KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
|
TẬP I
4. KINH SỢ HÃI KHIẾP ÐẢM
(Bhayabherava Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông
Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Bà-la-môn Janussoni đến chỗ Thế Tôn ở, khi
đến xong, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một
bên, Bà-la-môn Janussoni bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama, có những Thiện nam tử, vì lòng tin Tôn giả Gotama, đã
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðối với những vị này, Tôn giả
Gotama là vị lãnh đạo. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama giúp ích rất
nhiều. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama là vị khích lệ sách tấn. Các vị
này chấp nhận tuân theo quan điểm của Tôn giả Gotama.
-- Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này
Bà-la-môn, có những Thiện nam tử, vì lòng tin nơi Ta, đã xuất gia, từ bỏ gia
đình, sống không gia đình. Ta là vị lãnh đạo của họ. Ta đã giúp ích rất
nhiều cho họ. Ta là vị khích lệ sách tấn cho họ. Và các vị này chấp nhận
tuân theo quan điểm của Ta.
-- Tôn giả Gotama, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi
hoang vu! Thật khó khăn đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc
cư! Con nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền
định.
-- Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này
Bà-la-môn, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu!
Thật khó khăn, đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Ta
nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định.
Này Bà-la-môn, xưa kia khi Ta chưa chứng ngộ chánh đẳng giác, khi còn là
Bồ-tát, Ta nghĩ như sau: "Thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu! Thật khó khăn, đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời
sống độc cư! Ta nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa
chứng Thiền định!"
Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, thân
nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang
vu, do nguyên nhân nhiễm trước, thân nghiệp không thanh tịnh, những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi
lên. Ta không có thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng,
trong rừng núi hoang vu. Thân nghiệp Ta thanh tịnh. Ta là một trong những
bậc Thánh, với thân nghiệp thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát thân nghiệp hoàn toàn
thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong
rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn,
hay Bà-la-môn nào, có khẩu nghiệp không thanh tịnh... (như trên)... có ý
nghiệp không thanh tịnh... (như trên)... có mạng sống không thanh tịnh sống
tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước
mạng sống không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn
làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có mạng sống không
thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Mạng sống
Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với mạng sống thanh tịnh,
sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự
quán sát mạng sống hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được
xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào tham dục, có ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa
vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước tham dục, có ái
dục cường liệt, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ
hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tham dục, ái dục cường liệt,
sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta không có tham dục,
Ta là một trong những bậc Thánh, không có tham dục, sống tại các trú xứ xa
vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có
tham dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong
rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào có tâm sân hận ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, có tâm sân hận ác ý, những
Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất
thiện khởi lên. Ta không có tâm sân hận, ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng
trong rừng núi hoang vu. Ta có từ tâm. Ta là một trong những bậc Thánh có từ
tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn,
Ta tự quán sát Ta có từ tâm như vậy, Ta cảm thấy lòng tự tin được xác chứng
hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào bị hôn trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa
vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị hôn trầm thụy
miên chi phối, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ
hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không bị hôn trầm thụy miên chi phối,
sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có hôn trầm
thụy miên. Ta là một trong những bậc Thánh không có hôn trầm thụy miên, sống
tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán
sát Ta không có hôn trầm thụy miên như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác
chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào dao động, tâm không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng,
trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị dao động, tâm không
an tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi,
khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có dao động, tâm không phải không an
tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có dao
động, tâm được an tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh không có dao động,
tâm được an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này
Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta được an tịnh như vậy, tự cảm thấy lòng tự
tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước nghi hoặc, do dự, những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi
lên. Ta không có nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu. Ta diệt trừ được do dự. Ta là một trong những bậc Thánh diệt
trừ được nghi hoặc, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu".
Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta diệt trừ được nghi hoặc như vậy, tự cảm
thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào khen mình, chê người sống tại các trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước khen mình, chê người, những
Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất
thiện khởi lên. Ta không có khen mình, chê người, sống tại các trú xứ xa
vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có khen mình, không có chê người, Ta
là một trong những bậc Thánh không có khen mình, không có chê người, sống
tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán
sát tâm Ta không có khen mình, không có chê người như vậy, tự cảm thấy lòng
tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào run rẩy, sợ hãi sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước run rẩy, sợ hãi, những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi
lên. Ta không có run rẩy, sợ hãi, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu. Ta không có lông tóc dựng ngược, sống tại các trú xứ xa vắng,
trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có lông tóc
dựng ngược, Ta là một trong những bậc Thánh, không có lông tóc dựng ngược
như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng
núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú
xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước ham muốn lợi
dưỡng, cung kính, danh vọng, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn
làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có ham muốn lợi
dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi
hoang vu. Ta là người ít dục. Ta là một trong những bậc Thánh ít dục, sống
tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán
sát Ta là người ít dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn,
khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng,
trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước biếng nhác, kém tinh
tấn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp
đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các
trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta siêng năng, tinh tấn. Ta là một
trong những bậc Thánh siêng năng, tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng,
trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta siêng năng, tinh
tấn như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng
núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào thất niệm, không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng,
trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước thất niệm, không tỉnh
giác, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp
đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thất niệm, không phải không tỉnh giác,
sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta an trú niệm. Ta là
một trong những bậc Thánh an trú niệm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong
rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta quán sát Ta an trú niệm như vậy, tự
cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào không định tĩnh, tâm bị tán loạn, sống tại các trú xứ xa
vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước không định tĩnh,
tâm bị tán loạn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ
hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta được định tĩnh, tâm không bị tán loạn
sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu định tâm.
Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu định tâm, sống tại các trú xứ xa
vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu
định tâm như vậy, từ cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong
rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu. Do nguyên nhân nhiễm trước liệt tuệ, đần độn, những Tôn giả
Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi
lên. Ta không có liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng
núi hoang vu. Ta thành tựu trí tuệ. Ta là một trong những bậc Thánh thành
tựu trí tuệ, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này
Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu trí tuệ như vậy, tự cảm thấy lòng tự
tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Trong những
đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám
mỗi nửa tháng, trong những đêm như vậy, Ta hãy đến ở tại các trú xứ hãi
hùng, lông tóc dựng ngược, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các
rừng núi, tự miếu tại các cây cối, để Ta có thể thấy sự sợ hãi khiếp đảm
ấy". Này Bà-la-môn, sau một thời gian, trong những đêm được biết đến, được
xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nữa tháng, trong
những đêm như vậy, Ta đến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược như
vậy, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại
các cây cối. Này Bà-la-môn, trong khi ta ở tại các chỗ ấy, một con thú có
thể đến, hay một con công làm rơi một cành cây, hay gió làm rung động các lá
rơi; Ta khởi lên ý nghĩ: "Nay sự sợ hãi khiếp đảm ấy đã đến!". Này
Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: "Sao Ta ở đây, chỉ để mong đợi sự sợ hãi khiếp
đảm chớ không gì khác? Trong bất cứ hành vi cử chỉ nào của Ta mà sợ hãi
khiếp đảm ấy đến, trong hành vi cử chỉ ấy, Ta hãy trừ diệt sợ hãi khiếp đảm
ấy".
Này Bà-la-môn trong khi Ta đi kinh hành qua lại mà sợ hãi khiếp đảm ấy
đến, thì này Bà-la-môn, Ta không đứng, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta
trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đi kinh hành qua lại. Này
Bà-la-môn, trong khi Ta đang đứng mà sự sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này
Bà-la-môn, Ta không kinh hành qua lại, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta
trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang đứng. Này Bà-la-môn, trong
khi Ta đang ngồi mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không
nằm, Ta không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi
khiếp đảm ấy trong khi Ta đang ngồi. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang nằm mà
sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không ngồi, Ta không đứng, Ta
không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta
đang nằm.
Này Bà-la-môn, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nghĩ rằng ngày giống như đêm,
nghĩ rằng đêm giống như ngày. Như vậy, Ta nói rằng những Sa-môn, Bà-la-môn
ấy sống trong si ám. Này Bà-la-môn, Ta nghĩ rằng đêm là đêm, nghĩ rằng ngày
là ngày. Này Bà-la-môn, ai nói một cách chơn chánh sẽ nói như sau: "Vị hữu
tình nào không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc
cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an
lạc cho loài Trời và loài Người. Vị ấy khi nói một cách chân chánh về Ta sẽ
nói như sau: "Là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho
muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người".
Này Bà-la-môn, Ta tinh cần, tinh tấn, không lười biếng. Ta an trú chánh
niệm, không có loạn, thân được khinh an, không có dao động, tâm được định
tĩnh, chuyên nhất.
Này Bà-la-môn, Ta ly dục, ly các ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất,
một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ.
Diệt tầm, diệt tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc
do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh
gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba.
Xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và an trú Thiền
thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến
túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời,
bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm
mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều
hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ
kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các
món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này.
Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có
tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như
thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết
tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây". Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá
khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
Này Bà-la-môn, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh
diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến
sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự
sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt,
kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do
hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về
lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp
theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào
cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những
thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những
thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các
nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được
sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần
tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng
sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn,
kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
Này Bà-la-môn, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh
diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến
lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: "Ðây là khổ", thắng tri như thật: "Ðây
là nguyên nhân của khổ", thắng tri như thật: "Ðây là khổ diệt", thắng tri
như thật: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt", thắng tri như thật: "Ðây là
những lậu hoặc", thắng tri như thật: "Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc",
thắng tri như thật: "Ðây là các lậu hoặc diệt", thắng tri như thật: "Ðây là
con đường đưa đến các lậu hoặc diệt".
Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát
khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy,
khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: "Sanh đã tận,
phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này
nữa".
Này Bà-la-môn trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt,
minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật
nhiệt tâm tinh cần.
Này Bà-la-môn, Ông có thể có tư tưởng như sau: "Nay Sa-môn Gotama chưa
diệt trừ tham, chưa diệt trừ sân, chưa diệt trừ si, nên sống tại các trú xứ
xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, chớ có hiểu như vậy. Do Ta
quán sát hai mục đích mà Ta sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi
hoang vu. Tự thấy sự hiện tại lạc trú và vì lòng thương tưởng chúng sanh
trong tương lai.
-- Chúng sanh trong tương lai được Tôn giả Gotama thương tưởng, vì Tôn
giả là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Như người dựng đứng lại những gì bị
quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc
hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc.
Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày
giải thích. Con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong
Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử; từ này trở đi cho đến mạng chung, con
trọn đời quy ngưỡng.