KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
111. KINH BẤT ÐOẠN
(Anupada Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tinh
xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các
Tỷ-kheo" --"Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, Sariputta (Xá-lợi-phất) là bậc Hiền trí; này các
Tỷ-kheo, Sariputta là bậc Ðại tuệ; này các Tỷ-kheo, Sariputta là bậc Quảng
tuệ; này các Tỷ-kheo, Sariputta là bậc Hỷ tuệ (Hasupanna); này các Tỷ-kheo,
Sariputta là bậc Tiệp tuệ (javanapanna); này các Tỷ-kheo, Sariputta là bậc
Lợi tuệ (tikkhapanna); này các Tỷ-kheo, Sariputta là bậc Quyết trạch tuệ
(nibbedhikapanna). Này các Tỷ-kheo, cho đến nửa tháng, Sariputta quán bất
đoạn pháp quán. Này các Tỷ-kheo, đây là do bất đoạn pháp quán của Sariputta:
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sariputta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và
an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Và những pháp thuộc về Thiền thứ nhất như tầm, tứ, hỷ, lạc, nhứt tâm, và
xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; các
pháp ấy được an trú bất đoạn. Các pháp ấy được Sariputta biết đến khi chúng
khởi lên, được Sariputta biết đến khi an trú, được Sariputta biết đến khi
đoạn diệt. Sariputta biết rõ như sau: "Như vậy các pháp ấy trước không có
nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng đoạn diệt". Sariputta đối
với những pháp ấy, cảm thấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không
trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế.
Sariputta biết: "Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sariputta, còn có
nhiều việc phải làm hơn nữa".
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sariputta diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú
Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội
tĩnh nhứt tâm. Và những pháp thuộc về Thiền thứ hai như nội tĩnh, hỷ, lạc,
nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả,
tác ý, những pháp ấy được an trú bất đoạn. Các pháp ấy được Sariputta biết
đến khi chúng khởi lên, được Sariputta biết đến khi chúng an trú, được
Sariputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sariputta biết rõ như sau: "Như vậy
các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng
đoạn diệt". Sariputta đối với những pháp ấy, không luyến ái, không chống
đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm
không có hạn chế. Sariputta biết: "Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với
Sariputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa".
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sariputta ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác,
thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú
Thiền thứ ba.
Và những pháp thuộc về Thiền thứ ba, như xả, lạc, niệm, tỉnh giác, nhứt
tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, xả, tác ý;
những pháp ấy được Sariputta an trú bất đoạn, các pháp ấy được Sariputta
biết đến khi chúng khởi lên, được Sariputta biết đến khi chúng an trú, được
Sariputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sariputta đối với những pháp ấy,
không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát không
hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sariputta biết: "Còn có sự giải
thoát hơn thế nữa. Ðối với Sariputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế
nữa".
Lại nữa này các Tỷ-kheo, Sariputta xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ
trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh.
Và những pháp thuộc về Thiền thứ tư, như xả, bất khổ bất lạc thọ, thọ
(passivedana), vô quán niệm tâm (Cetaso anabhogo), thanh tịnh nhờ niệm, nhứt
tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác
ý; những pháp ấy được Sariputta an trú bất đoạn, các pháp ấy được Sariputta
biết đến khi chúng khởi lên, được Sariputta biết đến khi chúng an trú, được
Sariputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sariputta đối với những pháp ấy,
không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không
hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sariputta biết: "Còn có sự giải
thoát hơn thế nữa. Ðối với Sariputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế
nữa".
Lại nữa này các Tỷ-kheo, Sariputta vượt lên hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ
mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, nghĩ rằng: "Hư không là
vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ.
Và những pháp thuộc về Không vô biên xứ như hư không, vô biên xứ tưởng,
nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả,
tác ý; những pháp ấy được Sariputta an trú bất đoạn, các pháp ấy được
Sariputta biết đến khi chúng khởi lên, được Sariputta biết đến khi chúng an
trú, được Sariputta biết đến khi chúng đoạn diệt. Sariputta đối với những
pháp ấy, không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải
thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sariputta biết: "Còn
có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sariputta, còn có nhiều việc phải làm
hơn thế nữa".
Lại nữa này các Tỷ-kheo, Sariputta vượt lên hoàn toàn Không vô biên xứ,
nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ.
Và những pháp thuộc về Thức vô biên xứ như Thức vô biên xứ tưởng, nhất
tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác
ý; những pháp ấy được Sariputta an trú bất đoạn; các pháp ấy được Sariputta
biết đến khi chúng khởi lên, được Sariputta biết đến khi chúng đoạn diệt.
Sariputta đối với những pháp ấy không luyến ái, không chống đối, độc lập,
không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế.
Sariputta biết: "Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Ðối với Sariputta, còn có
nhiều việc phải làm hơn thế nữa".
Lại nữa này các Tỷ-kheo, Sariputta vượt lên hoàn toàn Thức vô biên xứ,
nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ.
Và những pháp thuộc về Vô sở hữu xứ, như Vô sở hữu xứ tưởng, nhứt tâm, và
xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; những
pháp ấy được Sariputta an trú bất đoạn; các pháp ấy được Sariputta biết đến
khi chúng khởi lên, được Sariputta biết đến khi chúng an trú, được Sariputta
biết đến khi chúng đoạn diệt. Sariputta đối với những pháp ấy không luyến
ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an
trú với tâm không có hạn chế. Sariputta biết: "Còn có sự giải thoát hơn thế
nữa. Ðối với Sariputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa".
Lại nữa này các Tỷ-kheo, Sariputta vượt lên hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng
và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Với chánh niệm, Sariputta xuất khỏi định ấy. Sau khi với chánh niệm xuất
khỏi định ấy, Sariputta thấy các pháp ấy thuộc về quá khứ, bị đoạn diệt, bị
biến hoại: "Như vậy các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau
khi hiện hữu chúng đoạn diệt". Sariputta đối với những pháp ấy cảm thấy
không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không
hệ lụy, an trú với tâm không hạn chế. Sariputta biết: "Còn có sự giải thoát
hơn thế nữa. Ðối với Sariputta, còn có nhiều việc phải làm hơn thế nữa".
Lại nữa này các Tỷ-kheo, Sariputta vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi
tưởng xứ, chứng và an trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy với trí tuệ,
các lậu hoặc được đoạn tận.
Với chánh niệm, Sariputta xuất khỏi định ấy. Sau khi với chánh niệm xuất
khỏi định ấy, Sariputta thấy các pháp ấy thuộc về quá khứ, bị đoạn diệt, bị
biến hoại: "Như vậy các pháp ấy, trước không có nơi ta, sau có hiện hữu, sau
khi hiện hữu, chúng đoạn diệt". Sariputta đối với các pháp ấy cảm thấy không
luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ
lụy, an trú với tâm không hạn chế. Sariputta biết: "Không có sự giải thoát
nào vô thượng hơn thế nữa. Ðối với Sariputta, không có việc phải làm nhiều
hơn thế nữa".
Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về
người ấy như sau: "Người này được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giới,
được tự tại, được cứu cánh trong Thánh định, được tự tại, được cứu cánh
trong Thánh tuệ, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giải thoát. Nói một
cách chơn chánh về Sariputta, người ấy có thể nói như sau: "Sariputta được
tự tại, được cứu cánh trong Thánh giới, được tự tại, được cứu cánh trong
Thánh định, được tự tại, được cứu cánh trong Thánh tuệ, được tự tại, được
cứu cánh trong Thánh giải thoát".
Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về
người ấy như sau: "Người này là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ
miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự
vật chất". Nói một cách chơn chánh về Sariputta, người ấy có thể nói như
sau: "(Sariputta) là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra
từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất".
Sariputta, này các Tỷ-kheo, chơn chánh chuyển Pháp luân vô thượng đã được
Như Lai chuyển vận.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn
dạy.