KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
125. KINH ÐIỂU NGỰ ÐỊA
(Dantabhùmi Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá). Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi
dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
Lúc bấy giờ, Sa-di Aciravata (Tân Học Sa-môn) đang ở tại am thất Aranna.
Rồi vương tử Jayasena trong khi tản bộ du hành, đi đến Sa-di Aciravata, sau
khi đến nói lên với Sa-di Aciravata những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói
lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một
bên, vương tử Jayasena nói với Sa-di Aciravata:
-- Tôn giả Aggivessana, tôi có nghe như sau: "Ở đây Tỷ-kheo sống không
phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sẽ được nhứt tâm".
-- Sự việc là vậy, này Vương tử! Sự việc là vậy, này Vương tử! Ở đây,
Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần sẽ chứng được nhứt tâm.
-- Thật là tốt lành nếu Tôn giả Aggivessana thuyết pháp cho tôi như đã
được nghe, như đã được học.
-- Này Vương tử, tôi không có thể thuyết pháp cho Vương tử như đã được
nghe, như đã được học. Nếu nay tôi thuyết pháp cho Vương tử như đã được
nghe, như đã được học, và nếu Vương tử không hiểu lời tôi nói, như vậy sẽ
làm tôi mệt mỏi, làm tôi phiền muộn.
-- Tôn giả Aggivessana, hãy thuyết pháp cho tôi như đã được nghe, như đã
được học! Rất có thể, tôi sẽ hiểu ý nghĩa lời nói của Tôn giả Aggivessana.
-- Này Vương tử, tôi sẽ thuyết pháp cho Vương tử như đã được nghe, như đã
được học. Nếu Vương tử có thể hiểu ý nghĩa lời nói của tôi, như vậy là tốt
đẹp. Nếu Vương tử không thể hiểu lời nói của tôi, hãy dừng lại trên sự trạng
của mình, chớ có hỏi tôi thêm nữa!
-- Tôn giả Aggivessana, hãy thuyết pháp cho tôi như đã được nghe, như đã
được học! Nếu tôi có thể hiểu được ý nghĩa lời nói của Tôn giả Aggivessana,
như vậy là tốt đẹp. Nếu tôi không có thể hiểu được ý nghĩa lời nói của Tôn
giả Aggivessana, tôi sẽ dừng lại trên sự trạng của tôi, ở đây, tôi sẽ không
hỏi Tôn giả Aggivessana thêm nữa.
Rồi Sa-di Aciravata thuyết pháp cho vương tử Jayasena như đã được nghe,
như đã được học. Khi được nghe vậy, Vương tử nói với Sa-di Aciravata như
sau:
-- Sự việc không phải là như vậy, Tôn giả Aggivessana; trường hợp không
phải là như vậy, rằng Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần lại
có thể chứng đắc nhất tâm.
Rồi Vương tử Jayasena sau khi nói lên với Sa-di Aciravata sự việc không
phải như vậy và trường hợp không phải như vậy, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra
đi.
Rồi Sa-di Aciravata, sau khi vương tử Jayasena ra đi không bao lâu, liền
đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một
bên, Sa-di Aciravata kể lại cho Thế Tôn tất cả cuộc đàm thoại với vương tử
Jayasena.
Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Sa-di Aciravata:
-- Như vậy, này Aggivessana, nào có lợi ích gì? Vương tử Jayasenna sống
giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não
dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy, hay có
thể chứng (quả vị) chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được.
Chỉ có ly dục mới đạt được, hay chỉ có ly dục mới chứng được; sự kiện như
vậy không xảy ra.
Này Aggivessana, ví như giữa các con voi, con ngựa hay con bò được dạy
điều phục có hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được dạy điều phục,
được khéo huấn luyện; và có hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò không
được khéo điều phục, không được khéo huấn luyện. Này Aggivessana, Ông nghĩ
thế nào? Hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò, được khéo điều phục, được
khéo huấn luyện, các con ấy có thể đi đến khả năng điều phục (dantakaranam),
có thể đạt đến điều phục địa không?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Còn hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được dạy điều phục, nhưng
không được khéo điều phục, không được khéo huấn luyện, các con ấy không được
điều phục, có thể đi đến khả năng điều phục, không được điều phục có thể đạt
đến điều phục địa, như hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được khéo
điều phục, được khéo huấn luyện kia không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Aggivessana, vương tử Jayasena sống giữa các dục, thọ
hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha
thiết truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy, hay có thể chứng (quả vị)
chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được, chỉ có ly dục mới
đạt được, chỉ có ly dục mới chứng được, sự kiện như vậy không xảy ra.
Ví như, này Aggivessana, một hòn núi lớn không xa làng hay thị trấn. Và
có hai người bạn, tay trong tay đi ra khỏi làng hay thị trấn ấy, và đi đến
hòn núi kia. Sau khi đến, một người bạn đứng dưới chân núi, còn người bạn
kia leo lên đỉnh núi. Người bạn đứng dưới chân núi ấy có thể nói với người
bạn đứng trên đỉnh núi: "Này Bạn thân, Bạn đứng trên đỉnh núi, Bạn thấy
những gì?" Người kia nói: "Này Bạn thân, đứng trên đỉnh núi tôi thấy các
vườn khả ái, các khu rừng khả ái, các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái".
Người kia nói: "Không có sự kiện này, này Bạn thân, không có trường hợp này,
Bạn đứng trên đỉnh núi lại có thể thấy các khu vườn khả ái, khu rừng khả ái,
các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái".
Rồi người bạn đã đứng trên đỉnh núi, sau khi đi xuống chân núi, nắm tay
bạn, khiến bạn trèo lên đỉnh núi, để bạn nghỉ thở một thời gian, rồi nói:
"Này Bạn thân, nay Bạn có thể thấy gì, khi Bạn đứng trên đỉnh núi?" Và người
bạn ấy có thể nói: "Này Bạn thân, nay đứng trên đỉnh núi, tôi thấy các khu
vườn khả ái, các khu rừng khả ái, các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái".
Người kia có thể nói như sau: "Vừa rồi, này Bạn thân, chúng tôi hiểu Bạn
nói: "Không thể có sự kiện này, này Bạn thân, không thể có trường hợp này,
Bạn đứng trên đỉnh núi lại có thể thấy các khu vườn khả ái... các ao hồ khả
ái". Nhưng nay chúng tôi hiểu Bạn nói: "Này Bạn thân, nay đứng trên đỉnh
núi, tôi thấy các khu vườn khả ái... các ao hồ khả ái". Người kia nói như
sau: "Này Bạn thân, vì tôi bị che khuất bởi sườn núi này, nên không thấy
được những điều đáng thấy".
Cũng vậy, nhưng to lớn hơn, này Aggivessana, là Vương tử Jayasena, bị che
khuất, bị chận đứng, bị chướng ngại, bị bao vây bởi vô minh uẩn này. Vương
tử Jayasena sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai
nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại có thể biết,
có thể thấy hay có thể chứng (quả vị) chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly
dục mới thấy được, chỉ có ly dục mới đạt được, chỉ có ly dục mới chứng được;
sự kiện như vậy không xảy ra.
Nếu hai ví dụ này được Ông đề cập cho Vương tử Jayasena, thời Vương tử
Jayasena tự nhiên tin tưởng Ông và khi đã tin tưởng, sẽ hành động đúng theo
cung cách một người đã tin tưởng Ông.
-- Nhưng làm sao, bạch Thế Tôn, hai ví dụ này khởi đến từ nơi con cho
Vương tử Jayasena, khởi lên một cách tự nhiên, từ trước chưa từng được nghe,
như Thế Tôn được?
-- Ví như, này Aggivessana, một vị vua Sát-đế-lỵ đã quán đảnh bảo người
nài voi: "Này Tượng sư, hãy cưỡi con vương tượng, đi vào rừng vó voi; khi
Ông thấy con voi rừng, hãy cột nó lại vào cổ con vương tượng". -- "Thưa
vâng, Ðại vương". Này Aggivessana, người tượng sư vâng theo lời vị vua
Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, cỡi con vương tượng, vào trong rừng có voi,
thấy con voi rừng, cột (con voi rừng ấy) vào cổ con vương tượng. Con vương
tượng kéo nó ra chỗ ngoài trời. Cho đến như vậy, này Aggivessana, con voi
rừng được đi đến chỗ ngoài trời. Nhưng này Aggivessana, con voi rừng còn có
sự tham luyến tức là đối với rừng có voi.
Người tượng sư tâu với vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh về con voi
rừng ấy. "Tâu Ðại vương, con voi rừng đã ra chỗ ngoài trời". Rồi vị vua
Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh bảo người điều phục voi: "Hãy đến, này người
Ðiều phục voi, hãy điều phục con voi rừng này bằng cách điều phục nếp sống
rừng của nó, bằng cách điều phục tâm tư rừng núi, bằng cách điều phục sự ưu
tư, mệt nhọc, nhiệt não đối với rừng núi của nó bằng cách làm cho nó thích
thú với thôn làng, và bằng cách làm cho nó quen thuộc với nếp sống loài
người". -- "Thưa vâng, tâu Ðại vương". Này Aggivessana, người điều phục voi
vâng theo lời vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đóng một cọc trụ lớn vào
đất, cột cổ con voi rừng, để điều phục nếp sống rừng của nó, để điều phục
tâm tư rừng núi, để điều phục sự suy tư, mệt nhọc, nhiệt não của rừng núi,
để làm cho nó thích thú với thôn làng và làm cho nó quen thuộc với nếp sống
loài người.
Rồi người điều phục voi lại nói với nó bằng những lời nhẹ nhàng, đẹp tai,
thân tình, đi đến tâm, thanh nhã, khiến nhiều người vui thích, khiến nhiều
người hoan hỷ. Và này Aggivessana, con voi rừng khi được nói với những lời
nhẹ nhàng, đẹp tai, thân tình, đi đến tâm, thanh nhã, khiến nhiều người vui
thích, khiến nhiều người hoan hỷ, liền nghe, lóng tai, trú tâm vào học hỏi
(anna). Tiếp đến người điều phục voi đem cỏ và nước cho con voi rừng. Này
Aggivessana, khi con voi rừng nhận cỏ và nước, người điều phục voi mới nghĩ:
"Nay con voi rừng sẽ sống".
Rồi người điều phục voi khiến (con voi rừng) làm thêm một động tác khác:
"Này Bạn, nhặt lên! Này Bạn, đặt xuống!" Này Aggivessana, sau khi con vương
tượng vâng theo lời người điều phục voi, làm đúng theo lời dạy nhặt lên, đặt
xuống rồi, người điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác: "Này
Bạn, đi tới! Này Bạn đi lui!" Này Aggivessana, sau khi con vương tượng vâng
theo lời người điều phục voi, làm đúng theo lời dạy đi tới, đi lui rồi,
người điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác: "Này Bạn, đứng dậy!
Này Bạn, ngồi xuống!" Này Aggivessana, sau khi con vương tượng vâng theo lời
người điều phục voi, làm đúng theo lời dạy, đứng dậy, ngồi xuống rồi, người
điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác tên gọi "bất động". Nó cột
cái khiên bằng gỗ vào cái vòi của con vật to lớn, và một người tay cầm ngọn
giáo ngồi trên cổ, và xung quanh một số người tay cầm ngọn giáo đứng bao
vây. Và người điều phục voi, tay cầm một ngọn giáo với cán cây dài, đứng ở
phía trước. Con voi ấy làm động tác bất động, không có di động chân trước,
không có di động chân sau, không có di động thân trước, không có di động
thân sau, không di động đầu, không có di động tai, không có di động ngà,
không có di động vòi. Con vương tượng là con voi có thể nhẫn chịu đao, kiếm,
tên, búa chém bắn, nhẫn chịu tiếng vang động của trống lớn, trống nhỏ, tù
và, (như là) vàng ròng tẩy sạch các tỳ vết nhơ bẩn, xứng đáng vua (dùng),
một sở hữu của vua, một biểu tượng của vua.
Cũng vậy, này Aggivessana, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc
A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng
tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên
giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố
điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện,
đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp
(hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như
Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: "Ðời sống gia đình đầy
những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng
khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể
sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như
vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình". Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài
sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ
râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Cho
đến đây, này Aggivessana, là vị Thánh đệ tử đi đến chỗ ngoài trời. Nhưng này
Aggivessana, các vị Thiên, Nhân có tham ái này, tức là năm dục công đức.
Rồi Như Lai huấn luyện thêm cho (vị đệ tử) ấy: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy
giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai
nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học
trong học pháp!" Này Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã giữ giới, sống
chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh,
thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong học pháp,
Như Lai lại huấn luyện thêm cho đệ tử ấy: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy bảo hộ
các căn! Khi mắt thấy sắc, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái
ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì
con mắt, thiệt hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương,
lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp, chớ có nắm giữ tướng chung,
chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế
ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, hãy chế ngự nguyên
nhân ấy, hộ trì ý căn, thiệt hành sự hộ trì ý căn".
Này Aggivessana, sau khi Thánh đệ tử đã hộ trì các căn, Như Lai huấn
luyện thêm vị Thánh đệ tử ấy: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn
uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải
để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để
thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm
hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên
các cảm thọ mới. Và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".
Này Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã tiết độ trong ăn uống, Như Lai
lại huấn luyện thêm vị ấy: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban
ngày khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các
chướng ngại pháp. Ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và trong
khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Ban đêm trong
canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân
gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy.
Ban đêm canh cuối, khi đã thức dậy trong khi đi kinh hành và trong khi đang
ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp".
Này Aggivessana, sau khi Thánh đệ tử đã chú tâm cảnh giác, Như Lai huấn
luyện thêm vị ấy: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác!
Khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh
giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát,
thượng y đều tỉnh giác; khi ăn uống nhai nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại
tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi đứng ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng
đều tỉnh giác".
Này Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã thành tựu chánh niệm tỉnh
giác, Như Lai lại huấn luyện thêm vị ấy: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy lựa một
trú xứ thanh vắng, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, chỗ hoang vu, hang núi, bãi
tha ma, khóm rừng, ngoài trời, đống rơm!"
Vị ấy lựa chọn một trú xứ thanh vắng, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, chỗ
hoang vu, hang núi, bãi tha ma, khóm rừng, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy sau
khi ăn xong, trên đường khất thực trở về, ngồi xuống, kiết-già, giữ lưng cho
thẳng, trú niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly
tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không
sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân
hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với
tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm
thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối quá, nội tâm
trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống với
tâm thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ
đối với thiện pháp.
Vị ấy sau khi đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm
tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm, để điều phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các cảm thọ...
quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm để điều phục tham ưu ở đời.
Ví như, này Aggivessana, một người điều phục voi đóng một cọc trụ lớn vào
đất, cột cổ con voi rừng để điều phục nếp sống rừng của nó, để điều phục tâm
tư rừng núi của nó, để điều phục sự ưu tư mệt nhọc nhiệt não của rừng núi,
để làm cho nó thích thú với thôn làng và làm cho nó quen thuộc với nếp sống
loài người; cũng vậy, này Aggivessana, bốn niệm xứ này là những dây cột tâm
tư để điều phục tánh cư sĩ, để điều phục tâm tư cư sĩ, để điều phục sự ưu tư
mệt nhọc nhiệt não của các cư sĩ, để đạt được chánh lý (naya), để chứng ngộ
Niết-bàn.
Rồi Như Lai huấn luyện thêm vị ấy:
-- Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy trú quán thân trên thân, và chớ có suy tư
trên tầm liên hệ đến thân; hãy trú quán thọ trên các cảm thọ, và chớ có suy
tư trên tầm liên hệ đến cảm thọ; hãy trú quán tâm trên tâm, chớ có suy tư
trên tầm liên hệ đến tâm; hãy trú quán pháp trên các pháp, và chớ có suy tư
trên tầm liên hệ đến các pháp.
Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc
do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả,
chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm
lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã
cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm
thanh tịnh.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm
đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị
ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai
cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến
mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ
ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn
uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau
khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy vị ấy nhớ đến những đời
sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân,
thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người
hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều
do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: "Thật sự những vị chúng sanh này
thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành
tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp
theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào
cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu
những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu
những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo
các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung,
được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này". Như vậy, vị ấy với
thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy
tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô
xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: "Ðây là Khổ", tuệ tri như thật:
"Ðây là Khổ tập", tuệ tri như thật: "Ðây là Khổ diệt", tuệ tri như thật:
"Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt" tuệ tri như thật: "Ðây là những lậu
hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc", tuệ tri như
thật: "Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là con Ðường
đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc".
Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi
hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi
lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh
đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống
này nữa".
Tỷ-kheo kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của muỗi, ruồi, gió,
mặt trời và các loài bò sát, các ác ngữ, các lời nói chửi mắng, vị ấy sống
quen kham nhẫn với những cảm thọ về thân, thống khổ, đau nhói, đau đớn, kịch
liệt, bất khoái, không thích ý, đau đớn đến chết, được gột sạch về uế nhiễm
tham, sân, si. Vị ấy xứng đáng được cúng dường, cung kính, tôn trọng, chấp
tay, là vô thượng phước điền trên đời.
Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi già chết đi, không được
điều phục, không được huấn luyện, thời con vương tượng tuổi già được gọi là
đã chết với cái chết không được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một con
vương tượng tuổi bậc trung; nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi
trẻ chết đi, không được điều phục, không được huấn luyện, thời con vương
tượng tuổi trẻ được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục. Cũng
vậy, này Aggivessana, nếu vị Trưởng lão Tỷ-kheo chết với lậu hoặc chưa đoạn
tận, thời Trưởng lão Tỷ-kheo được gọi là đã chết với cái chết không được
điều phục. Nếu, này Aggivessana, một Tỷ-kheo trung niên; nếu, này
Aggivessana, một Tỷ-kheo thiếu niên chết với lậu hoặc chưa đoạn tân, thời
Tỷ-kheo thiếu niên được gọi là đã chết với cái chết không được điều phục.
Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi già khéo điều phục, khéo
huấn luyện chết đi, thời con vương tượng tuổi già được gọi là đã chết với
cái chết được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi bậc
trung, nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi trẻ khéo điều phục,
khéo huấn luyện chết đi, thời con vương tượng tuổi trẻ được gọi là đã chết
với cái chết đã được điều phục. Cũng vậy, này Aggivessana, nếu một Trưởng
lão Tỷ-kheo với lậu hoặc đã đoạn tận chết đi, thời Trưởng lão Tỷ-kheo được
gọi là đã chết, với cái chết được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một trung
niên Tỷ-kheo; nếu, này Aggivessana, một thiếu niên Tỷ-kheo, với lậu hoặc đã
đoạn tận chết đi, thời vị thiếu niên Tỷ-kheo được gọi là đã chết, với cái
chết đã được điều phục.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sa-di Aciravata hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn
dạy.