KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
113. KINH CHÂN NHÂN
(Sappurisa Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika
(Cấp Cô Ðộc). Ở đây Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" -- "Thưa
vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
"Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông Chân nhân pháp và phi Chân nhân
pháp. Các Ông hãy nghe và suy nghiệm kỹ Ta sẽ giảng" -- "Thưa vâng, bạch Thế
Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, thế nào là phi Chân nhân pháp? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình cao sang. Người ấy
suy nghĩ như sau: "Ta xuất gia từ một gia đình cao sang. Còn các Tỷ-kheo,
này không xuất gia từ một gia đình cao sang". Vì người ấy thuộc gia đình cao
sang nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân
pháp.
Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: "Không phải vì
thuộc một gia đình cao sang mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân
pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất
gia, không phải từ một gia đình cao sang, và người ấy hành trì đúng pháp và
thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy
được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ
(patipadam) làm chánh yếu (antaram?) không khen mình chê người vì tự mình
thuộc vào gia đình cao sang. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người phi Chân nhân xuất gia từ một gia
đình lớn.... xuất gia từ một gia đình đại phú... xuất gia từ một gia đình
quý phái. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta xuất gia từ một gia đình quý phái,
còn các Tỷ-kheo này không xuất gia từ một gia đình quý phái". Vì người ấy
thuộc gia đình quý phái, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là phi Chân nhân pháp.
Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: "Không phải vì
thuộc về một gia đình quý phái mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân
pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất
gia không phải từ một gia đình quý phái và người ấy hành trì đúng pháp và
thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy
được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán". Người ấy được sau khi lấy
đạo lộ làm chính yếu không khen mình chê người vì tự mình thuộc vào gia đình
quý phái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân được nhiều người biết,
có danh xưng. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta được nhiều người biết, có danh
xưng, còn các Tỷ-kheo này được ít người biết đến, không được trọng vọng". Vì
người ấy tự mình được nhiều người biết đến nên khen mình chê người. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Và này các Tỷ-kheo, người Chân Nhân suy nghĩ như sau: "Không phải vì mình
được nhiều người biết đến mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay sân pháp đi
đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không
được nhiều người biết, không có danh xưng, và người ấy hành trì đúng pháp và
thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy
được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ
làm chính yếu, không khen mình chê người vì tự mình được nhiều người biết và
danh xưng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân được các vật (cúng
dường) như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh. Người ấy suy
nghĩ như sau: "Ta nhận được các vật (cúng dường) như y phục, các đồ ăn khất
thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh, còn các Tỷ-kheo này không nhận được y phục,
các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh". Vì người ấy thâu nhận được
như vậy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo là phi Chân nhân
pháp.
Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: "Không phải vì tự
mình nhận được các vật (cúng dường như) y phục, các đồ ăn khất thực, sàng
tọa, y liệu trị bịnh mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi
đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia không
nhận được các vật (cúng dường như) y phục, các đồ ăn khất thực, sàng tọa, y
liệu trị bệnh và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp hành, trì chơn
chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây,
người ấy được tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không
khen mình chê người tự mình được thâu nhận như vậy. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo có người phi Chân nhân là người nghe nhiều.
Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta là người nghe nhiều, còn các Tỷ-kheo này
không nghe nhiều". Người ấy do được nghe nhiều nên khen mình chê người. Như
vậy này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Và này các Tỷ-kheo, Người Chân nhân suy nghĩ như sau: "Không phải vì nghe
nhiều mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ,
hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu có người không nghe nhiều và người ấy
hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp,
thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán". Người
ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người, vì tự mình
được nghe nhiều. Như vậy này các Tỷ-kheo là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là bậc trì luật. Người
ấy suy nghĩ như sau: "Ta là bậc trì luật, còn các Tỷ-kheo này không là bậc
trì luật". Do tự mình trì luật, người ấy khen mình chê người. Như vậy, này
các Tỷ-kheo là phi Chân nhân pháp.
Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: "Không phải vì tự
mình là bậc trì luật mà các tham pháp đi đến đoạn trừ hay các sân pháp đi
đến đoạn trừ hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu có người không phải là bậc
trì luật, những người này hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn
chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây,
người ấy được tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không
khen mình chê người vì tự mình là bậc trì luật. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người thuyết pháp.
Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta là người thuyết pháp, còn các Tỷ-kheo này
không phải là người thuyết pháp". Vì tự mình là người thuyết pháp, nên người
ấy khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Không phải do tự
mình là bậc thuyết pháp mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp
đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không phải
là người thuyết pháp, nhưng hành trì đúng pháp, và thuận pháp, hành trì chơn
chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây người ấy được kính trọng, ở đây,
người ấy được tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không
khen mình chê người vì tự mình là bậc thuyết pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người theo hạnh sống
ở núi rừng. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta là người theo hạnh sống ở rừng
núi, còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh sống ở rừng núi". Người ấy vì tự
mình theo hạnh sống ở rừng núi nên khen mình chê người. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: "Không phải vì tự
mình theo hạnh sống ở rừng núi mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân
pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không
theo hạnh sống ở rừng núi nhưng hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì
chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở
đây, người ấy được tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu
không khen mình chê người vì tự mình theo hạnh sống ở rừng núi. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân theo hạnh mặc phấn tảo
y. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta là người theo hạnh mặc phấn tảo y. Còn các
Tỷ-kheo này không là người theo hạnh mặc phấn tảo y". Người này do tự mình
theo hạnh mặc phấn tảo y nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
là phi Chân nhân pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: "Không phải vì tự
mình theo hạnh mặc phấn tảo y mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân
pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không
theo hạnh mặc phấn tảo y nhưng người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp,
hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính
trọng, ở đây, người ấy tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu,
không khen mình chê người vì tự mình mặc phấn tảo y. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân là người theo hạnh khất
thực. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta theo hạnh khất thực, còn các Tỷ-kheo
này không theo hạnh khất thực". Người ấy, do tự mình theo hạnh khất thực nên
khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Và người Chân nhân này các Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Không phải vì tự
mình theo hạnh khất thực mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp
đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo
hạnh khất thực nhưng người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì
chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở
đây, người ấy được tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu,
không khen mình chê người, vì tự mình theo hạnh khất thực. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người phi Chân nhân theo hạnh sống dưới gốc
cây. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta là người theo hạnh sống dưới gốc cây,
còn các Tỷ-kheo này không theo hạnh sống dưới gốc cây". Người ấy do tự mình
theo hạnh sống dưới gốc cây nên khen mình chê người Như vậy, này các Tỷ-kheo
là phi Chân nhân pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: "Không phải vì tự
mình theo hạnh sống dưới gốc cây mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các
sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người
không theo hạnh sống dưới gốc cây, nhưng người ấy hành trì đúng pháp và
thuận pháp, hành trì chơn chánh và hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy
được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ
làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình theo hạnh sống dưới gốc
cây. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân theo hạnh sống tại nghĩa
địa... theo hạnh sống ngoài trời... theo hạnh thường ngồi (không nằm)...
Theo hạnh ngồi tại chỗ mời... theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi. Người ấy suy
nghĩ như sau: "Ta theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi, còn các Tỷ-kheo này không
theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi. Do tự mình theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi nên
khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: "Không phải vì
mình theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các
sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người
không theo hạnh chỉ ăn một lần nhưng hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành
trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở
đây, người ấy được tán thán". Người ấy sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu,
không khen mình chê người vì tự mình sống chỉ ăn một lần ngồi. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân ly dục, ly bất thiện
pháp, chứng và trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tâm có
tứ. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta là người chứng được sơ Thiền, các người
Tỷ-kheo này không chứng được sơ Thiền". Người ấy do tự mình chứng được sơ
Thiền nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân
pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: "Ðịnh sơ Thiền, tự
tánh là vô tham ái, Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác,
thời tự tánh liền đổi khác". Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu,
không khen mình chê người vì chứng được định sơ Thiền. Như vậy, này các
Tỷ-kheo là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân pháp diệt tầm và tứ,
chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm
không tứ, nội tỉnh nhứt tâm... Thiền thứ ba... chứng và trú Thiền thứ tư.
Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta chứng đắc định Thiền thứ tư. Còn các Tỷ-kheo
này không chứng đắc định Thiền thứ tư". Người ấy vì chứng đắc định Thiền thứ
tư ấy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân
pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: "Ðịnh Thiền thứ
tư, tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế
khác, thời tự tánh liền đổi khác". Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh
yếu, không khen mình chê người vì chứng đắc định Thiền thứ tư. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân vượt lên mọi sắc tưởng,
diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, người ấy nghĩ
rằng: "Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ. Người ấy suy
nghĩ như sau: "Ta chứng được định Không vô biên xứ, còn các Tỷ-kheo này
không chứng được định Không vô biên xứ". Người ấy, vì chứng được định Không
vô biên xứ ấy, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi
Chân nhân pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Ðịnh Không vô
biên, xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ như
thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác". Người ấy sau khi lấy vô tham
ái làm chính yếu, không khen mình chê người vì chứng được định Không vô biên
xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân, vượt lên Không vô biên
xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên" chứng và trú Thức vô biên xứ. Người ấy suy
nghĩ như sau: "Ta chứng được định Thức Vô biên xứ, còn các Tỷ-kheo này không
chứng được định Thức vô biên xứ". Người ấy vì chứng được định Thức vô biên
xứ ấy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân
pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: "Ðịnh Thức vô biên
xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế
khác, thời tự tánh liền đổi khác"Ẩ Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chính
yếu, không khen mình chê người vì chứng được định Thức vô biên xứ. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân vượt lên một cách hoàn
toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có sở hữu" chứng và trú Vô sở hữu
xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta chứng được định Vô sở hữu xứ còn, các
Tỷ-kheo này không chứng được định Vô sở hữu xứ". Người ấy, vì chứng được
định Vô sở hữu xứ ấy, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
phi Chân nhân pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: "Ðịnh Vô sở hữu xứ
tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế
khác, thời tự tánh liền đổi khác". Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh
yếu, không khen mình chê người vì chứng được định Vô sở hữu xứ. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân vượt lên Vô sở hữu xứ,
chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta
chứng được định Phi tưởng phi phi tưởng xứ, còn các Tỷ-kheo này không chứng
được định Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Người ấy vì chứng được định Phi tưởng
phi phi tưởng xứ ấy nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
phi Chân nhân pháp.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: "Ðịnh Phi tưởng
phi phi tưởng xứ tự tánh là vô tham ái. Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai
nghĩ thế này thế khác thời tự tánh liền đổi khác". Người ấy sau khi lấy vô
tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì định Phi tưởng phi phi
tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người Chân nhân sau khi vượt lên Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định sau khi thấy với trí tuệ, các
lậu hoặc của vị này được đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này không nghĩ
mình là bất cứ vật gì, không nghĩ đến bất cứ chỗ nào, không nghĩ đến bất cứ
vì sự việc gì.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn
dạy.