ bãi mìn; những điều trong tâm hoặc ngoại cảnh, từng bước, từng bước. Mỗi bước tạo nên một phần nhỏ của tấm thảm của chuyến hành trình. Ði cùng nhau, chúng ta có thể làm nhiều điều để giảm bớt đau khổ của bản thân và không ngừng giảm bớt sự khổ đau ở thế gian này.
14. PHONG THÁI CỦA LÒNG KIÊN NHẪN
Trong mấy tuần đầu sau khi khánh thành Hiệp hội Thiền Minh Sát Tuệ (IMS), chúng tôi nhận được nhiều sự yêu cầu cung cấp thông tin. Trong những lá thư này có hai lá đặc biệt đáng ghi nhớ về cách họ viết. Một, được viết cho "Hiệp Hội Thiền Ðịnh Muộn Màng", dường như đề nghị rằng cách nhìn của chúng tôi thật tuyệt vời, 20/20, hoặc là chúng tôi đã khởi xướng IMS như là một điều được nghĩ đến sau này. Mặt khác, mà tôi nhận ra thậm chí gây thích thú hơn nhiều, nó được gởi cho "Hiệp Hội Thiền Ðịnh Cấp Tốc". Tuyệt vời biết bao! Tôi tưởng tượng đến một gói thiền hút nước mà người ta chỉ cần cho thêm một ít nước xong rồi trộn lẫn với nhau để có được cái tâm an lạc cấp tốc. Ðương nhiên, thật buồn cười về điều này, có phải đó là phần thiền cấp tốc là phần cấp tốc này - và rồi
phần tiếp theo nữa. Và thành phần quan trọng nhất trong "thiền cấp tốc" ở ý tưởng này là sự kiên nhẫn.
Sự kiên nhẫn thật sự là tính không thay đổi - Sự nhiệt tình kiên định để sử dụng khoảnh khắc thực tại này như là một phương tiện diễn đạt trí tuệ và lòng bi mẫn. Sự kiên nhẫn không phải là việc nghiến răng lại và nói "Tôi sẽ chịu đựng vấn đề này thêm 5 phút nữa bởi vì tôi chắc chắn nó sẽ chấm dứt và rồi một điều gì đó tốt đẹp hơn sẽ xảy ra". Kiên nhẫn không phải không hoài nghi, và nó dễ chịu. Nó là một mối liên kết chân thật với bất cứ việc gì đang xảy ra ngay lúc này. Kiên nhẫn là một sức mạnh tuyệt vời; nó như là một sự nghiêm khắc cao cả và cũng là một hình thức hiến dâng cao thượng.
Kiên nhẫn là một sức mạnh vững chắc mà chúng ta áp dụng từng khoảnh khắc. Nó không bao hàm một ý tưởng khuất phục, tính tự mãn dứt bỏ, hoặc ngày cả một lòng nhiệt tình kiên định. Kiên nhẫn không có nghĩa là bị kìm kẹp trong chốc lát, nó cũng không có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận bất cứ điều gì xảy đến mà không bao giờ đưa ra một hành động để thay đổi những sự việc. Nếu trong khoảnh khắc đòi hỏi đưa ra một loại hành động thích hợp nào đó, chúng ta phải làm như vậy. Ðiều quan trọng nhất là tính cách mà chúng ta hành động. Tính kiên nhẫn thực tế hết sức đơn giản. Nó có nghĩa là một mối liên kết rộng mở và trọn vẹn với khoảnh khắc - một mối liên kết đòi hỏi tính chính trực độc đáo.
Sự ý thức về văn hóa là được tập trung tức khắc vào những sự việc xảy ra; đó là một nỗ lực có ý nghĩa đối với chúng ta để nuôi dưỡng cái hình thức tận tâm tận lực này ở mỗi khoảnh khắc. Dường như chúng ta luôn luôn nghĩ đến những điều sẽ xảy ra tiếp theo. Một người bạn của tôi đã từng kể cho tôi nghe một câu chuyện về một vườn rau mà anh ta lúc còn bé. Anh ta trồng cà rốt trong mảnh vườn, nhưng anh ta thường cảm thấy hết sức nôn nao khi thấy những chiếc mầm non nhỏ bé trong lúc anh ta nhổ những cây cà rốt khỏi mặt đất để xem chúng phát triển như thế nào. Sự tu tập lòng kiên nhẫn là đang học hỏi sống trong khoảnh khắc hiện tại, trong lúc những sự kiện khác tiến triển theo giờ giấc của chúng.
Ðây là hình thức kiên nhẫn, chúng ta đưa vào việc tu tập thiền. Thầy Munindra của tôi thường nói "Trong việc tu tập thiền, thời gian không phải là một yếu tố. Nó không phải là một điều ảnh hưởng đến tiến trình này. Tu tập là bất tận. Ðưa việc tu tập tâm linh vào trong một điều kiện thời gian, có nghĩa là một sự tiên liệu, thất vọng, mong đợi và phản bội. Giống như việc trồng một mảnh vườn và cố làm cho cây cà rốt lớn nhanh hơn chúng thật sự có thể phát triển. Chúng phát triển theo giờ giấc và theo tính cách của chúng. Chúng ta gieo hạt, chăm bón, tưới nước, chúng ta để nó sống tự nhiên.
Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, lòng kiên nhẫn có thể biểu thị như là một sự quyết tâm để thực hiện việc cần phải làm. Tôi có một người bạn, có đứa con gái nhỏ của họ được chẩn đoán là bướu não. Cái bướu lành tính nhưng nằm ở một chỗ được cho là có thể nguy hiểm chết người. Sự kiện đòi hỏi đến hai cuộc giải phẫu, mỗi lần 11 giờ, không tìm cách để cắt bỏ cái bướu. Người bạn tôi đưa con của chị đến một nhà thần kinh học nổi tiếng, ông này bảo bệnh của đứa bé vô vọng. Ông ta phỏng đoán - đứa bé gái ngây thơ xinh đẹp sẽ chết trong vòng hai năm nữa.
Người bạn của tôi không chịu đầu hàng nhưng tiếp tục nhẫn nại, cương quyết tìm những phương cách chữa trị. Bà tìm đến một nhà thần kinh học khác, ông ta gợi ý dùng một phương pháp phóng xạ trị đặc biệt. Sự chữa trị này được kết hợp với một số phương pháp khác đã bắt đầu làm teo bớt cục bướu. Khi cuộc thử nghiệm đầu tiên cho thấy rằng bướu đang teo nhỏ lại, vị bác sĩ cùng với mọi người trong phòng đều cảm động. Cuối cùng không còn chút nào vết tích của cục bướu. Khi tôi ca ngợi sự kiện không chịu đầu hàng của chị, lạc quan tìm một phương pháp điều trị mới cho con gái mình, chị nói mình chỉ làm những gì cần phải làm, đúng ngay vào thời điểm. Ðây là lòng kiên nhẫn.
Bất cứ hoàn cảnh nào của chúng ta cũng có thể xảy ra khả năng để sống từng khoảnh khắc, làm những gì cần phải làm, và để cho tiến trình mở rộng. Ðiều này đích thật là một trong những sức mạnh lớn lao nhất của chúng ta. Dù trong cuộc sống hoặc trong lúc tu tập thiền của chúng ta, chúng ta được hỗ trợ bởi một sự dâng hiến can đảm cho lòng kiên nhẫn và lòng nhiệt tình hiện diện ở trong khoảnh khắc này của cuộc sống chúng ta.
15. NIỀM VUI CỦA SỰ HIẾN TẶNG
Một người bạn của tôi có người ông di trú đến Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ. Người đàn ông này cũng giống như nhiều người khác từ Ðông Âu đến NewYork bằng tàu thuyền và dừng chân ở Ellis Island. Ông đã cùng với một người bạn thân của mình đi trong chuyến hành trình, nơi đến của người bạn ông là một nơi khác ở Hoa Kỳ. Họ rất yêu mến nhau, và trước khi chia tay họ muốn tặng nhau một vật gì để làm vật kỷ niệm. Tuy thế, cả hai chẳng còn trên mình một thứ gì ngoại trừ quần áo họ đang mặc; cả hai người không ai có vật sở hữu nào để trao cho nhau - cho tới khi họ tìm được một vật. Mỗi người xé cái thẻ tên của mình, và viết cái tên Mỹ mới của mình trên tấm thẻ đó, rồi trao cho nhau. Bằng cách trao đổi tên của họ, họ đang ở trong một hình thức chia xẻ cái tương lai chưa biết đến của
họ; họ muốn giữ lại mối liên hệ bằng tất cả những những viễn cảnh được mở ra cho những thế hệ tương lai.
Tôi thích câu chuyện này bởi vì nó diễn tả thật tuyệt vời cái sự kiện là chúng ta luôn luôn có một điều gì để dâng hiến, và món quà cao quý nhất là lòng nhiệt tình của chúng ta để kết nối với cuộc đời của ai đó - để quan tâm về họ. Lòng cao thượng được xuất phát từ tinh thần của chúng ta và có một chút quan hệ dù chúng ta có những món quà tốt để trao tặng hoặc không. Ở Ấn Ðộ và Miến Điện, tôi là người nhận được những tấm lòng bao dung không thể tưởng tượng được của nhiều người mà họ có rất ít vật chất để trao tặng. Về một phương diện khác, một số nền văn hóa rất phong phú về vật chất thì lại càng ít cho. Một cuộc nghiên cứu vừa mới đây cho thấy rằng Los Angeles, với một phần trăm những người giàu có nhất, nằm ở mức gần cuối trong việc thẩm định lòng bác ái.
Mineapolis, một thành phố có mức dân trung lưu, là ở hàng đầu danh sách. Lòng bao dung độ lượng mà tất cả mọi người chúng ta là vấn đề của trái tim.
Ðức Phật dạy rằng không có đời sống tâm linh thật sự mà không thể có tấm lòng bao dung độ lượng. Ðức Thế Tôn dạy, tấm lòng khoan dung độ lượng là phẩm chất chủ yếu của một cái tâm tỉnh giác. Sự tu tập lòng khoan dung độ lượng giải thoát, chúng ta khởi ý tưởng cô lập phát sinh từ sự dính mắc và chấp thủ. Khi chúng ta nghĩ rằng mình cô đơn, tấm lòng của chúng ta khép lại. Tiếp theo đó chúng ta thật khó khăn để cảm thấy điều tốt lành cho bản thân và nghĩ rằng mình chẳng có điều gì để hiến dâng. Ngoài ra do bởi chúng ta tìm kiếm một điều gì đó hoặc bởi một ai đó ngoài bản thân để mang lại cho chúng ta một ý tưởng trọn vẹn, chúng ta không thấy được cái mức độ tuyệt đối mà chúng ta cho là trọn vẹn và đầy đủ.
Khi ý định phát sinh trong chúng ta, thì thường thường cũng có một cảm giác sợ hãi xuất hiện. Có thể là sợ món quà không đủ sang trọng hoặc bị từ chối. Chúng ta có thể nghĩ rằng: "Tôi không có cái gì xứng đáng để tặng ai" hoặc "khi nào tôi trúng số tôi có thể dâng tặng, nhưng ngay lúc này tôi không thể cho được cái gì". Tuy thế, với tâm chánh niệm, chúng ta có thể nhận thấy rằng những nỗi sợ hãi của chúng ta thật mơ hồ, chúng không có sự kiên quyết, chúng ta không cần phải do dự vì chúng. Khi chúng ta nhận thức rằng những nỗi lo sợ này là những ý nghĩ quen thuộc, mà không thể quyết định được những hành động của chúng ta, chúng ta bắt đầu thấy khả năng phi thường của lòng bi mẫn nằm trong bản thân chúng ta.
Sự hiến dâng, sự cho thật lòng là một niềm vui thích để chúng ta nên làm. Chúng ta cảm nhận niềm hạnh phúc khi chúng ta có một ý định cho, trong cái hành động cho thật sự, và khi nhìn lại sự kiện mà chúng ta đã thực hiện. Lòng bao dung độ lượng là một điều đáng ca ngợi. Khi chúng ta cho ai một vật gì, chúng ta cảm thấy mình liên hệ với chúng, và sự tinh tấn của chúng ta đi đến con đường an lạc và tỉnh giác sâu sắc hơn. Sự rung động của trái tim khi chúng ta thực hành lòng khoan dung độ lượng với thế giới bên ngoài phản ánh lại sự rung động của trái tim khi chúng ta dứt bỏ những quan điểm gò bó bản thân về chuyến hành trình trở về nội tâm của mình. Sự dứt bỏ tạo nên một cảm giác thanh thản thú vị trong tâm của chúng ta. Bằng cách này công việc nội và ngoại tâm kết
hợp với nhau tạo nên một tinh thần bao dung độ lượng đó là một hình thức biểu lộ về sự giải thoát.
16. THÁI ÐỘ BAO DUNG
Tôi đến Ấn Ðộ lần đầu vào năm 1970, tôi đã đi bằng đường bộ qua châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan và Pakistan trước khi đặt chân đến Ấn Ðộ . Lúc ấy tôi mới18 tuổi, vẫn chưa bao giờ đi khỏi thành phố New York, quê nhà của tôi hơn một trăm (100) dặm đường. Tôi nhớ lại khi ở trên những bờ sông Bosporus Srait nơi chia cắt châu Âu và châu Á. Ðứng nhìn dòng nước chảy về hướng châu Á, tôi tự hỏi rồi đây sẽ như thế nào, và cảm thấy trong lòng trào dâng một nỗi niềm phiêu lưu kỳ thu và đầy sợ hải. Khi ở bên bờ sông đó, tôi không biết rằng chính những con người xa lạ, những nền văn hóa nơi ấy, cùng với những truyền thống tâm linh châu Á sẽ trở thành mục đích của cuộc đời tôi. Tôi chỉ biết rằng mình đang tìm kiếm một thứ hạnh phúc cao cả hơn, và tôi sẵn lòng mở rộng tấm
lòng với bất cứ điều gì có thể xảy đến.
Ý tưởng mở rộng này thì hết sức giống như phương pháp chúng ta, cần để nương tựa trong lúc tu tập thiền. Sự bao dung mang lại cho chúng ta lòng can đảm để tiến đến cuộc hành trình, dứt bỏ những gì chúng ta biết và đi vào nơi xa lạ. Thế giới vắng lặng và sự hiểu biết bằng trực giác để chúng ta đi vào thiền định, mà có lẽ nó không giống như bất cứ nơi nào chúng ta đã biết trước đây. Với một chút kiến thức đổi thay, chúng ta bám víu hoặc sử dụng để bảo vệ bản thân tránh khỏi thử thách từ cuộc sống chúng ta thì vẫn chưa được thỏa mãn.
Và tương tự như nhiều cuộc hành trình, thiền không phải là một tiến trình dài và hạn hẹp từng bước một; chúng ta luôn luôn không biết chính xác nơi nào mình sẽ đến hoặc thậm chí những gì chúng ta sẽ đi tiếp theo sau đó. Có một câu chuyện ngụ ngôn tôi nghe người ta kể ở Burma về một người thợ săn đi vào rừng để tìm bắt một con chim. Anh ta đi khắp nơi trong rừng trong nhiều ngày, nhưng kết cuộc chẳng bao giờ bắt được con chim. Nhưng điều đó cũng tốt thôi, bởi vì suốt quá trình đi lang thang đó, anh ta đã nắm rõ tất cả những đường đi nước bước trong khu rừng. Sự việc này giống chúng ta tu tập thiền. Chúng ta có thể có ý nghĩ rằng có một điều gì mình cần nắm bắt, hoặc có thể phô trương một điều gì. Vấn đề là chúng mở rộng sự hiểu biết về những tính cách của thân tâm.
Vấn đề là chúng ta hiểu được cách khám phá như thế nào, và làm cách nào để thực hiện chuyến hành trình khám phá này hài hòa với mối quan hệ của chúng ta đối với tất cả chúng sinh.
Khi chúng ta hiểu được cách nhìn rõ ràng những quy ước của những chiều hướng bình thường khi nhìn vào các sự kiện, vào một lúc nào đó chúng ta có thể nhận thức nhiều về những gì chúng ta đã mất đi hơn là đã tìm thấy. Có một lần khi tôi đi từ New Mexico trở về East Coast cùng với những người bạn và một đứa bé con bốn tuổi của họ. Ở phi trường St Louis, đứa bé đi lang thang và lạc đường. Tất cả mọi người chúng tôi điên cuồng chạy đi tìm kiếm con bé. Cuối cùng, loa phát thanh thông báo "Xin quý vị hành khách vui lòng đến cổng số hai nhận lại con gái của mình". Khi chúng tôi đến đó, nhận thấy đứa bé hết sức rối loạn và sợ hãi. Cô bé nói với mẹ mình "Mẹ không ở lại nơi mà con nghĩ đến". Thực tế, mẹ cô ta chẳng bao giờ rời khỏi nơi cô ta nghĩ đến, và chính đứa bé bỏ đi
lang thang. Sự việc xảy ra làm chúng tôi nhớ lại sự khiếp đảm và nỗi sợ hãi, đôi khi chúng ta cảm thấy trong cuộc sống của mình , chúng ta khám phá ra rằng hạnh phúc đã không ở nơi chúng ta mong đợi nó như vậy. Chúng ta đã được bảo rằng hạnh phúc chắc chắn sẽ được tìm thấy ở trong những vấn đề nào đó như là: ở mối quan hệ tiền bạc, công việc, và một nơi đặc biệt. Và như thế, khi chúng ta bất hạnh, chúng ta nghĩ rằng mình phải bị mất mát. Chúng ta cho rằng có một điều gì không ổn trong bản thân chúng ta chính xác hơn là một vấn đề nào đó. Tuy thế, nhờ thiền định chúng ta có thể thấy rằng có những nơi khác mà chắc hẳn chúng ta chưa được nói đến, ở đó cũng có niềm vui và sự mãn nguyện. Và vì thế chúng ta thanh thản từ giã những khuôn mẫu quen thuộc và sự dối trá, để bước
vào một phong cảnh mới lạ.
Khi chúng ta tiếp cận cuộc sống với nỗi thắc mắc, nó tạo cho chúng ta lòng can đảm để mở rộng tấm lòng của mình càng ngày càng nhiều hơn nữa, như vậy chúng ta có thể tìm thấy một thứ hạnh phúc cao cả hơn mà chúng ta chưa hề biết đến trước đây. Có một điều kỳ ảo trong sự thắc mắc, khi làm bạn với sự vắng lặng trong khoảng không giữa hai hơi thở, trong sự tìm thấy món quà đẹp đẽ của mối quan hệ. Nhờ tu tập thiền chúng ta có sự hiểu biết những vấn đề bí mật, đòi lại những món quà tặng bỏ quên.
Chúng ta ít khi diễn tả bằng lời nói về những gì xảy đến với chúng ta trong lúc thiền. Ðiều này hợp lý thôi, bởi vì đôi khi ngôn từ chỉ dùng để lập điều lệ những gì đang thay đổi và sống động. Nhà Vũ sư Isadona Duncan có lần nói, "Nếu tôi có thể nói cho anh biết ý nghĩa của nó, thì tôi đâu có vũ múa làm gì nữa". Chúng ta không thể cầm giữ sự tự do (giải thoát) như là một vật sở hữu cá nhân; chúng ta chỉ có thể giải thoát: chúng ta không thể, chúng ta chỉ có thể múa với nó. Khi chúng ta bận tâm về ý nghĩa những cảm nhận là gì, khi chúng ta cố gắng tính toán và giải thích chúng, chúng ta chấm dứt việc tạo một ý tưởng xa cách và sử dụng sự hiểu biết của mình như là một phương cách ngăn chặn lòng bao dung độ lượng.
Ðem cái ý nghĩa bao dung đối với cuộc sống của mình qua thiền định có thể giúp chúng ta thỏa thích với bất cứ điều gì mà chúng ta cảm nhận, khi chúng ta bước vào một nơi xa lạ và không quen thuộc Ðạo Lão có một câu châm ngôn:
"Tiến gần đến nó và không có sự khởi đầu,
đi theo nó, và không có sự kết thúc.
Bạn không thể biết nó, nhưng rồi bạn có thể là nó,
cuộc sống của bạn thật là thanh thản".
17. TIẾN VỀ PHÍA TRƯỚC
Tôi đã khóc nhiều khi Dipa Ma qua đời, rồi tôi nghĩ rằng "Chẳng còn ai sẽ yêu thương tôi giống như bà nữa". Thay vào đó điều mà tôi đã tìm được là tình yêu thương bà để lại, nó được xem như là một phần đời của tôi. Nguồn cảm hứng từ những lời nói và hành động của bà vẫn là kim chỉ nam trong cuộc sống của tôi, thúc đẩy sự tu tập của tôi, chỉ dạy tôi như tôi dạy người khác.
Một trong những kỷ niệm đáng yêu của tôi về Dipa Ma là từ đầu thập kỷ 70 khi tôi cùng nhiều bè bạn đang sống ở Ấn Ðộ, tu tập thiền hết sức tích cực. Một người bạn của tôi nhận được thư của mẹ mình, bà ta vô cùng giận dữ khi biết con mình đang tu tập theo Phật giáo ở Ấn Ðộ. Bà mẹ nói "Chẳng thà mẹ thấy con chết đi còn hơn trông thấy con như bây giờ". Anh ta hơi lấy làm sửng sốt và không thể biết cách nào để viết thư hồi âm. Anh trình bày với Dipa Ma về hoàn cảnh của mình, về sau, bất cứ khi nào anh ta gặp Dipa Ma, bà ta cũng thường hỏi "Mẹ anh có khỏe không? Bà ấy có cảm thấy đỡ hơn không? Khi tu tập thiền, con có gởi tâm từ đến cho bà ấy không?" Sau đó, Dipa Ma trao cho bạn tôi tờ bạc 100 đồng rupi (tiền Ấn), mà một thiền sinh đã gởi cho bà như là vật cúng dường.
Vào lúc ấy tờ bạc này tương đương 20 đôla, đối với Dipa Ma là một số tiền lớn. Bà đưa số tiền này cho anh ta và nói "Hãy đi mua một món quà và gởi tặng cho mẹ con". Một trong những lời dạy của Đức Phật là nếu bạn giận hờn ai, bạn nên gởi tặng họ một món quà. Lời dạy đó cách đây 2500 năm nhưng vẫn sống động đối với bạn tôi bởi tính cách của người phụ nữ này, chỉ có một chút cho bản thân, đưa tiền cho người học trò mình để tỏ thiện chí làm hòa.
Tôi nhớ lại Dipa Ma không chỉ là thầy của tôi mà còn là một người phụ nữ, một người mẹ, một bà ngoại. Một khi, người nào đó hỏi bà có phải bà nhận thấy những mối quan tâm tầm thường là một điều trở ngại. Bà trả lời "Chúng không phải là một trở ngại bởi vì bất cứ điều gì tôi hành động đều có thiền ở đó. Nó thật sự chẳng bao giờ rời khỏi tôi. Thậm chí khi tôi đang trò chuyện, tôi đang thiền. Khi tôi đang ăn uống hoặc nghĩ về đứa con gái của tôi - sự kiện này không làm trở ngại việc hành thiền" khi bà thăm viếng Hoa Kỳ cùng với gia đình mình, tôi nhớ lại khi theo dõi bà cùng chơi đùa với đứa cháu trai, Rishi, cười nói vui vẻ, xong rồi đứng dậy hướng dẫn cho một ai đó hành thiền. Có lẽ sau đó bà đi giặt quần áo bằng tay và đem phơi cho khô. Có lẽ bà đang thực hành thiền
hành rồi quay trở lại ngồi thiền. Rishi thường chạy nhảy vui đùa chung quanh phòng, trong lúc người con gái của Dipa Ma nấu nướng trong bếp hoặc xem truyền hình để cho máy mở hết âm thanh. Và Dipa Ma vẫn thường hành thiền ngay giữa những khung cảnh đó. Bất cứ khi nào có ai ngồi xuống phía trước mặt bà, bà thường mở mắt ra và tắm cho người ấy những trận mưa hạnh phúc.
Mặc dù bà chỉ cao bốn bộ anh và trong tình trạng sức khỏe rất yếu, nhưng năng lực của bà hết sức mạnh mẽ. Tôi nhớ lại bà như là một chiến sĩ năng động trong sự tu tập và một vị thầy đòi hỏi cao nơi các môn sinh. Không lâu trước khi bà qua đời, Joseph Goldstein và tôi đã gặp bà ở Ấn Ðộ, bà đề nghị rằng chúng tôi gắng ngồi hành thiền trong hai ngày. Bà không có ý nói đến khóa thiền hai ngày, nhưng hành thiền liên tục hai ngày. Cả hai chúng tôi đều có ý nghĩ sai lầm là không thể có khả năng để thực hiện một việc như thế. (Và tôi thắc mắc có phải bà ta thực sự nghĩ chúng tôi là như vậy). Nhưng khi chúng tôi bắt đầu phản đối, bà chỉ nói "Ðừng lười biếng".
Tôi vẫn còn nghe giọng nói của bà thì thầm bên tai, thách thức tôi mở rộng bản thân để khám phá những gì mà tôi thật sự có khả năng thực hiện, nhất là khi tôi cảm thấy bị giới hạn trong những từ ngữ về thực chất của tình thương và lòng bi mẫn mà tôi có thể đánh thức. Theo như tất cả mọi người chúng tôi, khả năng của tôi dành cho lòng từ bi hỷ xả đã vượt qua những ý tưởng về khả năng của mình. Khi tôi nhận ra mình do dự, không tiến bước về phía trước và thể hiện mối quan hệ mà tôi có thể thực hiện được, tôi trông thấy hình ảnh đôi mắt bà mở to và ban phúc lành cho một ai đó, hoặc cho người bạn của tôi tiền để mua quà cho mẹ anh ta, hoặc tôi nghe giọng nói của bà bảo tôi "Ðừng lười biếng". Như vậy là tôi tiến bước về phía trước.