KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
127. KINH A-NA-LUẬT
(Anuruddha Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà viên), chỗ
tinh xá của ông Anathapindika (Cấp cô độc). Rồi thợ mộc Pancakanga bảo một
người.
-- Hãy đến, này Người kia, hãy đi đến Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), nhân
danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Anuruddha và thưa như sau: "Thưa Tôn
giả, thợ mộc Pancakanga cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Anuruddha, và thưa: Mong
rằng Tôn giả Anuruddha cùng ba vị nữa, ngày mai nhận lời dùng bữa ăn với thợ
mộc Pancakanga. Mong rằng Tôn giả Anuruddha đến thật sớm, vì thợ mộc
Pancakanga có nhiều công việc, có nhiều bổn phận phải làm đối với vua".
-- Thưa vâng, Tôn giả.
Người ấy vâng đáp thợ mộc Pancakanga, đi đến Tôn giả Anuruddha, sau khi
đến đảnh lễ Tôn giả Anuruddha, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
người ấy thưa Tôn giả Anuruddha:
-- Thợ mộc Pancakanga cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Anuruddha và thưa như sau:
"Thưa Tôn giả, mong rằng Tôn giả Anuruddha với ba vị nữa ngày mai đến dùng
bữa ăn với thợ mộc Pancakanga. Thưa Tôn giả, mong rằng Tôn giả Anuruddha đến
cho thật sớm, vì thợ mộc Pancakanga có nhiều công việc, có nhiều bổn phận
phải làm đối với vua".
Tôn giả Anuruddha im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Anuruddha, sau khi đêm ấy
đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ thợ mộc Pancakanga,
sau khi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi thợ mộc Pancakanga tự tay
mời mọc và làm cho thỏa mãn Tôn giả Anuruddha với các món ăn thượng vị, loại
cứng và loại mền. Và sau khi Tôn giả Anuruddha đã ăn xong, đã cất tay khỏi
bình bát, thợ mộc Pancakanga lấy một ghế thấp rồi ngồi xuống một bên, Ngồi
xuống một bên, thợ mộc Pancakanga thưa cùng Tôn giả Anuruddha:
-- Ở đây, thưa Tôn giả, các Trưởng lão Tỷ-kheo đến và nói như sau: "Này
Gia chủ, hãy tu tập vô lượng tâm giải thoát". Có một số vị Trưởng lão lại
nói như sau: "Này Gia chủ, hãy tu tập đại hành tâm giải thoát". Thưa Tôn
giả, vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát, các pháp này vừa
khác nghĩa vừa khác văn, hay đồng nghĩa, chỉ khác biệt về văn?
-- Này Gia chủ, hãy nói lên những điều gì Ông nghĩ về vấn đề này; nhờ
vậy, vấn đề này sẽ trở thành xác thật cho Ông.
-- Thưa Tôn giả, con nghĩ như sau: "Vô lượng tâm giải thoát và đại hành
tâm giải thoát, các pháp này đồng nghĩa nhưng khác văn".
-- Này Gia chủ, vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát, những
pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn. Do vậy, này "Cư sĩ, đây cần phải hiểu
đúng với pháp môn, nghĩa là các pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn.
Và này Cư sĩ, thế nào là vô lượng tâm giải thoát? Ở đây, này Cư sĩ,
Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương
thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp
thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới,
vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận,
không sân. Với tâm câu hữu với bi, với tâm câu hữu với hỷ, an trú biến mãn,
một phương với tâm câu hữu với xả, ... quảng đại, vô biên, không hận, không
sân. Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là vô lượng tâm giải thoát.
Này Cư sĩ, thế nào là đại hành tâm giải thoát? Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo,
cho đến một gốc cây, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy
(trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải
thoát. Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba gốc cây, an trú, biến
mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư
sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến
một ruộng làng an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi
tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát. Ở đây,
này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba ruộng làng, an trú biến mãn và thấm
nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vây, này Cư sĩ được gọi
là đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến một đại vương
quốc, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu
Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát. Ở đây, này
Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba đại vương quốc an trú, biến mãn và thấm
nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi
là đại hành tâm giải thoát. Do vậy, này Cư sĩ, đây cần phải hiểu đúng với
pháp môn này, nghĩa là các pháp này vừa khác nghĩa, vừa khác văn.
Này Cư sĩ, có bốn hữu sanh này (bhavuppattiyo: bốn sự sanh khởi cho một
đời sống mới). Thế nào là bốn? Ở đây, này Cư sĩ, có người, với hào quang hạn
lượng (parittabha) an trú, biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại
mạng chung được sanh cọng trú với chư Thiểu Quang thiên. Ở đây, này Cư sĩ,
có người với hào quang vô lượng, an trú, biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau
khi thân hoại mạng chung được sanh cọng trú với chư Vô Lượng Quang thiên. Ở
đây, này Cư sĩ có người với hào quang tạp nhiễm, an trú biến mãn và thấm
nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cọng trú với chư Tạp
Nhiễm Quang thiên. Ở đây, này Cư sĩ, có người với hào quang thanh tịnh an
trú, biến mãn và thấm nhuần. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh
cộng trú với chư Biến Tịnh Quang thiên. Này Cư sĩ, có bốn loại hữu sanh này.
Có thời, này Cư sĩ, chư Thiên kia tập họp tại một chỗ. Khi các vị này tập
họp tại một chỗ, có thấy sự sai khác về màu sắc, không có thấy sự sai khác
về hào quang. Ví như, này Cư sĩ, có người cầm nhiều cây đèn dầu đi vào trong
một nhà. Khi các cây đèn dầu ấy được đem vào trong nhà, có thấy sự sai khác
về ngọn lửa, nhưng không có thấy sự sai khác về ánh sáng. Cũng vậy, này Cư
sĩ, có thời chư Thiên kia tập họp tại một chỗ. Khi các vị này tập họp tại
một chỗ, có thấy sự sai khác về màu sắc, không có thấy sự sai khác về hào
quang.
Có thời, này Cư sĩ, chư Thiên ấy, đi ra khỏi từ chỗ kia. Khi chư Thiên ấy
đi ra khỏi từ chỗ kia, có thấy sự sai khác về màu sắc và cũng có thấy sự sai
khác về hào quang. Ví như, này Cư sĩ, có người đem nhiều cây đèn dầu ra khỏi
ngôi nhà ấy, khi các cây đèn dầu ấy được đem ra khỏi ngôi nhà kia, có thấy
sự sai khác về màu sắc và cũng có thấy sự sai khác về ánh sáng. Cũng vậy,
này Cư sĩ, có thời chư Thiên ấy đi ra khỏi từ chỗ kia. Khi chư Thiên ấy đi
ra khỏi từ chỗ kia, có thấy sự sai khác về màu sắc và cũng có thấy sự sai
khác về hào quang.
Này Cư sĩ, chư Thiên ấy không có nghĩ: "Ðây là thường còn, thường trú,
thường hằng cho chúng tôi". Nhưng chỗ nào chư Thiên ấy an trú, tại chỗ ấy,
chư Thiên kia sống trong thoải mái. Ví như, này Cư sĩ, khi các con ruồi bị
mang đi trong đòn gánh hay trong cái giỏ, chúng nó không có nghĩ: "Ðây là sự
thường còn, thường trú hay thường hằng cho chúng tôi". Nhưng chỗ nào, chỗ
nào các con ruồi kia an trú, tại chỗ ấy các con ruồi ấy sống trong thoải
mãi. Cũng vậy, này Cư sĩ, chư Thiên ấy không có nghĩ: "Ðây là thường còn,
thường trú hay thường hằng cho chúng tôi". Nhưng chỗ nào, chỗ nào chư Thiên
ấy an trú, tại chỗ ấy, chư Thiên kia sống trong thoải mái.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Abhiya Kaccana thưa với Tôn giả Anuruddha:
-- Tốt lành thay, Tôn giả Anuruddha! Ở đây, tôi có câu này cần phải hỏi
thêm. Thưa Tôn giả, chư Thiên có hào quang, tất cả đều có hào quang có hạn
lượng? Hay là ở đây có một số chư Thiên có hào quang vô lượng?
-- Này Hiền giả Kaccana, tùy theo trường hợp, ở đây một số chư Thiên có
hào quang có hạn lượng, nhưng ở đây cũng có một số chư Thiên có hào quang vô
lượng.
-- Thưa Tôn giả Anuruddha, do nhân gì, do duyên gì, dầu cho chư Thiên ấy
được sanh khởi trong một Thiên chúng, lại có một số chư Thiên có hào quang
hạn lượng và có một số chư Thiên khác có hào quang vô lượng?
-- Này Hiền giả Kaccana, ở đây Ta sẽ hỏi Hiền giả. Nếu Hiền giả kham
nhẫn, Hiền giả sẽ trả lời. Này Hiền giả Kaccana, Hiền giả nghĩ thế nào?
Tỷ-kheo cho đến một gốc cây, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như
vậy (trong khi tu Thiền), và Tỷ-kheo cho đến hai hay ba gốc cây, an trú biến
mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu
tập tâm này, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
-- Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba gốc cây, an trú, biến mãn và
thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm
ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
-- Này Hiền giả Kaccana, Hiền giả nghĩ thế nào? Tỷ-kheo cho đến hai hay
ba gốc cây, an trú biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu
Thiền), và Tỷ-kheo, cho đến một ruộng làng, an trú, biến mãn và thấm nhuần
lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền) trong hai sự tu tập tâm này, sự tu
tập tâm nào rộng lớn hơn?
-- Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo cho đến một ruộng làng, an trú, biến mãn, và
thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm
ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
-- Này Hiền giả Kaccana, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba ruộng làng, an trú,
biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), và Tỷ-kheo
cho đến một đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như
vậy (trong khi tu Thiền) trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng
lớn hơn?
-- Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo, cho đến một đại vương quốc, an trú, biến mãn và
thấm nhuần lớn cho đến như vậy (Trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm
ấy, sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
-- Này Hiền giả Kaccana, Tỷ-kheo cho đến một đại vương, an trú, biến mãn
và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), và Tỷ-kheo cho đến
hai hay ba một đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến
như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm nào
rộng lớn hơn?
-- Thưa Tôn giả Anuruddha, Tỷ-kheo cho đến hai hay ba đại vương quốc, an
trú, biến mãn và thấm nhuần rộng lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền),
trong hai sự tu tập tâm ấy, sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
-- Này Hiền giả Kaccana, Hiền giả nghĩ thế nào? Tỷ-kheo cho đến hai hay
ba đại vương quốc, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong
khi tu Thiền), và Tỷ-kheo cho đến giải đất tận hải biên, an trú, biến mãn và
thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm
ấy, sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn?
-- Thưa Tôn giả, Tỷ-kheo cho đến giải đất tận hải biên, an trú, biến mãn
và thấm nhuần lớn như vậy (trong khi tu Thiền), trong hai sự tu tập tâm ấy,
sự tu tập tâm này rộng lớn hơn.
-- Này Hiền giả Kaccana, do nhân này, do duyên này, giữa các chư Thiên ấy
được sanh khởi trong một Thiên chúng, có một số chư Thiên có hào quang có
hạn lượng nhưng có một số chư Thiên có hào quang vô lượng.
-- Lành thay, Tôn giả Anuruddha ! Tôi có một câu cần phải hỏi thêm nữa.
Thưa Tôn giả, về hào quang chư Thiên, có phải tất cả hào quang là tạp nhiễm
hay có một số chư Thiên có hào quang thanh tịnh?
-- Tùy theo trường hợp, này Hiền giả Kaccana, ở đây có một số chư Thiên
có hào quang tạp nhiễm, nhưng ở đây cũng có một số chư Thiên có hào quang
thanh tịnh.
-- Thưa Tôn giả Anuruddha, do nhân gì, do duyên gì, trong chư Thiên ấy
được sanh khởi trong một Thiên chúng, có một số hào quang tạp nhiễm, nhưng
có một số chư Thiên có hào quang thanh tịnh?
Này Hiền giả Kaccana, Ta sẽ cho Hiền giả một ví dụ. Nhờ ví dụ ở đây,
người có trí hiểu được ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Hiền giả Kaccana,
một cây đèn đang cháy với dầu không được sạch sẽ, với tim đèn cũng không
được sạch sẽ. Vì dầu không được sạch sẽ, và cũng vì tim đèn không được sạch
sẽ, nên cây đèn cháy rất lu mờ. Cũng vậy, này Hiền giả Kaccana, ở đây
Tỷ-kheo an trú biến mãn và thấm nhuần với hào quang tạp nhiễm. Thân dâm hạnh
của vị ấy không được khéo chấm dứt, hôn trầm thụy miên không được khéo đoạn
trừ, trạo cử hối quá không được khéo nhiếp phục. Vì không được khéo chấm dứt
thân dâm hạnh, vì không khéo đoạn trừ hôn trầm thụy miên, vì không khéo
nhiếp phục trạo cử hối quá, nên vị ấy được cháy lên một cách lu mờ. Vị ấy
sau khi thân hoại mạng chung được sanh cọng trú với chư Thiên có hào quang
tạp nhiễm.
Ví như, này Hiền giả Kaccana, một ngọn đèn dầu được dốt cháy, với dầu
sạch sẽ và với tim đèn cũng được sạch sẽ. Do dầu được sạch sẽ và cũng do tim
đèn được sạch sẽ, nên cây đèn ấy được cháy không có mù mờ. Cũng vậy, này
Hiền giả Kaccana, ở đây Tỷ-kheo an trú biến mãn và thấm nhuần với hào quang
thanh tịnh, thân dâm hạnh của vị này được khéo chấm dứt, hôn trầm thụy miên
được khéo đoạn trừ, trạo cử hối quá được khéo nhiếp phục. Do thân dâm hạnh
được khéo chấm dứt, do hôn trầm thụy miên được khéo đoạn trừ, do trạo cử hối
quá được khéo nhiếp phục, vị ấy được cháy lên không có mù mờ. Sau khi thân
hoại mạng chung, vị ấy được sanh cọng trú với chư Thiên có hào quang thanh
tịnh.
Này Hiền giả Kaccana, do nhân này, do duyên này, giữa chư Thiên ấy sanh
khởi cùng trong một Thiên chúng, có một số chư Thiên có hào quang tạp nhiễm,
nhưng có một số chư Thiên có hào quang thanh tịnh.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Abhiya Kaccana thưa với Tôn giả Anuruddha:
-- Thật lành thay, Tôn giả Anuruddha! Thưa Tôn giả, Tôn giả Anuruddha
không có nói như sau: "Như vậy tôi nghe", hay "Sự việc đúng như vậy". Trái
lại, thưa Tôn giả, Tôn giả Anuruddha chỉ nói: "Chư Thiên này là như vậy và
chư Thiên kia là như vậy". Thưa Tôn giả, tôi nghĩ như sau: "Tôn giả
Anuruddha chắc chắn đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ
trước với chư Thiên ấy".
-- Này Hiền giả Kaccana, lời nói này của Hiền giả đến gần như thử thách
Ta phải tuyên bố, nhưng Ta sẽ trả lời cho Hiền giả. Này Hiền giả Kaccana, đã
từ lâu, Ta đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ trước với
chư Thiên ấy.
Khi nghe nói vậy, Tôn giả Abhiya Kaccana nói với thợ mộc Pancakanga:
-- Thật lợi ích thay cho Ông, này Cư sĩ, rằng Ông đã đoạn trừ được điều
nghi ngờ từ trước, và cũng được dịp nghe pháp môn này.