KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
107. KINH GANAKA MOGGALLÀNA
(Ganakamoggallàna Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu
(Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường) . Rồi Bà-la-môn Ganaka Moggallana đi đến chỗ
Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
-- Ví như, thưa Tôn giả Gotama, tại lâu đài Migaramatu này, có thể thấy
được một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là
những tầng cấp của lầu thượng cuối cùng; thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối
với những vị Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình
tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda). Thưa Tôn giả
Gotama, cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được thấy một học tập tuần
tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung.
Cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng con là những người toán số,
sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập tuần tự, một công trình
tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng
khi có được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: "Một,
một lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần,
bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần". Và thưa Tôn giả
Gotama, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả
Gotama, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự
công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy?
-- Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần
tự học tập, có một tuần tự công trình, có một tuần tự đạo lộ. Ví như, này
Bà-la-môn, một người huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa
hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện
cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn, Như Lai khi được một
người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện người ấy như sau: "Hãy đến
Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn,
đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ
trì và học tập các học giới".
Này Bà-la-môn, khi vị Tỷ-kheo giữ giới hạnh, chế ngự với sự chế ngự của
giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ
nhặt, thọ trì và học tập các học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như
sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ
tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn
không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị
Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con
mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị.. thân cảm xúc...
ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu
bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý
căn, thực hành sự hộ trì ý căn".
Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện
vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh
giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không
phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy
trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như
vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta
sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".
Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới
huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban
ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi
các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và
trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm
trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử,
chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi
dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và
trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp".
Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới huấn
luyện vị ấy thêm nữa như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm
tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn
quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép,
bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác;
khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức,
nói, yên lặng đều tỉnh giác".
Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện
vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch
như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống
rơm".
Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang
đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn
xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm
trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa
tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ
mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn
trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng
về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ
trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng gột rửa tâm
hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không
phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ
yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một
trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ,
chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm
không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân
cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền
thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ
tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành
tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng
dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy. Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc
A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt
gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí
giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh
giác.
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
-- Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến giáo như
vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn
hay chỉ có một số chứng được?
-- Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy,
giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng
được.
-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt
Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn
giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả
Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh
đích Niết-bàn, một số không chứng được?
-- Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho
Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến
Rajagaha (Vương Xá)?
-- Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến
Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến
Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rajagaha". Ông nói với người ấy
như sau: "Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha. Hãy đi theo con
đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy
một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong
một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong
một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với
những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ
diệu, với những hồ ao mỹ diệu". Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy,
được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây.
Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi
như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường
ấy cho tôi". Rồi Ông nói với người ấy như sau: "Ðược, này Bạn, đây là đường
đi đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi
một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con
đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị
trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau
khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những
khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu,
với những ao hồ mỹ diệu". Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như
vậy, đi đến Rajagaha một cách an toàn.
Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha, trong
khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ
đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy
con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rajagaha một
cách an toàn?
-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ
đường, thưa Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt
con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng
các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số
chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này
Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ
vì sinh kế, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo
trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp
nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác,
thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi
đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém,
thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm
ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy.
Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất
thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì
các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh,
tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi
đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định
tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống (hòa hợp)
với những vị ấy.
Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được
gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được
gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi
là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là
cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.
Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả
Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những
gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào
trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã
được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy
y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận
con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.