KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
112. KINH SÁU THANH TỊNH
(Chabbisodhana Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika.
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo, "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng, bạch Thế
Tôn". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói lên chánh trí (annam) như sau:
"Ta tuệ tri như vầy:"Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã
làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"".
Này các Tỷ-kheo, lời nói của vi Tỷ-kheo ấy, không nên tán thán cũng không
nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, cần hỏi câu hỏi: "Này Hiền giả, có
bốn hình thức tuyên bố này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là bốn? Cái gì được
thấy được nói lên như là được thấy. Cái gì được nghe được nói lên là được
nghe. Cái gì được cảm giác được nói lên như là cảm giác. Cái gì được nhận
thức được nói lên như là được nhận thức. Bốn hình thức tuyên bố này, Này
Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
chơn chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với bốn hình thức
tuyên bố này, Tôn giả có thể nói là tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các
lậu hoặc không có chấp thủ?"
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành
mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục
đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả
lời tùy pháp (anudhamma) của vị ấy phải như sau:
"Này chư Hiền, tôi không cảm thấy luyến ái, không chống đối, độc lập,
không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế,
đối với những vật được thấy... được nghe... được cảm giác... được nhận thức.
Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với bốn hình thức
tuyên bố này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc,
không có chấp thủ".
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, phải được tùy hỷ với
lời nói: "Lành thay!" Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: "Lành thay", một
câu hỏi nữa cần phải được hỏi.:
"Này Hiền giả, năm thủ uẩn này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ
uẩn, tưởng thủ uẩn, thọ thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Năm thủ uẩn
này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với năm
thủ uẩn này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu
hoặc, không có chấp thủ?"
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn,
những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích,
đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời
tùy pháp của vị ấy phải như sau:
"Này chư Hiền, sau khi biết sắc này là vô lực, biến hoại, không an ổn,
đối với những sắc là những chấp thủ phương tiện (upayupadana), là những tâm
cố chấp, thiên chấp, tùy miên, đối với những sắc ấy, với sự đoạn tận, đoạn
ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Này chư Hiền, sau khi biết thọ này...
Này chư Hiền, sau khi biết tưởng này..
Này chư Hiền, sau khi biết hành này..
Này chư Hiền, sau khi biết thức này là vô lực, biến hoại, không an ổn,
đối với thức là những chấp thủ phương tiện, là những tâm cố chấp, thiên
chấp, tùy miên. Ðối với những thức ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt,
đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với năm thủ uẩn
này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp
thủ".
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, phải được tùy hỷ với
lời nói: "Lành thay!". Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: "Lành thay",
một câu hỏi nữa cần phải được hỏi thêm:
"Này Hiền giả, sáu giới này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Thế nào là sáu? Ðịa giới, thủy
giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thực giới. Sáu giới này, này Hiền
giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói
lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì với sáu giới này, Tôn giả có thể nói tâm
của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?"
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn,
những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục địch,
đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời
tùy pháp của vị ấy phải như sau:
"Chư Hiền, tôi đã đi đến địa giới như là không phải tự ngã, và (đi đến)
tự ngã như là không tùy thuộc địa giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ
phương tiện tùy thuộc địa giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên;
đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn
xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thủy giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến hỏa giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến phong giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến không giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thức giới như là không phải tự ngã,
và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc thức giới. Ðối với những pháp là
những chấp thủ phương tiện tùy thuộc thức giới, là những tâm cố chấp, thiên
chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt,
đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu giới này,
tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp
thủ".
Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tủy
hỷ với lời nói: "Lành thay!". Sau khi tán thán tùy hỷ với lời nói:"Lành
thay", một câu hỏi nữa cần phải được hỏi:
"Này Hiền giả, sáu nội ngoại xứ này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả
bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Thế nào là sáu? Mắt và
sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Sáu nội
ngoại xứ này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, thấy cái
gì đối với sáu nội ngoại xứ này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được
giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?".
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn,
những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích,
đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời
tùy pháp của vị ấy phải như sau:
"Chư Hiền, đối với mắt, đối với sắc, đối với nhãn thức, đối với những
pháp được nhận thức bởi nhãn thức, phàm có dục gì, tham gì, hỷ gì, ái gì,
phàm có những pháp chấp thủ phương tiện, những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy
miên. Ðối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ,
đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát. Chư Hiền, vì rằng tôi biết như
vậy, thấy như vậy, đối với sáu nội ngoại xứ này, tôi có thể nói tâm tôi được
giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Chư Hiền, đối với tai, đối với tiếng, đối với nhĩ thức...; chư Hiền, đối
với mũi, đối với hương, đối với tỷ thức...; chư Hiền, đối với lưỡi, đối với
vị, đối với thiệt thức...; chư Hiền, đối với thân, đối với xúc, đối với thân
thức...; chư Hiền, đối với ý, đối với pháp, đối với ý thức, đối với các pháp
được nhận thức bởi ý thức, phàm có dục gì, tham gì, hỷ gì, ái gì, phàm có
những chấp thủ phương tiện, những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với
những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi
tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu nội ngoại
xứ này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có
chấp thủ".
Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy
hỷ với lời nói: "Lành thay!" Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: "Lành
thay", một câu hỏi nữa cần phải được hỏi thêm:
"Nhưng này Hiền giả, do biết gì, thấy gì, do đối với các thân có nhận
thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, Tôn giả có thể nói về mạn tùy
miên: "Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm", mạn tùy miên của Tôn
giả được đoạn trừ một cách hoàn toàn?".
Chư Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn,
những việc phải làm, đã làm, đã đặt gánh xuống, đã thành đạt mục đích, đã
đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy
pháp của vị ấy phải như sau:
"Chư Hiền, thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia, tôi còn ngu muội. Tôi được
Như Lai, đệ tử Như Lai thuyết pháp. Sau khi nghe pháp. Tôi có lòng tịnh tín
đối với Như Lai. Thánh tựu được tịnh tín ấy, tôi suy nghĩ: "Ðời sống gia
đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia
phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể
sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như
vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình,
sống không gia đình".
"Chư Hiền, một thời gian sau, tôi từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản
lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ
râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Khi đã xuất gia như vậy, tôi thành tựu học giới và nếp sống các vị
Tỷ-kheo, tôi từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng bỏ kiếm, biết tàm
quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loại hữu tình. Tôi
từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã
cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh không có trộm cướp. Tôi
từ bỏ phi Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống tránh xa (phi Phạm hạnh), từ
bỏ dâm dục tục pháp.
Tôi từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chơn thật, y chỉ trên
sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời. Tôi từ bỏ nói hai
lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia
để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều này ở chỗ kia, không đi nói với
những người này, để sinh chia rẽ ở những người kia. Tôi sống hòa hợp những
kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái
trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Tôi từ
bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, tôi nói những lời nhẹ nhàng,
thuận tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, tôi
nói những lời nói như vậy. Tôi từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói phù
phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói
những lời về Chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn
giữ, những lời hợp thời thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
Tôi từ bỏ không làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một
ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn phi thời. Tôi từ bỏ không đi
xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn. Tôi từ bỏ không trang sức bằng vòng
hoa, hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức. Tôi từ bỏ không
dùng giường cao và giường lớn. Tôi từ bỏ không nhận các hạt sống. Tôi từ bỏ
không nhận thịt sống. Tôi từ bỏ không nhận đàn bà, con gái. Tôi từ bỏ không
nhận nô tỳ gái và trai. Tôi từ bỏ không nhận cừu dê. Tôi từ bỏ không nhận
gia cầm và heo. Tôi từ bỏ không voi, bò, ngựa và ngựa cái. Tôi từ bỏ không
nhận ruộng nương và đất đai. Tôi từ bỏ không nhận người môi giới hoặc tự
mình làm môi giới. Tôi từ bỏ không buôn bán. Tôi từ bỏ các sự gian lận bằng
cân tiền bạc và đo lường. Tôi từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa
đảo. Tôi từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp,
cướp phá.
Tôi bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để
nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Ví như con chim bay đến
chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, tôi bằng lòng với tấm y để che
thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y
bát). Tôi thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm,
không lỗi lầm.
Khi mắt thấy sắc, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự khiến tham ái, ưu
bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, tôi tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì
con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi
hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, tôi không nắm
giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn
không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, tôi
tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Tôi
thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không
vẩn đục.
Khi đi tới, khi đi lui, tôi đều tỉnh giác. Khi nhìn thẳng, khi nhìn
quanh, tôi đều tỉnh giác. Khi co tay, khi duỗi tay, tôi đều tỉnh giác. Khi
mang y kép, y bát, tôi đều tỉnh giác. Khi ăn, uống, nhai, nuốt, tôi đều tỉnh
giác. Khi đi đại tiện, tiểu tiện, tôi đều tỉnh giác. Khi đi, đứng, ngồi,
nằm, thức, nói, yên lặng, tôi đều tỉnh giác.
"Và tôi đều thành tự Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn
này và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này chọn một chỗ thanh vắng,
tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài
trời, đống rơm.
Sau khi đi khất thực về và ăn xong, tôi ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ
nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Tôi từ bỏ tham ái ở đời, sống với
tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, tôi sống với
tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rữa tâm
hết sân hân. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, tôi sống thoát ly hôn trầm thụy miên,
với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn
trâm thụy miên. Trừ bỏ trạo cử hối quá, tôi sống không trạo cử, hối quá, nội
tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, tôi sống
thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối
với thiện pháp.
"Tôi từ bỏ năm triền cái, các pháp làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội
lược này, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng
thái hỷ lạc do ly dục, sanh có tầm có tứ. Tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú
Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội
tĩnh nhất tâm. Tôi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ
mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tôi xả
lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không
khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
"Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, tôi dẫn tâm, hướng tâm đến
lậu tận trí. Tôi biết như thật:"Ðây là khổ", biết như thật:"Ðây là nguyên
nhân của khổ", biết như thật:"Ðây là khổ diệt", biết như thật: "Ðây là con
đường đưa đến khổ diệt", biết như thật: "Ðây là những lậu hoặc", biết như
thật: "Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là các lậu hoặc
được đoạn trừ", biết như thật: "Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc được
diệt trừ".
"Tôi nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của tôi thoát khỏi dục lậu,
thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát
như vậy, tôi khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát"". Tôi biết: "Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái
này nữa".
"Chư Hiền do biết như vậy, thấy như vậy, đối với các thân có nhận thức
này và đối với tất cả tướng ở ngoài, mạn tùy miên: "Ta là người làm, sở
thuộc của ta là người làm", mạn tùy miên này được đoạn trừ một cách hoàn
toàn".
Này các Tỷ-kheo Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ
với lời nói: "Lành thay!" Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: "Lành thay"
vị ấy cần phải nói như sau: "Thật lợi ích thay cho chúng tôi, thật khéo lợi
ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một vị sống Phạm hạnh như
Tôn giả".
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn
dạy.