KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP I
12. ÐẠI KINH SƯ TỬ HỐNG
(Mahàsìhanàda Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly), ở phía ngoài thành, trong một
khu rừng phía Tây.
Lúc bấy giờ, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và
Luật này, nói lời nói như sau trong Hội chúng ở Vesali: "Sa-môn Gotama không
có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn
Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận
trắc nghiệm, và thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng,
có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau".
Lúc ấy Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) vào buổi sáng, đắp y, cầm bát, vào
thành Vesali để khất thực. Tôn giả Sariputta nghe Sunakkhatta thuộc bộ lạc
Licchavi nói như sau trong hội chúng ở Vesali: "Sa-môn Gotama không có pháp
thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama
thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc
nghiệm và thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng,
có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau".
Rồi Tôn giả Sariputta khất thực xong, sau khi ăn và đi khất thực trở về
đến chỗ ở Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi
ngồi xuống một bên, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và
Luật này, nói lời nói như sau trong hội chúng Vesali: ""Sa-môn Gotama không
có pháp thượng nhân... (như trên)... diệt tận khổ đau".
-- Này Sariputta, Sunakkhatta phẫn nộ và ngu si, do phẫn nộ nên nói lên
lời ấy. Này Sariputta, Ông ta nghĩ: "Ta sẽ nói xấu". Thế mà kẻ ngu
Sunakkhatta lại nói lời tán thán Như Lai. Này Sariputta, ai nói như sau là
tán thán Như Lai: "Pháp ấy được thuyết giảng cho một mục tiêu đặc biệt, có
khả năng hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau".
Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào
về Ta như sau: "Ðây là Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Phật, Thế Tôn".
Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào
về Ta như sau: "Ðây là Thế Tôn, vị đã chứng được các loại thần thông, một
thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình,
đi ngang qua vách, qua thành, qua núi, như đi ngang hư không, độn thổ trồi
lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên
đất liền, ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và
rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có
thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên". Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu
si kia sẽ không có tùy pháp này về Ta như sau: "Ðây là Thế Tôn với thiên nhĩ
thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài Người, xa
và gần".
Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia sẽ không có tùy pháp nào về
Ta như sau: "Ðây là Thế Tôn, sau khi đi sâu vào tâm chúng sanh, tâm loài
Người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau: "Tâm có tham biết là tâm có
tham. Hay tâm không tham biết là tâm không tham... tâm chuyên chú... tâm tán
loạn... đại hành tâm... không phải đại hành tâm... tâm chưa vô thượng... tâm
vô thượng... Tâm Thiền định... Tâm không Thiền định... tâm giải thoát... tâm
không giải thoát biết là tâm không giải thoát". Vị ấy biết như vậy.
(Mười lực của Như Lai)
Này Sariputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực, chính nhờ thành tựu
mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống
con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là mười?
(1) Ở đây, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là
phi xứ (Tri thị xứ phi xứ lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ
là xứ, phi xứ là phi xứ. Như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Chính nhờ Như
Lai lực này Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống lên tiếng rống
con sư tử trong các hội chúng, và chuyển Phạm luân.
(2) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri quả báo tùy thuộc sở
do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại (Tri tam
thế nghiệp báo lực.) Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri... (như
trên)... và chuyển Phạm luân.
(3) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri con đường đưa đến
tất cả cảnh giới (Tri nhứt thiết đạo trí lực). Này Sariputta, Như Lai như
thật tuệ tri... (như trên)... và chuyển Phạm luân.
(4) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri thế giới với mọi
cảnh giới, nhiều chủng loại, nhiều sai biệt (Tri thế gian chủng chủng tánh
lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri... (như trên)... và chuyển
Phạm luân.
(5) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri chí hướng sai biệt
của các loại hữu tình (Tri tha chúng sanh chưởng chưởng dục lực). Này
Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri ... chuyển Phạm luân.
(6) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri những căn thượng hạ
của các loài hữu tình, loài Người (Tri tha chúng sanh chư căn thượng hạ
lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri... (như trên)... và chuyển
Phạm luân.
(7) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri sự tạp nhiễm, sự
thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền, chứng về Thiền, về giải thoát, về
định (Tri chư Thiền tam muội lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ
tri... (như trên)... và chuyển Phạm luân.
(8) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một
đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời,
bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời,
nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Ngài nhớ rằng:
"Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế
này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại
chỗ kia, Ta được sanh ra chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ
như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức
như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây". Như vậy, Như
Lai nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi
tiết. Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri... (như trên)... và chuyển
Phạm luân.
(9) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân,
thấy sự sống và chết của chúng sanh. Như Lai tuệ tri rõ rằng, chúng sanh
người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất
hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về
thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp
theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi
dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các chúng sanh này làm những thiện hạnh về
thân, về lời và về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các
nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được
sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, Như Lai với thiên
nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Như Lai tuệ
tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu,
người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Sariputta, Như
Lai như thật tuệ tri... (như trên)... và chuyển Phạm luân.
(10) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc tự mình
chứng tri, chứng ngộ, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm
giải thoát, tuệ giải thoát. Này Sariputta, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu
hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện
tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này, Như
Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các
Hội chúng và chuyển Phạm luân.
Này Sariputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực. Chính nhờ thành tựu
mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống sư
tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân.
Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy mà còn nói:
"Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng
đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy
luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, thuyết pháp cho một mục tiêu đặc
biệt, có khả năng hướng thượng, có thể hướng dẫn người thực hành diệt tận
khổ đau". Này Sariputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy; không từ bỏ
tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một
gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Này Sariputta, như Tỷ-kheo thành tựu giới
hạnh, thành tựu Thiền định, thành tựu trí tuệ có thể chứng được chánh trí
ngay trong hiện tại. Này Sariputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy.
Nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà
kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một
bên.
(Bốn pháp vô sở úy)
Này Sariputta, có bốn pháp vô sở úy chính nhờ thành tựu bốn pháp này, Như
Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong các
hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là bốn?
Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì, một Sa-môn, Bà-la-môn, chư
Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp
rằng: "Các pháp này chưa được chứng ngộ hoàn toàn, mà quý vị tự xưng đã
chứng ngộ hoàn toàn". Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy,
nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.
Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì... có thể chỉ trích Ta đúng pháp
rằng: "Các lậu hoặc này chưa được đoạn trừ mà quý vị tự xưng đã đoạn trừ".
Này Sariputta, vì Ta không thấy... đạt được vô úy.
Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì... có thể chỉ trích Ta đúng pháp
rằng: "Những pháp này được gọi là các chướng ngại pháp khi được thực hành
thời không có gì gọi là chướng ngại pháp cả". Này Sariputta, vì Ta không
thấy... đạt được vô úy.
Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì một Sa-môn Bà-la-môn, chư Thiên,
Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng:
"Pháp do quý vị thuyết giảng không đưa đến mục tiêu đặc biệt, không có khả
năng hướng thượng, không có thể dẫn người thực hành đến diệt tận khổ đau".
Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an
ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.
Này Sariputta, có bốn pháp vô sở úy, chính nhờ thành tựu bốn pháp này,
Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong
các hội chúng và chuyển Phạm luân.
Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy... người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục
như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.
(Tám hội chúng)
Này Sariputta, có tám Hội chúng này: Hội chúng Sát-đế-lị, Hội chúng
Bà-la-môn, Hội chúng Gia chủ, Hội chúng Sa-môn, Hội chúng Tứ thiên vương,
Hội chúng Tam thập tam thiên, Hội chúng Màra, Hội chúng Phạm thiên. Này
Sariputta, có tám Hội chúng này. Này Sariputta, Như Lai thành tựu bốn pháp
vô sở úy như vậy, đến gần và vào tám Hội chúng này.
Này Sariputta, Ta nhớ lại Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Sát-đế-lị. Tuy
vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện và trước
khi Ta đàm luận; này Sariputta, ta thấy không có lý do gì để nghĩ rằng:
"Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta". Này Sariputta, vì Ta thấy
không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ
hãi, đạt được vô úy.
Này Sariputta, Ta nhớ lại, Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Bà-la-môn...
(như trên)... Hội chúng Gia chủ... Hội chúng Sa-môn... Hội chúng Tứ thiên
vương... Hội chúng Tam thập tam thiên... Hội chúng Màra... Hội chúng Phạm
thiên. Tuy vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện
và trước khi Ta đàm luận, này Sariputta, Ta thấy không có một lý do gì để
nghĩ rằng: "Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta". Này Sariputta,
vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được
không sợ hãi, đạt được vô úy.
Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy... người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục,
như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.
(Bốn loại sanh)
Này Sariputta, có bốn loại sanh. Thế nào là bốn? Noãn sanh, thai sanh,
thấp sanh, hóa sanh.
Này Sariputta, thế nào là noãn sanh? Này Sariputta, những loại chúng sanh
nào phá vỏ trứng, mà sanh, này Sariputta như vậy gọi là noãn sanh. Và này
Sariputta, thế nào là thai sanh? Này Sariputta, những loại chúng sanh nào
phá màn da mỏng che chỗ kín mà sanh, này Sariputta, như vậy gọi là thai
sanh. Và này Sariputta, thế nào là thấp sanh? Này Sariputta, những loại
chúng sanh nào sanh ra từ cá thúi, từ xác chết thúi, từ cháo cơm thúi, hay
trong hồ nước dơ hay trong ao nước nhớp. Này Sariputta, như vậy gọi là thấp
sanh. Và này Sariputta, thế nào là hóa sanh? Chư Thiên, các chúng sanh ở địa
ngục, một số thuộc loài người và một số thuộc đọa xứ. Này Sariputta, như vậy
gọi là hóa sanh.
Này Sariputta có bốn loại sanh như vậy. Này Sariputta, nếu ai biết Ta như
vậy... người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục, như một gánh nặng bị quăng bỏ một
bên.
(Năm sanh thú và Niết bàn)
Này Sariputta, có năm loại sanh thú này. Thế nào là năm? Ðịa ngục, bàng
sanh, ngạ quỷ, loài Người, chư Thiên.
(1) Này Sariputta, Ta tuệ tri địa ngục, con đường đưa đến địa ngục và
hành lộ đưa đến địa ngục. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng
chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, sự việc này ta cũng
tuệ tri.
(2) Và này Sariputta, Ta tuệ tri bàng sanh, con đường đưa đến bàng sanh
và hành lộ đưa đến bàng sanh. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng
chung, phải sanh vào bàng sanh, sự việc này Ta cũng tuệ tri.
(3) Và này Sariputta, Ta tuệ tri ngạ quỷ, con đường đưa đến ngạ quỷ và
hành lộ đưa đến ngạ quỷ. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung,
phải sanh vào ngạ quỷ, sự việc này Ta cũng tuệ tri.
(4) Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri loài Người, con đường đưa đến thế
giới loài Người và hành lộ đưa đến thế giới loài Người. Tùy theo hành
nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào loài Người, sự việc này Ta
cũng tuệ tri.
(5) Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri chư Thiên, con đường đưa đến Thiên
giới và hành lộ đưa đến Thiên giới. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại
mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, thế giới này, sự việc này Ta
cũng tuệ tri.
Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri Niết-bàn, con đường đưa đến Niết-bàn và
hành lộ đưa đến Niết-bàn. Tùy theo hành nghiệp, do đoạn trừ các lậu hoặc,
sau khi tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong
hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sự việc này, Ta cũng tuệ
tri.
(1) Này Sariputta, ở đây, với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số
người. Do hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ
như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục như vậy. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân,
Ta thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này
Sariputta, cũng như có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng,
không có lửa ngọn, không có khói, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo,
bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi khô cổ, đắng họng, khát nước, và đi thẳng đến
hố than ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy, có thể
nói: "Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như
vậy, sẽ đi đến hố than kia". Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia
rơi vào hố than ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc
liệt. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một
số người: "Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo
lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục như vậy". Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân,
Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt.
(2) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người:
"Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy,
sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào bàng sanh". Sau một thời gian, với
thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy kẻ ấy sau khi thân hoại mạng chung,
sanh vào bàng sanh, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc
liệt. Này Sariputta, cũng như có một hố phân, sâu hơn thân người, đầy những
phẩn uế, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt
mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến hố phân ấy chỉ bằng một
con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: "Hành nghiệp của người
này như vậy, cử chỉ như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hố phân
ấy". Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia rơi vào hố phân ấy và
phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta,
cũng vậy, ở đây với tâm của Ta... (như trên)... thống khổ, khốc liệt.
(3) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người
"Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy... sau khi thân hoại mạng
chung sẽ sanh vào ngạ quỷ, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ,
khốc liệt". Này Sariputta, cũng như có một cây sống trên miếng đất không
bằng phẳng, với lá thưa thớt, với bóng che từng đám lưa thưa. Và một người
đi đến bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng,
khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt
thấy người ấy có thể nói: "Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy
và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến cây ấy". Sau một thời gian, người ấy
sẽ thấy người kia ngồi hay nằm dưới bóng cây ấy và phải cảm thọ những cảm
giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy ở đây với tâm
của Ta... (như trên)... thống khổ, khốc liệt.
(4) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta biết tâm của một số người:
"Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy... sau khi thân hoại mạng
chung, sẽ sanh vào loài người". Sau một thời gian... Ta thấy người ấy sanh
vào loài người, và cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ. Này Sariputta, cũng
như có một cây sống trên miếng đất bằng phẳng với lá sum sê, với bóng cây
rậm rạp. Và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt
mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con
đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: "Hành nghiệp của người này
như vậy, cử chỉ của người này như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến
cây ấy". Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia, ngồi hay nằm dưới
bóng cây ấy và cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ. Này Sariputta, cũng vậy,
ở đây, với tâm của Ta... được nhiều cảm giác lạc thọ.
(5) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người:
"Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy... sau khi thân hoại mạng
chung sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Sau một thời gian...
Ta thấy người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này và cảm thọ
những cảm giác cực lạc. Này Sariputta, giống như một ngôi lầu, có gác nhọn,
có tô vôi cả trong lẫn ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các
cửa sổ khép kín. Tại đây có một sàng tọa, trải nệm lông dài, trải nệm màu
trắng, trải nệm bông có thêu hoa, trải nệm bằng da sơn dương gọi là kadali,
có nệm với khuôn màu treo phía trên, có gối dài màu đỏ cả hai đầu. Và một
người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng
họng, khát nước và đi thẳng đến ngôi lầu ấy. Một người có mắt thấy người ấy
có thể nói: "Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, và bước vào
đạo lộ như vậy, sẽ đi đến ngôi lầu ấy". Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy
người kia ngồi hay nằm trong ngôi lầu ấy, trong gác nhọn ấy, trên sàng tọa
ấy và cảm thọ được nhiều cảm thọ cực lạc. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với
tâm của Ta... được nhiều cảm giác lạc thọ.
(6) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người:
"Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy,
sẽ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an
trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát như vậy". Sau
một thời gian, Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí
chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát,
tuệ giải thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc. Này Sariputta, giống như một
hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ
hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ, và không xa hồ ấy có khu rừng rậm rạp. Một người đi
đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng,
khát nước và đi thẳng đến hồ sen ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể
nói: "Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, và bước vào đạo lộ
như vậy, sẽ đi đến hồ sen ấy". Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người
kia, sau khi tẩm mình vào hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước và làm cho
dịu bớt mọi ưu tư, mệt mỏi, phiền não, sau khi ra khỏi hồ liền qua ngồi hay
nằm trong rừng cây rậm rạp ấy và cảm thọ những cảm giác cực lạc. Cũng vậy,
này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: "Hành
nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ
đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú
ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát như vậy". Sau một
thời gian, Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng
ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc.
Này Sariputta, năm loại này là năm sanh thú. Này Sariputta, có ai biết Ta
như vậy, thấy Ta như vậy, và nói: "Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân,
không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp,
pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuộc trắc nghiệm". Này
Sariputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không
đoạn trừ tà kiến ấy, thì người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng
bị quăng bỏ một bên. Này Sariputta, Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh, thành tựu
thiền định, thành tựu trí tuệ, có thể chứng được chánh trí ngay trong hiện
tại. Này Sariputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy. Nếu người ấy
không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, thì
người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.
(Khổ hạnh của Bồ-tát)
Này Sariputta, Ta thắng tri phạm hạnh, đầy đủ bốn hạnh: về khổ hạnh, Ta
khổ hạnh đệ nhất; về bần uế, Ta bần uế đệ nhất; về yểm ly, Ta yểm ly đệ
nhất; về độc cư, Ta độc cư đệ nhất.
Này Sariputta, ở đây, khổ hạnh của Ta như sau: Ta sống lõa thể, phóng
túng, không theo khuôn phép, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước
tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình,
không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không nhận đồ ăn tại
ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt
giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ
ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con
bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi
quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có
ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Ta chỉ nhận đồ
ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận
ăn hai miếng, hay chỉ nhận ăn tại bảy nhà, chỉ nhận ăn bảy miếng. Ta nuôi
sống chỉ với một chén, nuôi sống chỉ với hai chén, nuôi sống chỉ với bảy
chén. Ta chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như
vậy Ta sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Ta
chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn
trấu, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ
cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Ta mặc vải gai thô, mặc vải gai
thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc áo phấn tảo y,
mặc vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh
da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng
tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện
lại, mặc áo bằng lông cú. Ta sống nhổ râu tóc, Ta theo tập tục sống nhổ râu
tóc, Ta theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, Ta là người ngồi chỏ hỏ,
sống tinh tấn theo hạnh ngồi chỏ hỏ. Ta dùng gai làm giường, thường ngủ nằm
trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường
nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ
ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, sống không uống
nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo
hạnh xuống nước tắm. Như vậy Ta sống theo hạnh hành hạ, dày vò thân thể theo
nhiều cách. Này Sariputta, như vậy là khổ hạnh của Ta.
Này Sariputta, ở đây hạnh bần uế của Ta như sau: Trên thân Ta, bụi bặm
chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Như gốc cây
tinduka bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng;
cũng vậy, này Sariputta, trên thân Ta bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng,
đóng thành tấm, thành miếng. Này Sariputta, Ta không nghĩ rằng: "Với tay của
Ta, Ta hãy phủi sạch bụi bặm này đi, hay những người khác với tay của họ hãy
phủi sạch bụi bặm này đi cho Ta". Này Sariputta, Ta không có nghĩ như vậy.
Này Sariputta, như vậy là sự bần uế của Ta.
Này Sariputta, như thế này là sự yểm ly của Ta. Này Sariputta, tỉnh giác,
Ta đi tới; tỉnh giác Ta đi lui, Ta an trú lòng từ cho đến trong một giọt
nước với tâm tư: "Mong rằng Ta không làm hại một chúng sanh nhỏ nào trong
những ác đạo của họ!" Này Sariputta, như vậy là sự yểm ly của Ta.
Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu
vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục
súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng
này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua
thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng:
"Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, giống như
một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây
này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này
qua đồi cao khác. Cũng vậy, này Sariputta, khi Ta thấy người chăn bò, người
mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ
rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này
qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ
rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, như
vậy là hạnh độc cư của Ta.
Này Sariputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi các con bò cái
đã bỏ đi, khi các người chăn bò không có mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con,
các con bò còn trẻ, các con bò còn bú. Khi nước tiểu và phân của Ta còn tồn
tại, Ta tự nuôi sống với các loại ấy. Này Sariputta, như vậy là hạnh đại bất
tịnh thực của Ta.
Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng rậm rạp kinh hoàng và an trú
tại chỗ ấy. Này Sariputta, tại khu rừng rậm rạp kinh hoàng này, những ai còn
tham ái đi vào khu rừng rậm rạp ấy, thời lông tóc người ấy dựng ngược. Này
Sariputta, rồi Ta trong những đêm đông lạnh lẽo, giữa những ngày mồng tám,
khi có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, Ta sống giữa trời, và ban ngày
sống trong khu rừng rậm rạp. Ta sống trong những ngày cuối tháng hè, ban
ngày thì sống giữa trời, còn ban đêm trong khu rừng rậm rạp. Rồi này
Sariputta, những bài kệ kỳ diệu từ trước chưa từng được nghesau đây được
khởi lên:
Nay bị thiêu đốt, bị buốt lạnh,
Cô độc sống trong rừng kinh hoàng,
Trần truồng, Ta ngồi không lửa ấm,
Ẩn sĩ, trong lý tưởng đăm chiêu.
Này Sariputta, Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Này
Sariputta, những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên
Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai. Này Sariputta, và Ta biết Ta
không khởi ác tâm đối với chúng. Này Sariputta, như vậy là hạnh trú xả của
Ta.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những thuyết như sau,
có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn". Họ nói:
"Chúng ta sống nhờ trái táo", và họ ăn trái táo, họ ăn bột táo, họ uống nước
trái táo dưới nhiều hình thức. Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một
trái táo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: "Trái táo thời ấy to
lớn". Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì trái táo thời ấy giống với trái
táo hiện tại. Này Sariputta, trong khi Ta sống chỉ ăn một trái táo, thân thể
của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như
những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của
Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô
bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn
của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát. Vì ta ăn quá ít, nên con ngươi của
Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm
sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành
nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn
gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ
da bụng" chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ xương
sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta,
da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại
tiện hay đi tiểu tiện", thì Ta ngã qu?úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này
Sariputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này
Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng
khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như
sau, có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn". Họ
nói: "Chúng ta sống nhờ đậu xanh... (như trên)... chúng ta sống nhờ vừng
mè... (như trên)... chúng ta sống nhờ hột gạo", và họ ăn hột gạo, họ ăn hột
gạo nghiền thành bột, họ uống nước gạo, và họ ăn hột gạo dưới nhiều hình
thức. Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một hột gạo. Này Sariputta,
có thể các Người nghĩ như sau: "Hột gạo thời ấy to lớn". Này Sariputta, chớ
có hiểu như vậy. Vì hột gạo thời ấy giống với hột gạo hiện tại. Này
Sariputta, trong khi Ta chỉ sống ăn một hột gạo, thân thể của Ta trở thành
hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay
những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như
móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như
một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui
cột của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, con ngươi long lanh của Ta nằm
sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong
một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo, khô
cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho
nhăn nheo, khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng", thì
chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ xương sống", thì
chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của
Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi
tiểu tiện", thì Ta ngã qu? úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta,
nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thời này Sariputta,
trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân
Ta, vì Ta ăn quá ít.
Này Sariputta, dầu Ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo
khổ hạnh như vậy, Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có
tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện
ấy, không chứng được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ
này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn
người thực hành diệt tận khổ đau.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như
sau, có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ luân
hồi". Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự luân hồi mà xưa kia Ta
không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên
(Suddhavasa). Này Sariputta, nếu Ta luân hồi tại Tịnh cư thiên thì Ta đã
không trở lại đời này nữa.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như
sau, có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ sanh
khởi". Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự sanh khởi mà xưa kia Ta
không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư
thiên. Này Sariputta, nếu Ta sanh khởi tại Tịnh cư thiên, thì Ta đã không
trở lại đời này nữa.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như
sau, có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ an trú".
Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự an trú mà xưa kia Ta không trải
qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên. Này
Sariputta, nếu Ta an trú tại Tịnh cư thiên, thì Ta đã không trở lại đời này
nữa.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như
sau, có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ tế tự".
Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự tế tự mà xưa kia Ta không làm
trong một thời gian khá dài khi ta-là vị vua Sát-đế-lị có làm lễ quán đảnh
hay làm vị Bà-la-môn giàu có.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như
sau, có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ thờ lửa".
Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự thờ lửa mà xưa kia Ta không làm
trong một thời gian khá dài, khi Ta là vị vua Sát-đế-l?có làm lễ quán đảnh,
hay làm vị Bà-la-môn giàu có.
Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như
sau, có những kiến giải như sau: "Khi một thiếu niên còn trẻ tuổi, tóc đen
nhánh, huyết khí sung mãn, trong tuổi thanh xuân, người ấy thành tựu trí tuệ
biện tài tối thượng. Nhưng khi người ấy già cả, niên cao, lạp lớn, đã đến
tuổi trưởng thượng, đã đi đến đoạn cuối cuộc đời, khi đã tám mươi, chín mươi
hay một trăm tuổi, khi ấy trí tuệ biện tài tối thượng ấy bị đoạn trừ". Này
Sariputta, chớ có quan niệm như vậy. Này Sariputta, nay Ta đã già, niên cao,
lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi dến đoạn cuối cuộc đời, tuổi Ta
nay đã đến tám mươi. Này Sariputta, ở đây Ta có bốn vị đệ tử, tuổi thọ đến
một trăm, đã sống một trăm tuổi, thành tựu chánh niệm đệ nhất, thành tựu
chuyên tâm đệ nhất, thành tựu tinh cần đệ nhất và đầy đủ trí tuệ biện tài
tối thượng. Này Sariputta, ví như một người bắn cung thiện xảo, có huấn
luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ, có thể dễ dàng bắn ngang
qua bóng một cây ta-la. Cũng vậy, những vị này với chánh niệm đệ nhất như
vậy, được thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng như vậy, nếu những vị này
hỏi Ta nhiều lần một câu hỏi về Bốn Niệm xứ, và nếu Ta, được hỏi nhiều lần
như vậy, phải giải thích cho họ hiểu và nếu họ được Ta giải thích như vậy,
có thể hiểu như đã giải thích, và nếu họ không hỏi Ta về những vấn đề phụ
thuộc và các vấn đề khác, trừ khi ăn, uống, nhai, nếm, trừ khi đi đại tiện,
tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức. Này Sariputta, dầu vậy, sự thuyết
pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự giải thích cú pháp của Như Lai cũng
chưa hoàn tất, sự trả lời các câu hỏi của Như Lai cũng chưa hoàn tất, khi mà
bốn đệ tử của Ta, tuổi thọ đến một trăm tuổi, đã sống một trăm tuổi, đã từ
trần sau một trăm tuổi. Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ
này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi.
Này Sariputta, những ai nói một cách chân chánh sẽ nói như sau: "Một vị
hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho
chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an
lạc cho chư Thiên và loài Người". Vị ấy sẽ nói về Ta một cách chân chánh như
sau: "Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì
hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh
phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người".
Lúc bấy giờ Tôn giả Nagasamala đứng sau lưng Thế Tôn và quạt cho Ngài!
Tôn giả Nagasamala bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Sau
khi nghe pháp môn này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế Tôn, pháp môn này
tên gọi là gì?
-- Này Nagasamala, do vậy pháp môn này gọi là "Pháp môn Lông tóc dựng
ngược". Ông hãy như vậy thọ trì.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Nagasamala hoan hỷ, tín thọ lời dạy
Thế Tôn.