KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP II
100. KINH SANGÀRAVA
(Sangàrava Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn du hành trong nước Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.
Lúc bấy giờ, một nữ Bà-la-môn tên Dhananjani (Ða-na-xa-ni) trú ở
Candalakappa (Ðan-đạt-la-kiếp-ba) có lòng tín thành Phật, Pháp và Tăng. Rồi
nữ Bà-la-môn Dhananjani sau khi bị trợt chân, thốt lên ba lần cảm hứng ngữ:
"Ðảnh lễ đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ đức Thế Tôn
ấy, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác!"
Lúc bấy giờ một thanh niên Bà-la-môn tên Sangarava trú ở Candalakappa,
tinh thông ba tập Veda, với tự vững, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các
cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại
nhân tướng. Thanh niên Bà-la-môn Sangarava nghe nữ Bà-la-môn Dhananjani nói
như vậy, sau khi nghe, liền nói với nữ Bà-la-môn Dhanajani:
-- Nữ Bà-la-môn Dhananjani này thật là hạ liệt! Nữ Bà-la-môn Dhananjani
này thật là suy đồi, vì rằng trong khi các Bà-la-môn đang còn sống lại nói
lời ta thán Sa-môn trọc đầu ấy.
-- Này Hiền giả thân mến, có phải Hiền giả chưa biết đến giới đức và tuệ
đức của Như Lai? Này Hiền giả thân mến, nếu Hiền giả biết đến giới đức và
tuệ đức của Như Lai, tôi nghĩ rằng, này Hiền giả thân mến, Hiền giả sẽ không
nghĩ rằng Thế Tôn đáng bị mạ lỵ, đáng bị mắng nhiếc.
-- Vậy thưa Bà, khi nào Sa-môn Gotama đến tại Candalakappa, Bà hãy báo
tin cho tôi biết.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Nữ Bà-la-môn Dhananjani vâng đáp thanh niên Bà-la-môn Sangarava.
Rồi Thế Tôn tiếp tục du hành trong nước Kosala và đến Candalakappa. Tại
đây, Thế Tôn trú tại Candalakappa trong rừng xoài của các Bà-la-môn của bộ
tộc Todeyya.
Nữ Bà-la-môn Dhananjani được nghe: "Thế Tôn đã đến Candalakappa, trú tại
Candalakappa trong rừng xoài của các Bà-la-môn của bộ tộc Todeyya". Rồi nữ
Bà-la-môn Dhananjani đi đến thanh niên Bà-la-môn Sangarava, sau khi đến, nói
với thanh niên Bà-la-môn Sangarava:
-- Này Hiền giả thân mến, bậc Thế Tôn ấy đã đến Candalakappa trú tại
Candalakappa trong rừng xoài của các vị Bà-la-môn của bộ tộc Todeyya. Này
Hiền giả thân mến, nay Hiền giả làm những gì mà Hiền giả nghĩ là hợp thời.
-- Thưa Bà, vâng.
Thanh niên Bà-la-môn Sangarava, vâng đáp nữ Bà-la-môn Dhananjani, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau
khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, thanh niên Bà-la-môn Sangarava bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tự nhận rằng về căn
bản Phạm hạnh, họ đã chứng đạt được ngay hiện tại thông trí và cứu cánh bỉ
ngạn nhờ thượng trí (abinnavesanaparamipatta). Tôn giả Gotama là thế nào đối
với các vị ấy?
-- Này Bharadvaja, Ta nói rằng, có sự sai khác giữa những vị tự nhận rằng
về căn bản Phạm hạnh, họ đã chứng đạt được ngay trong hiện tại thông trí và
cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng trí. Này Bharadvaja, có một số Sa-môn, Bà-la-môn
theo tin đồn (hay truyền thống), do tin đồn (hay truyền thống), họ tự nhận
rằng về căn bản Phạm hạnh, họ đã chứng đạt được ngay hiện tại thông trí với
cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng trí, như các Bà-la-môn thông hiểu ba tập Veda.
Nhưng này Bharadvaja, có một số Sa-môn Bà-la-môn hoàn toàn chỉ do lòng tin,
tự nhận rằng về căn bản Phạm hạnh, họ đã chứng đạt ngay trong hiện tại thông
trí và cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng trí, như các nhà lý luận (các nhà suy
tư). Này Bharadvaja, có một số Sa-môn, Bà-la-môn đối với các pháp từ trước
chưa từng được nghe, tự mình chứng tri hoàn toàn pháp ấy, tự nhận rằng về
căn bản Phạm hạnh, do đã chứng đạt ngay trong hiện tại thông trí và cứu cánh
bỉ ngạn nhờ thượng trí. Ở đây, này Bharadvaja, các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy
đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, tự mình chứng tri hoàn toàn
pháp ấy, tự nhận rằng về căn bản Phạm hạnh, họ đã chứng đạt ngay trong hiện
tại thông trí và cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng trí.
Ta là một trong những vị ấy. Này Bharadvaja, Ông cần phải hiểu theo nghĩa
như vậy. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy đối với các pháp từ trước chưa từng
được nghe, tự mình chứng tri hoàn toàn pháp ấy, tự nhận rằng, về căn bản
Phạm hạnh, họ đã chứng đạt ngay trong hiện tại thông trí và cứu cánh bỉ ngạn
nhờ thượng trí, Ta là một trong những vị ấy.
Ở đây, này Bharadvaja, thuở xưa, khi Ta chưa thành bậc Chánh Ðẳng Giác,
còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ðời sống tại gia chật hẹp, nhiễm đầy
bụi đời; đời sống xuất gia phóng khoáng như ngoài trời. Thật không dễ gì
sống tại gia, có thể sống đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn
thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy Ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa,
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
Rồi này Bharadvaja, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc
đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc
đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ
râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng
tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alara Kalama ở, khi đến xong liền thưa
với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật
này". Này Bharadvaja, được nghe nói vậy, Alara Kalama nói với Ta: "Này Tôn
giả, hãy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao
lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú".
Này Bharadvaja, và không bao lâu Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau
chóng. Và này Bharadvaja, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà
nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng
tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
Này Bharadvaja, Ta suy nghĩ như sau: "Alara Kalama tuyên bố pháp này
không phải chỉ vì lòng tin: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an
trú". Chắc chắn Alara Kalama biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú".
Này Bharadvaja, rồi Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến Ta nói với
Alara Kalama: "Hiền giả Kalama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng,
tự đạt, và tuyên bố pháp này?" Này Bharadvaja, được nói vậy, Alara Kalama
tuyên bố về Vô sở hữu xứ.
Rồi này Bharadvaja, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có lòng
tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta
cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta cũng có
niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta cũng có định. Không
phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng
chứng cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự
đạt, ta an trú".
Rồi này Bharadvaja, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp
ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này Bharadvaja, Ta đi đến chỗ Alara
Kalama ở, sau khi đến, Ta nói với Alara Kalama: "Này Hiền giả Kalama, có
phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ
như vậy?" --"Vâng, Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố
pháp này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự
đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Thật lợi ích thay cho chúng
tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng
phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố,
chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả
tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng tự
đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền
giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền
giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy
chăm sóc hội chúng này!"
Như vậy này Bharadvaja, Alara Kalama là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử
của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng.
Này Bharadvaja, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không
hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không
hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà
chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này Bharadvaja, Ta không tôn
kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
Rồi này Bharadvaja, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối
thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói
với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật
này. Ðược nói vậy, này Bharadvaja, Uddaka Ramaputta nói với Ta: "Này Tôn
giả, hãy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao
lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú".
Này Bharadvaja, Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này
Bharadvaja, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói
giáo lý của kẻ trí, và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng Tọa), và Ta tự cho
rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
Này Bharadvaja, Ta suy nghĩ như sau: "Rama tuyên bố pháp này không phải
vì lòng tin: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú". Chắc chắn
Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú". Này Bharadvaja, rồi Ta
đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta:
"Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên
bố pháp này?" Này Bharadvaja được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về
Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Rồi này Bharadvaja, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Rama mới có lòng tin.
Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh
tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có
Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta
cũng có tuệ. Vậy ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: "Sau
khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú".
Rồi này Bharadvaja, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp
ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này Bharadvaja, Ta đi đến chỗ Uddaka
Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Này Hiền giả Rama,
có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ
như vậy?" --"Vâng Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp
này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền giả, tôi cũng đã tự tri, tự chứng, tự
đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy." Thật lợi ích thay cho chúng
tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng
phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố,
chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả
tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự
đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền
giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền
giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy
chăm sóc hội chúng này!"
Như vậy, này Bharadvaja, Uddaka Ramaputta-là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta,
đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối
thượng. Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly,
không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh,
không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến
Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Như vậy,
này Bharadvaja, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
Này Bharadvaja, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối
thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến
tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái,
một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội
qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực.
Này Bharadvaja, rồi Ta tự nghĩ: "Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng
thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả
ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ
vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn". Và này
Bharadvaja, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: "Thật là vừa đủ để tinh tấn".
Rồi này Bharadvaja, ba ví dụ khởi lên nơi Ta, vi diệu, từ trước chưa từng
được nghe: Này Bharadvaja, ví như có một khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống và
đặt trong nước. Có một người đến, cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: "Ta sẽ
nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra". Này Bharadvaja, Ông nghĩ thế nào? Người ấy
lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống đặt trong nước ấy, rồi cọ xát với dụng
cụ làm lửa thì có thể nhen lửa, khiến lửa nóng hiện ra được không?
-- Thưa không, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì cành
cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống lại bị ngâm trong nước, nên người ấy chỉ bị
mệt nhọc và bực bội.
-- Cũng vậy, này Bharadvaja, những Sa-môn hay những Bà-la-môn sống không
xả ly các dục về thân, những gì đối với chúng thuộc các dục như dục tham,
dục ái, dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo
đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt, nếu những Tôn giả Sa-môn hay
Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch
liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh
Ðẳng Giác, và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình
cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy
cũng không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này
Bharadvaja, đó là ví dụ thứ nhất, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe,
được khởi lên nơi Ta.
Này Bharadvaja, rồi một ví dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được
nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Bharadvaja, ví như có một khúc cây đẫm ướt,
đầy nhựa sống, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến,
cầm dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: "Ta sẽ nhen lửa, hơi nóng sẽ hiện ra". Này
Bharadvaja, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây đẫm ướt, đầy nhựa sống,
được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô ấy, rồi cọ xát với dụng cụ làm
lửa, có thể nhen lửa, khiến hơi nóng hiện ra được không?
-- Thưa không, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc
cây ấy đẫm ướt, đầy nhựa sống, dầu được vớt khỏi nước, được đặt trên đất
khô, nên người ấy chỉ bị mệt nhọc và bực bội.
-- Cũng vậy, này Bharadvaja, những Sa-môn hay Bà-la-môn sống không xả ly
các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục như dục tham, dục
ái, dục hôm ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn
trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt. Nếu những Tôn giả Sa-môn, hay Bà-la-môn
này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc
liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những
cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy cũng không có
thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Bharadvaja, đó là ví
dụ thứ hai, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.
Này Bharadvaja, rồi một ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được
nghe, được khởi lên nơi Ta. Này Bharadvaja, ví như có một khúc cây khô,
không nhựa, được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô. Có một người đến cầm
dụng cụ làm lửa với ý nghĩ: "Ta sẽ nhen lửa, lửa nóng sẽ hiện ra". Này
Bharadvaja, Ông nghĩ thế nào? Người ấy lấy khúc cây khô, không nhựa, được
vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô, rồi cọ xát với dụng cụ làm lửa, có thể
nhen lửa, khiến nơi nóng hiện ra được không?
-- Thưa được, Tôn giả Gotama. Vì sao vậy? Này Tôn giả Gotama, vì khúc cây
ấy khô, không nhựa, lại được vớt khỏi nước, được đặt trên đất khô.
-- Cũng vậy, này Bharadvaja, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả
ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham,
dục ái, dục hôn ám, dục khác vọng, dục nhiệt não, về nội tâm được khéo đoạn
trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm
giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy có thể chứng được
tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay
Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác khổ đau, kịch liệt,
khốc liệt, các vị này cũng có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng
Giác. Này Bharadvaja, đó là ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được
nghe, được khởi lên nơi Ta.
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ: "Ta hãy nghiến răng, dán chặt lên lưỡi
lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm!" Này
Bharadvaja, rồi Ta nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự
tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi
lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi
thoát ra từ nơi nách của Ta. Này Bharadvaja, như một người lực sĩ nắm lấy
đầu một người ốm yếu hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục và đánh bại
người ấy. Này Bharadvaja, khi Ta đang nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc
họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, mồ hôi thoát ra từ
nơi nách của Ta, này Bharadvaja, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn,
tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị
khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh
tấn chống lại khổ thọ ấy.
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hãy tu Thiền nín thở". Và
này Bharadvaja, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi.
Này Bharadvaja, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi,
thì một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này
Bharadvaja, ví như tiếng kinh khủng phát ra từ ống thổi bệ đang thổi của
người thợ rèn. Cũng vậy này Bharadvaja, khi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua
miệng và ngang qua mũi, thời một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang
qua lỗ tai. Này Bharadvaja, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận
lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị kích
động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn
chống lại khổ thọ ấy.
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hãy tu thêm Thiền nín thở".
Và này Bharadvaja, rồi Ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi,
và ngang qua tai. Này Bharadvaja, khi Ta nín thở vô thở ra ngang qua miệng,
ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói
trong đầu Ta. Này Bharadvaja, ví như một người lực sĩ chém đầu một người
khác với một thanh kiếm sắc, cũng vậy này Bharadvaja, khi ta nín thở vô, thở
ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có ngọn gió kinh
khủng thổi lên đau nhói trong đầu Ta. Này Bharadvaja, dầu cho Ta có chí tâm,
tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng
thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự
tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hãy tu thêm Thiền nín thở".
Và này Bharadvaja, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi
và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu, một cách kinh khủng. Này Bharadvaja,
ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi
xiết mạnh; cũng vậy, này Bharadvaja, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua
miệng, ngang qua mũi, và ngang qua tai, Ta cảm giác đau đầu một cách kinh
khủng. Này Bharadvaja, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn tận lực,
dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích
động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn
chống lại khổ thọ ấy.
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hãy tu thêm Thiền nín thở".
Và này Bharadvaja, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi
và ngang qua tai. Này Bharadvaja, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua
miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang
bụng của Ta. Này Bharadvaja, ví như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử
người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén. Cũng vậy,
này Bharadvaja, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi và
ngang qua tai, một ngọn kinh khủng cắt ngang bụng của Ta. Này Bharadvaja,
dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dẫu cho niệm được an
trú, không dao động nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh
an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy.
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hãy tu thêm Thiền nín thở".
Và này Bharadvaja, rồi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang qua mũi
và ngang qua tai. Này Bharadvaja, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua
miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai, thì có một sức nóng kinh khủng khởi
lên trong thân Ta. Này Bharadvaja, ví như hai người lực sĩ sau khi nắm cánh
tay một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng.
Cũng vậy, này Bharadvaja, khi Ta nín thở vô, thở ra, ngang qua miệng, ngang
qua mũi và ngang qua tai thì có một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân
Ta. Này Bharadvaja, dầu cho Ta có chí tâm, tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu
cho niệm được an trú, không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động,
không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống
lại khổ thọ ấy.
Lại nữa, này Bharadvaja, chư Thiên thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gotama
đã chết rồi". Một số chư Thiên nói như sau: "Sa-môn Gotama chưa chết, nhưng
Sa-môn Gotama sắp sửa chết". Một số chư Thiên nói như sau: "Sa-môn Gotama
chưa chết. Sa-môn Gotama, cũng không phải sắp chết. Sa-môn Gotama là bậc
A-la-hán, đời sống của một A-la-hán là như vậy".
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta hãy hoàn toàn tuyệt thực".
Rồi này Bharadvaja, chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Này Thiện hữu, Hiền
giả chớ có hoàn toàn tuyệt thực. Này Thiện hữu, nếu Hiền giả có hoàn toàn
tuyệt thực, chúng tôi sẽ đổ các món ăn chư Thiên ngang qua các lỗ chân lông
cho Hiền giả, và nhờ vậy Hiền giả vẫn sống". Rồi này Bharadvaja, Ta suy nghĩ
như sau: "Nếu Ta hoàn toàn tuyệt thực và chư Thiên này đổ các món ăn chư
Thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Ta và nhờ vậy Ta vẫn sống, thời như vậy
Ta tự dối Ta". Này Bharadvaja, Ta bác bỏ chư Thiên ấy và nói: "Như vậy là
đủ".
Này Bharadvaja, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: "Ta hãy giảm thiểu tối đa ăn
uống, ăn ít từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay
xúp đậu nhỏ". Và này Bharadvaja, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống,
ăn từng giọt một, như xúp đậu xanh, xúp đậu đen hay xúp đậu hột hay xúp đậu
nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở
thành như những gọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; vì Ta ăn quá ít, bàn
trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà; vì Ta ăn quá ít, xương sống
phô bày của Ta giống như một chuỗi banh; vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy
mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; vì Ta ăn quá ít, nên con
ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước
long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu; vì Ta ăn quá ít, da
đầu Ta trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước
khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Bharadvaja, nếu Ta
nghĩ: "Ta hãy rờ da bụng", thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ:
"Ta hãy rờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít,
nên này Bharadvaja, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Bharadvaja,
nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện" thì Ta ngã quúp mặt xuống
đất, vì Ta ăn quá ít. Này Bharadvaja, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay
xoa bóp chân tay, thì này Bharadvaja, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các
lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.
Lại nữa, này Bharadvaja, có người thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gotama có
da đen". Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama, da không đen, Sa-môn
Gotama có da màu xám". Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama da không
đen, da không xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama da không đen,
da không xám, Sa-môn Gotama có da màu vàng sẫm". Cho đến mức độ như vậy, này
Bharadvaja, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại vì Ta ăn quá ít.
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Thuở xưa có những Sa-môn hay
Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt,
khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Về
tương lai, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình lình cảm thọ những cảm giác
chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng
không thể có gì hơn nữa. Trong hiện tại, có những Sa-môn hay Bà-la-môn thình
lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những
sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Nhưng Ta, với sự khổ
hạnh khốc liệt như thế này, vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến
thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?"
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta biết, trong khi phụ thân Ta,
thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây
diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ
nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ". Khi an trú như
vậy, Ta nghĩ: "Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?" Và này Bharadvaja,
tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: "Ðây là đạo lộ đưa đến giác
ngộ".
Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ: "Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ
ly dục, ly pháp bất thiện?" Này Bharadvaja, rồi Ta suy nghĩ: "Ta không sợ
lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện"."
Rồi này Bharadvaja, Ta suy nghĩ: "Nay thật không dễ gì chứng đạt lạc thọ
ấy, với thân thể ốm yếu kinh khủng như thế này. Ta hãy ăn thô thực ăn cơm
chua". Rồi này Bharadvaja, Ta ăn thô thực, ăn cơm chua. Này Bharadvaja, lúc
bấy giờ, năm Tỷ-kheo đang hầu hạ Ta suy nghĩ: "Khi nào Sa-môn Gotama chứng
pháp, vị ấy sẽ nói cho chúng ta biết". Này Bharadvaja, khi thấy Ta ăn thô
thực, ăn cơm chua, các vị ấy chán ghét Ta, bỏ đi và nói: "Sa-môn Gotama nay
sống đầy đủ vật chất, từ bỏ tinh tấn, trở lui đời sống sung túc".
Rồi này Bharadvaja, sau khi ăn thô thực và được sức lực trở lại, Ta ly
dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc
do ly dục sanh, có tầm có tứ. Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai,
một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi
là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã
cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh
tịnh.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng
tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai
đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi
đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại
kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia,
Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ
lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta
được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế
này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế
này". Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương
và các chi tiết. Này Bharadvaja, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được trong
đêm canh một, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng
tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh,
siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh,
người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất
hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân,
lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến;
những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú,
đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời
và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo
chánh kiến; những vị này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các
thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy Ta với thiên nhãn thuần tịnh,
siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rõ rằng chúng sanh,
người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất
hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Bharadvaja, đó là minh thứ hai Ta đã
chứng được trong đêm canh giữa, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng
sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng
tâm đến Lậu tận trí. Ta biết như thật: "Ðây là Khổ", biết như thật: "Ðây là
Nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Ðây là sự Diệt khổ", biết như thật:
"Ðây là Con đường đưa đến diệt khổ", biết như thật: "Ðây là những lậu hoặc",
biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là sự
diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ
các lậu hoặc". Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi
dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải
thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát" Ta đã biết:
"Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại
không có đời sống nào khác nữa". Này Bharadvaja, đó là minh thứ ba mà Ta đã
chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh,
do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần.
Khi nghe nói vậy, thanh niên Bà-la-môn San-garava bạch thế tôn:
-- Thật sự, sự tinh cần của tôn giả Gotama là trung kiên (atthita). Thật
sự, sự tinh cần của tôn giả Gotama là sự tinh cần của các bậc Chân nhân
(Sappurisa), một bậc như là A-la-han, Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Gotama,
có các chư Thiên không?
-- Này Bharadvaja, Ta được biết một cách chắc chắn có chư Thiên.
-- Nhưng vì sao, thưa Tôn giả Gotama, khi được hỏi có các chư Thiên
không, lại hỏi: "Này Bharadvaja, Ta được biết một cách chắc chắn có chư
Thiên". Sự việc là như vậy, thưa Tôn giả Gotama, thì có phải là hư ngôn,
vọng ngữ không?
-- Này Bharavaja, nếu khi được hỏi: "Có chư Thiên không?"; cần phải đáp:
"Có chư Thiên"; nhưng lại đáp: "Chắc chắn Ta được biết có chư Thiên". Như
vậy, một người có trí đi đến kết luận không có gì nghi ngờ nữa, là có chư
Thiên.
-- Nhưng vì sao Tôn giả Gotama không giải thích như vậy cho con từ khi
bắt đầu?
-- Này Bharadvaja, như vậy đã được lớn tiếng chấp nhận ở đời tức là có
chư Thiên.
Khi nghe nói vậy, thanh niên Bà-la-môn Sangarava bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi
bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào
trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy chánh pháp đã
được Thế Tôn dùng nhiều phương diện trình bày. Và nay con xin quy y Tôn giả
Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con
làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.