KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
105. KINH THIỆN TINH
(Sunakkhatta Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly), ở Ðại Lâm, tại Trùng Các
giảng đường (Kutagarasala).
Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác:
"Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã
làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
Sunakkhatta Licchaviputta (Thiện Tinh Ly-xa Tử) được nghe: "Nhiều
Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: "Chúng tôi biết rằng
sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở
lại trạng thái này nữa"". Rồi Sunakkhatta Licchaviputta đi đến chỗ Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
Sunakkhatta Licchaviputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn con có được nghe như sau: "Nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế
Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: "Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa"".
Bạch Thế Tôn, không biết các Tỷ-kheo ấy đã tuyên bố một cách chơn chánh
chứng trí giác, hay ở đây có một số Tỷ-kheo, vì tăng thượng mạn đã tuyên bố
chứng trí giác?
-- Này Sunakkhatta, những vị Tỷ-kheo trước mặt Ta đã tuyên bố chứng trí
giác: "Chúng tôi biết rằng, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên
làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa". Ở đây, có một số Tỷ-kheo
đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác; nhưng ở đây, cũng có một số Tỷ-kheo
chính vì tăng thượng mạn, đã tuyên bố chứng trí giác. Ở đây, này
Sunakkhatta, những vị Tỷ-kheo nào đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác,
thời đối với các vị ấy, thật là đúng như vậy. Nhưng đối với các vị Tỷ-kheo
nào, vì tăng thượng mạn đã tuyên bố chứng tri giác, ở đây, này Sunakkhatta,
Như Lai nghĩ như sau: "Ta hãy thuyết pháp cho những vị ấy". Và như vậy, ở
đây, này Sunakkhatta, Như Lai suy nghĩ: "Ta hãy thuyết pháp cho những vị
ấy". Nhưng ở đây, nếu có một số người ngu si, bày đặt câu hỏi, đến hỏi Như
Lai; ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai suy nghĩ như sau: "Ta hãy thuyết pháp
cho những người ấy". Như Lai suy nghĩ như vậy, không có làm khác.
-- Nay đã đúng thời để thuyết pháp, bạch Thế Tôn! Nay đã đúng thời để
thuyết pháp, bạch Thiện Thệ! Thế Tôn thuyết pháp như thế nào, sau khi nghe
Thế Tôn xong, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
-- Vậy này Sunakkhatta, hãy nghe và khéo tác ý kỹ, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Sunakkhatta Licchaviputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này Sunakkhatta, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc
do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn;
các tiếng do tai nhận thức... ; các hương do mũi nhận thức... ; các vị do
lưỡi nhận thức... ; các xúc do thân cảm xúc khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý,
liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Sunakkhatta, những pháp này là năm dục trưởng
dưỡng.
Nhưng này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người thiên
nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế gian,
này Sunakkhatta, câu chuyện (thích hợp với người ấy) phải tùy thuộc như thế
nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao
thiệp với người nào người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ
đến bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú
vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích
thú.
Ví như này Sunakkhatta, có người đã lâu không trú ở trong làng hay thị
trấn của mình, và có thể thấy một người vừa mới từ làng ấy hay thị trấn ấy
lại. Người này sẽ hỏi người ấy về sự an ninh của làng hay thị trấn ấy, về đồ
ăn uống sung túc và về ít bệnh tật, và người ấy sẽ nói cho người này biết về
sự an ổn của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và về ít bệnh tật.
Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Có phải người này sẽ nghe người kia, lóng
tai, tâm an trú vào trí giác và người này sẽ giao thiệp với người ấy mà
người này thích thú?
-- Thưa phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người
thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế
gian, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như
thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao
thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ
đến Bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú
vào thượng trí, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không
thích thú. Người ấy cần được hiểu như vầy: "Là hạng người thiên nặng về vật
chất thế gian".
Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi một số người thiên nặng về Bất
động. Ðối với người thiên nặng về Bất động, này Sunakkhatta, câu chuyện
thích hợp (với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều
người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy
thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến vật chất thế gian, thời
người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và
người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.
Ví như, này Sunakkhatta, một lá vàng khô đã rời khỏi cành, không còn xanh
trở lại; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Bất
động, đã rời khỏi kiết sử vật chất thế gian. Người ấy cần được hiểu như sau:
"Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử vật chất thế gian, thiên nặng
về Bất động".
Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về
Vô sở hữu. Ðối với người thiên nặng về Vô sở hữu, này Sunakkhatta, câu
chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều
người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy
thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy
không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác, và người ấy
không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.
Ví như, này Sunakkhatta, một hòn đá bị vỡ làm đôi không thể nối liền lại
được; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Vô sở hữu,
đã bị chặt đứt khỏi kiết sử Bất động, người ấy cần được hiểu như sau: "Ðây
là hạng người không liên hệ với kiết sử Bất động, thiên nặng về Vô sở hữu".
Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về
Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðối với người thiên nặng về Phi tưởng phi phi
tưởng xứ, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc
như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ
giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói
liên hệ đến Vô sở hữu xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm
không an trú vào trí giác, và người ấy không giao thiệp với người mà người
ấy không thích thú.
Ví như, này Sunakkhatta, một người đã ăn các món ăn mỹ vị và đã quăng bỏ.
Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có ưa ăn lại món ăn ấy không?
-- Bạch Thế Tôn không. Vì sao vậy? Vì rằng, bạch Thế Tôn, món ăn ấy được
xem là ghê tởm rồi.
-- Cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, đã để một bên kiết sử Vô sở hữu xứ. Người ấy cần được hiểu
như sau: "Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Vô sở hữu xứ, thiên
nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ".
Này Sunakkhatta sự tình này xảy ra, khi ở đây, có số người thiên nặng về
chánh Niết-bàn. Ðối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, này
Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để
phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với
người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm
không an trú vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người
mà ấy không thích.
Ví như, này Sunakkhatta, cây tala ngọn cây đã bị chặt đứt không thể lớn
được nữa; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về chánh
Niết-bàn, đã cắt đứt kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã cắt đứt từ rễ,
làm cho như cây tala không thể tái sanh, không thể khởi lên lại trong tương
lai. Người ấy cần phải được hiểu như sau: "Ðây là hạng người không liên hệ
với kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thiên nặng về chánh Niết-bàn".
Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi ở đây, có một số người suy nghĩ
như sau: "Tham ái được vị Sa-môn gọi là mũi tên. Thuốc độc vô minh làm não
hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt;
thuốc độc vô minh đã được trừ khử; ta thiên nặng về chánh Niết-bàn". Vị ấy
có thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy cầu những gì không
thích hợp với khuynh hướng chánh Niết-bàn, mắt vị ấy có thể truy cầu sắc
không thích hợp, tai có thể truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy
cầu hương không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích hợp, thân có
thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy cầu pháp không thích hợp.
Khi mắt truy cầu sắc không thích hợp, tai truy cầu tiếng không thích hợp,
mũi truy cầu hương không thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân
truy cầu xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp, thời tham dục
nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tâm bị tham dục nhiễu loạn đi đến chết hay đi
đến khổ gần như chết.
Ví như, này Sunakkhatta, một người bị mũi tên bắn, tên ấy có tẩm thuốc
độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống người ấy cho mời một y sĩ
giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có thể cắt xung quanh miệng vết thương với
con dao; sau khi cắt xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải
phẫu có thể dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò tìm mũi tên
với một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên ra. Y sĩ có thể trừ khử hết
thuốc độc, còn để lại một ít nhưng nghĩ không có thuốc độc nào còn lại, y sĩ
nói như sau: "Này Hiền giả, mũi tên của Bạn đã được rút ra thuốc độc đã được
trừ khử, không còn dư tàn, và không còn gì nguy hiểm nữa cho Bạn, nhưng Bạn
phải chỉ ăn các đồ ăn thích hợp, và hãy gìn giữ, nếu ăn đồ ăn không thích
hợp, vết thương của Bạn sẽ làm mủ lại, và thường thường phải cho rửa vết
thương, thường thường phải xức thuốc cho miệng vết thương. Trong khi thường
thường cho rửa vết thương, thường thường xức thuốc cho miệng vết thương, chớ
có để máu cũ đóng khô trên miệng vết thương và hãy cẩn thận khi đi ra giữa
gió và nắng; hãy cẩn thận khi đi ra giữa gió và nắng, nếu không, bụi và nhớp
có thể nhiễu hại miệng vết thương. Và này Bạn, nếu Bạn chăm sóc vết thương,
thời vết thương sẽ được lành".
Người ấy suy nghĩ như sau: "Mũi tên đã được rút khỏi (thân) ta, nọc độc
đã được trừ khử, không còn dư tàn, và ta đã thoát khỏi nguy hiểm". Và người
ấy ăn những đồ ăn không thích hợp. Vì người ấy ăn những đồ ăn không thích
hợp, nên vết thương làm mủ lại. Và thường thường người ấy không rửa vết
thương, thường thường không xức thuốc miệng vết thương. Vì người ấy thường
thường không rửa vết thương, vì người ấy thường thường không xức thuốc miệng
vết thương, nên máu cũ đông lại trên miệng vết thương. Và người ấy thường
hay đi giữa gió và nắng. Do người ấy thường hay đi giữa gió và nắng, bụi và
nhớp nhiễu hại miệng vết thương; và vì người ấy không chăm sóc vết thương
nên vết thương không được lành. Vì người ấy làm chính những việc không thích
hợp, và do thuốc độc được trừ khử nhưng còn dư tàn, do cả hai điều ấy nên
miệng vết thương có thể lở to hơn trước. Do vết thương lở to, người ấy có
thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.
Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo
nghĩ như sau: "Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm
não hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn
diệt; thuốc độc vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn".
Vị ấy có thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy cầu những gì
không thích hợp với khuynh hướng chánh Niết-bàn. Mắt có thể truy cầu sắc
không thích hợp, tai có thể truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy
cầu hương không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích hợp, thân có
thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy cầu pháp không thích hợp.
Khi mắt truy cầu sắc không thích hợp, tai truy cầu tiếng không thích hợp,
mũi truy cầu hương không thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân
truy cầu xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp. thời tham dục
nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tham dục nhiễu loạn tâm, đi đến chết hay đi
đến khổ gần như chết.
Như vậy, này Sunakkhatta, là chết trong giới luật của bậc Thánh, khi vị
ấy từ bỏ tu tập, trở về hoàn tục, và như vậy, này Sunakkhatta, là khổ như
chết, khi vị ấy phạm một ô uế tội nào.
Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo suy nghĩ
như sau: "Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não
hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt,
thuốc độc vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn". Chính
vì thiên nặng về chánh Niết-bàn, vị ấy không truy cầu những gì không thích
hợp với (khuynh hướng) thiên nặng về Niết-bàn, mắt không truy cầu sắc không
thích hợp, tai không truy cầu tiếng không thích hợp, mũi không truy cầu
hương không thích hợp, lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, thân không
truy cầu xúc không thích hợp, ý không truy cầu pháp không thích hợp. Vì mắt
vị ấy không truy cầu sắc không thích hợp, vì tai không truy cầu tiếng không
thích hợp, vì mũi không truy cầu hương không thích hợp, vì lưỡi không truy
cầu vị không thích hợp, vì thân không truy cầu xúc không thích hợp, vì ý
không truy cầu pháp không thích hợp, nên tham dục không nhiễu loạn tâm, vì
tham dục không nhiễu loạn tâm; nên vị ấy không đi đến chết hay đi đến khổ
gần như chết.
Ví như, này Sunakkhatta, một người bị tên bắn, và mũi tên bị tẩm thuốc
độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống người ấy cho mời một y sĩ
giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có thể cắt xung quanh miệng vết thương với
con dao; sau khi cắt xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải
phẫu có thể dò tìm tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò tìm mũi tên với
một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên ra... Y sĩ có thể trừ khử hết
thuốc độc không còn để dư lại và biết rằng không còn để dư lại. Vị ấy nói
như sau: "Này Bạn, mũi tên của Bạn đã được rút ra, thuốc độc đã được trừ
khử, không có dư tàn, nhưng vẫn còn nguy hiểm cho Bạn. Và Bạn hãy ăn những
đồ ăn thích hợp, chớ ăn những đồ ăn không thích hợp khiến vết thương có thể
làm mủ; và thường thường hãy rửa vết thương, thường thường hãy xức thuốc
miệng vết thương, thường thường rửa vết thương, thường thường xức thuốc
miệng vết thương, chớ để máu cũ đóng khô lại trên miệng vết thương. Và chớ
có đi ra giữa gió và nắng; đi ra giữa gió và nắng, chớ để bụi và nhớp làm
nhiễu hại miệng vết thương, hãy sống gìn giữ vết thương, này Bạn, và vết
thương sẽ lành".
Người ấy suy nghĩ như sau: "Mũi tên đã được rút ra khỏi ta, thuốc độc đã
được trừ khử, không có dư tàn. Và ta chưa thoát khỏi nguy hiểm". Và vị ấy có
thể chỉ ăn các đồ ăn thích hợp. Do chỉ ăn các đồ ăn thích hợp miệng vết
thương có thể không làm mủ. Và thường thường vị ấy có thể rửa vết thương,
thường thường có thể xức thuốc miệng vết thương. Do thường thường rửa vết
thương, do thường thường xức thuốc miệng vết thương, máu cũ không có thể
đóng khô lại trên miệng vết thương. Người ấy không sốt sắng đi giữa gió và
nắng. Do người ấy không sốt sắng đi giữa gió và nắng, bụi và nhớp có thể
không nhiễu hại miệng vết thương và người ấy sống gìn giữ vết thương, và vết
thương được lành. Vì người ấy chỉ làm những điều thích hợp và vì thuốc độc
được trừ khử không còn dư tàn, do hai (nhân duyên ấy) vết thương được khép
kín lại. Khi vết thương được da che kín lại, người ấy không đi đến chết hay
không đi đến khổ gần như chết.
Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo
suy nghĩ như sau: "Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh
làm não hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn
diệt.... không có truy cầu những gì không thích hợp. Mắt không truy cầu sắc
không thích hợp, tai không truy cầu tiếng không thích hợp, mũi không truy
cầu hương không thích hợp, lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, thân
không truy cầu xúc không thích hợp, ý không truy cầu pháp không thích hợp.
Do mắt người ấy không truy cầu sắc không thích hợp, do tai không truy cầu
tiếng không thích hợp, do mũi không truy cầu hương không thích hợp, do lưỡi
không truy cầu vị không thích hợp, do thân không truy cầu xúc không thích
hợp, do ý không truy cầu pháp không thích hợp, tham dục có thể không nhiễu
hại tâm. Do tâm không bị tham dục nhiễu hại, nên người ấy không đi đến chết,
hay không đi đến khổ gần như chết.
Này Sunakkhatta, Ta nói ví dụ này với mục đích làm sáng tỏ ý nghĩa. Nghĩa
ở đây như sau: Vết thương, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với sáu xúc xứ
(phassayatana); thuốc độc, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với vô minh; mũi
tên, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với ái; vật dụng dò tìm, này
Sunakkhatta, là đồng nghĩa với niệm; con dao, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa
với Thánh trí tuệ. Vị y sĩ giải phẫu, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Như
Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Thật vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo tự mình phòng hộ đối với sáu xúc xứ,
nghĩ rằng: "Sanh y (Upadhi) là căn bản của khổ", sau khi biết như vậy, vị ấy
trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Vị ấy còn chú thân của
mình trên sanh y hay để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.
Ví như, này Sunakkhatta, một chén uống nước bằng đồng, đẹp đẽ và hương
thơm, và chén ấy lại tẩm thuốc độc. Rồi một người đến, muốn sống, muốn không
chết, muốn lạc, yếm ly khổ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có
uống chén bằng đồng này không, nếu người ấy biết: "Sau khi tôi uống từ đây,
tôi sẽ đi đến chết hoặc đi đến gần như chết?"
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ đối với sáu
xúc xứ. "Sanh y là căn bản của đau khổ", sau khi biết vậy, vị ấy trở thành
vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Còn chú thân của vị ấy trên sanh
y, để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này Sunakkhatta,
một con rắn độc hết sức độc hại, và có một người đến, muốn sống, muốn không
chết, muốn lạc, yếm ly khổ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có
đưa tay hay gót chân cho con rắn độc hại này không, nếu người ấy biết: "Nếu
ta bị con rắn này cắn, ta sẽ đi đến chết hay khổ gần như chết?"
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ sáu xúc xứ.
"Sanh y là căn bản đau khổ", sau khi biết vậy, vị ấy trở thành vô sanh y,
giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Còn chú thân của vị ấy trên sanh y, hay để
tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sunakkhatta Licchaviputta hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.