KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
129. KINH HIỀN NGU
(Bàlapandita Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà viên), tại tịnh xá
ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng, bạch
Thế Tôn", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
(Người Ngu)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba đặc điểm, đặc tướng, và đặc ấn này của người
ngu. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu tư duy ác tư duy, nói
lời ác ngữ và hành các ác hạnh. Này các Tỷ-kheo, nếu người ngu không tư duy
ác tư duy, không nói lời ác ngữ, không hành ác hạnh, thời làm sao kẻ trí
biết được người ấy: "Người này là người ngu, không phải là Chân nhân"? Và vì
rằng, này các Tỷ-kheo, người ngu tư duy ác tư duy, nói lời ác ngữ, hành ác
hạnh, do vậy, người trí biết người ấy: "Người này là người ngu, không phải
là Chân nhân".
Người ngu ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại cảm thọ ba loại khổ
ưu. Này các Tỷ-kheo, nếu người ngu ngồi giữa hội chúng, hay ngồi bên đường
có xe cộ qua lại, hay tại ngã (ba, ngã tư) đường, tại đấy (nếu) có người
nghĩ đến câu chuyện thích hợp về người ấy. Nếu người ngu, này các Tỷ-kheo,
sát sanh, lấy của không cho, theo tà hạnh trong dâm dục, nói láo, say rượu
men, rượu nấu, thường ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu ấy suy nghĩ như sau:
"Các người ấy nghĩ đến câu chuyện thích hợp về ta, vì những pháp ấy thật có
nơi ta và ta có những pháp ấy". Này các Tỷ-kheo, đây là loại khổ ưu thứ
nhất, người ngu cảm thọ ngay trong hiện tại.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người ngu thấy các vua chúa sau khi bắt tên
trộm cướp có phạm tội liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng
roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt
tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi; họ dùng hình phạt vạc
dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò) họ dùng
hình phạt la hầu khẩu hình, hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa), chúc
thủ hình (đốt tay), khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt) bì y hình
(lấy vỏ cây làm áo), linh dương hình (hình phạt con dê núi), câu nhục hình
(lấy câu móc vào thịt), tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền), khối trấp
hình, chuyển hình, cao đạp đài, họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng
cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người
ngu nghĩ như sau: "Do nhân các ác hành như vậy, các vua chúa sau khi bắt tên
trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng những hình phạt sai khác. Họ đánh bằng
roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt
tay chân.. họ lấy gươm chặt đầu. Những pháp ấy có thật nơi ta và ta có những
pháp ấy. Nếu các vua chúa biết về ta, các vua chúa ấy sau khi bắt ta liền áp
dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh
bằng côn... họ lấy gươm chặt đầu. "Này các Tỷ-kheo, đây là loại khổ ưu thứ
hai, người ngu cảm thọ ngay trong hiện tại.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi người ngu leo ngồi trên ghế, hay trên
giường, hay nằm trên đất, lúc bấy giờ, những ác nghiệp người ấy làm từ
trước, như thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, treo nằm, treo áp, treo đè
lên người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, những bóng các đỉnh
núi treo nằm, treo áp, treo đè trên đất; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi
người ngu ngồi trên ghế, hay ngồi trên giường, hay nằm dưới đất, trong khi
ấy các nghiệp quá khứ của người ấy, tức là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác
hành, treo nằm, treo áp, treo đè trên người ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo,
người ngu suy nghĩ như sau: "Thật sự ta không làm điều phước, không làm điều
thiện, không làm điều chống lại sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm
điều tội lỗi. Do không làm điều phước, không làm điều thiện, không làm điều
chống lại sợ hãi, do làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều tội lỗi nên
phải đi đến ác thú; ác thú ấy sau khi chết ta phải đi". Người ấy sầu muộn,
than van, than khóc, đấm ngực, rên la và rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo,
đây là sự khổ ưu thứ ba, ngay trong hiện tại, người ngu (phải) cảm thọ.
Này các Tỷ-kheo, kẻ ngu kia sau khi làm thân ác hành, sau khi làm khẩu ác
hành, sau khi làm ý ác hành, khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác
thú, đọa xứ, địa ngục.
(Ðịa ngục)
Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói một cách đúng đắn về người ấy, phải nói
rằng người ấy hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn
không thích ý. Cũng như muốn nói một cách đúng đắn về Ðịa ngục, phải nói
rằng Ðịa ngục, hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn
không thích ý. Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, cho đến một ví dụ cũng không
dễ gì, vì rất nhiều là sự đau khổ của Ðịa ngục.
Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho con một ví dụ được không?
Thế Tôn đáp:
-- Có thể được, này Tỷ-kheo. Ví như, này Tỷ-kheo, có người bắt được một
tên trộm cắp, dẫn đến trước mặt vua và thưa: "Tâu Ðại vương, đây là một tên
trộm cướp phạm tội cho Ngài! Hãy hình phạt nó như Ðại vương muốn". Và vị vua
ấy nói như sau về tên trộm cướp ấy: "Này các Ông hãy đi và vào buổi sáng hãy
đâm người này với một trăm ngọn giáo". Và vào buổi sáng, họ đâm người ấy với
một trăm ngọn giáo. Rồi đến trưa, vua nói như sau: "Này các Ông, người ấy ra
sao?" -- "Tâu Ðại vương, nó vẫn còn sống". Rồi vua lại nói như sau về tên
trộm cướp ấy: "Này các Ông, hãy đi và vào buổi trưa, hãy đâm người này với
một trăm ngọn giáo". Và vào buổi trưa, họ đâm người ấy với một trăm ngọn
giáo. Rồi đến chiều, vua nói như sau: "Này các Ông, người ấy ra sao?" --
"Tâu Ðại vương, nó vẫn còn sống". Rồi vua lại nói như sau về người kia: "Này
các Ông, vào buổi chiều, họ đâm người này với một trăm ngọn giáo". Và vào
buổi chiều, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo.
Này các Tỷ-kheo, Ông nghĩ thế nào? Người ấy bị đâm ba trăm ngọn giáo, do
nhân duyên ấy, có cảm thọ khổ ưu không?
-- Bạch Thế Tôn, chỉ bị ngọn giáo đâm một lần, người kia do nhân duyên ấy
cũng cảm thấy khổ ưu, còn nói gì đến ba trăm ngọn giáo!
Rồi Thế Tôn lượm lên một hòn đá nhỏ, lớn bằng bàn tay và nói với các
Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì lớn hơn, hòn đá này, to
bằng bàn tay do ta lượm lên, hay núi Tuyết Sơn (Himalaya), vua các loại núi?
-- Thật là quá nhỏ, bạch Thế Tôn, hòn đá này lớn bằng bàn tay do Thế Tôn
lượm lên. So sánh với Tuyết Sơn vua các loại núi, nó không đáng kể gì, nó
không bằng một phần ngàn vạn lần (của núi Tuyết) nó không thể so sánh được!
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy bị đâm bởi ba trăm ngọn giáo, do
nhân duyên ấy cảm thọ khổ ưu. Khổ ưu ấy so sánh với khổ ưu ở Ðịa ngục không
đáng kể gì, không bằng một phần ngàn vạn lần, không thể so sánh được. Này
các Tỷ-kheo, các người giữ địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm
cọc (pancavidhabandhanam). Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ
lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng
vào bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc
sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau
đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến
khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy búa
chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc
liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy
chưa được tiêu trừ.
Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía
trên, đầu phía dưới và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa
được tiêu trừ.
Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục cột người ấy vào một chiếc xe,
kéo người ấy chạy tới chạy lui trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn,
cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục đẩy người ấy lên kéo người ấy
xuống trên một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ
rực. Người ấy ở đây cảm thọ... chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía
trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ,
cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước
sôi sùng sục, ở đây bị nấu với vạc nước sôi sùng sục; khi thì nổi lên trên,
khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các
cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh
chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỷ-kheo, những người giữ Ðịa ngục quăng người ấy vào Ðại địa
ngục. Này các Tỷ-kheo, Ðại địa ngục ấy, có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần
bằng nhau; xung quanh có tường sắt; mái sắt lợp lên trên. Nền Ðịa ngục bằng
sắt nung đỏ, cháy đỏ rực; đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần.
Này các Tỷ-kheo, với rất nhiều pháp môn, Ta nói về Ðịa ngục, nhưng thật
khó nói cho được đầy đủ, này các Tỷ-kheo, vì đau khổ ở Ðịa ngục quá nhiều.
(Cõi thú)
Này các Tỷ-kheo, có những loại sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở,
ăn cỏ. Chúng ăn những cỏ ướt và khô, với răng nhai nghiền, cỏ ấy. Này các
Tỷ-kheo, những sanh vật ấy thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn cỏ là gì?
Các loại ngựa, trâu, bò, lừa, dê, nai hay các sanh vật khác, thuộc loại bàng
sanh, có hơi thở, ăn cỏ. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia hưởng
thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp, ở đây, sau khi thân hoại mạng
chung, sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy, những loại hữu tình ăn cỏ.
Này các Tỷ-kheo, có các sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn
phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới, nghĩ rằng: "Chúng
ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây". Ví như các Bà-la-môn chạy đến, ngửi
được mùi lễ tế sanh, nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở
đây". Cũng vậy này các Tỷ-kheo, có các loại sanh vật, thuộc loại bàng sanh,
có hơi thở, và ăn phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới,
nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây". Và này các Tỷ-kheo,
các sanh vật ấy, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn phân là gì? Các loại
gà, heo, chó, chó rừng (giả can), hay tất cả các sanh vật khác, thuộc loại
bàng sanh, có hơi thở, ăn phân. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia
hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại
mạng chung sanh ra cọng trú với các loại hữu tình ấy, những loại hữu tình ăn
phân.
Này các Tỷ-kheo, có các loại sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở,
sanh ra trong bóng tối, già trong bóng tối và chết trong bóng tối. Này các
Tỷ-kheo, những sanh vật ấy, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong
bóng tối, già trong bóng tối và chết trong bóng tối là gì? Các loại côn
trùng, con sùng, con dòi, con sâu đôm đốm và các loại sanh vật khác thuộc
loại bàng sanh, có hơi thở, sống trong bóng tối. Này các Tỷ-kheo, người ngu
ấy do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau
khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy tức là
các loại hữu tình sinh ra trong bóng tối, già trong bóng tối, chết trong
bóng tối.
Này các Tỷ-kheo, có những sanh vật, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở,
sinh ra trong nước, già trong nước, chết trong nước. Và này các Tỷ-kheo, các
sanh vật ấy thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong nước, già trong
nước, chết trong nước là gì? Các loại cá, rùa, cá sấu, hay các sanh vật
khác, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong nước, già trong nước,
chết trong nước. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy, do trước kia hưởng thọ ở
đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung sanh
ra cọng trú với các loài hữu tình ấy, tức là các loài hữu tình sanh ra trong
nước, già trong nước, chết trong nước.
Này các Tỷ-kheo, có các sanh vật thuộc loài bàng sanh, có hơi thở, sanh
ra trong bất tịnh, già trong bất tịnh, chết trong bất tịnh. Và này các
Tỷ-kheo, các sanh vật ấy, các loại thuộc bàng sanh, có hơi thở, sanh ra
trong bất tịnh, già trong bất tịnh, chết trong bất tịnh là gì? Này các
Tỷ-kheo, các loài hữu tình nào sanh ra trong cá thúi hay già trong cá thúi,
hay chết trong cá thúi, hay trong tử thi thúi, hay trong đồ ăn thúi, hay
trong vũng nước, hay sinh ra trong đầm nước (nhớp)... già... hay chết trong
đầm nước (nhớp). Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy, do trước kia hưởng thọ ở
đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung,
sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy, tức là các loài hữu tình sanh ra
trong bất tịnh, già trong bất tịnh, chết trong bất tịnh.
Này các Tỷ-kheo, với rất nhiều pháp môn, Ta nói về các loại bàng sanh,
nhưng thật khó nói cho được đầy đủ, này các Tỷ-kheo, vì đau khổ ở loài bàng
sanh quá nhiều.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc cây có một cái lỗ trên
biển, một ngọn gió từ phương Ðông thổi nó trôi qua phía tây; một ngọn gió từ
phương Tây thổi nó trôi qua phía đông; một ngọn gió từ phương Bắc thổi nó
trôi qua phía nam; một ngọn gió từ phương Nam thổi nó trôi qua phía bắc. Rồi
có một con rùa mù, cứ một trăm năm mới trồi đầu lên một lần. Này các
Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Con rùa mù ấy có thể đút cổ nó vào trong lỗ
cây này được không?
-- Nếu có được chăng nữa, bạch Thế Tôn, thời chỉ được một lần, sau một
thời gian rất lâu dài.
-- Còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy có thể chui cổ vào khúc
cây có lỗ hổng kia; nhưng này các Tỷ-kheo, ta tuyên bố rằng còn khó hơn được
làm người trở lại, một khi người ngu bị rơi vào đọa xứ. Vì sao vậy? Vì ở
đấy, này các Tỷ-kheo, không có pháp hành, an tịnh hành, thiện hành, phước
hành. Này các Tỷ-kheo, ở đây chỉ có ăn lẫn nhau và ăn thịt kẻ yếu.
Và này các Tỷ-kheo, nếu người ngu ấy sau một thời gian rất lâu dài, có
được làm người trở lại, thời người ấy sẽ sanh trong gia đình thấp hèn, trong
gia đình hạ cấp, trong gia đình kẻ đi săn, trong gia đình kẻ đan tre, trong
gia đình người làm xe, hay trong gia đình người đổ phân, trong những gia
đình nghèo khốn, không đủ để uống hay để ăn, cho đến miếng vải che lưng cũng
khó tìm được. Lại nữa, người ấy thô xấu, khó nhìn, lùn thấp, hay bệnh, mù
hay có tật, què hay bị bại, người ấy không có thể được các đồ ăn, đồ uống,
vải xa, vòng hoa, hương liệu, giường nằm, chỗ trú xứ và ánh sáng. Người ấy
hành thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; vì hành thân ác hành, khẩu ác
hành, ý ác hành; sau khi thân hoại mạng chung, sinh ra trong cõi dữ, ác thú,
đọa xứ, Ðịa ngục.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đánh bạc, trong canh đổ bạc đầu tiên,
mất con, mất vợ, mất tất cả tài sản, lại cuối cùng phải tù tội. Nhưng này
các Tỷ-kheo, còn nhỏ bé canh đổ bạc ấy, do canh đổ bạc đầu tiên này, người
ấy mất con, mất vợ, mất tất cả tài sản, lại cuối cùng phải tù tội. Và canh
bạc này to lớn hơn, với canh bạc ấy người ngu, do thân ác hành, khẩu ác
hành, ý ác hành, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú,
đọa xứ, Ðịa ngục. Này các Tỷ-kheo, đây là địa xứ hoàn toàn viên mãn của kẻ
ngu.
(Người Hiền trí)
Này các Tỷ-kheo, có ba đặc điểm, đặc tướng, và đặc ấn này của người trí.
Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người trí tư duy thiện tư duy, nói
lời thiện ngữ, và hành các thiện hành. Này các Tỷ-kheo, nếu người trí không
tư duy thiện tư duy, không nói lời thiện ngữ, không hành các thiện hành,
thời làm sao kẻ trí biết được người ấy: "Vị này là người trí, là bậc Chân
nhân"? Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, người trí tư duy thiện tư duy, nói lời
thiện ngữ, hành thiện hành, do vậy người trí biết người ấy: "Vị này là người
có trí, là bậc Chân nhân".
Người trí ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại cảm thọ ba loại lạc
hỷ. Này các Tỷ-kheo, nếu người trí ngồi giữa hội chúng, hay ngồi bên đường
có xe cộ qua lại, hay tại ngã (ba, ngã tư) đường, tại đấy (nếu) có người
nghĩ đến câu chuyện thích hợp về người ấy; nếu người trí, này các Tỷ-kheo,
từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong dâm dục, từ bỏ
nói láo, từ bỏ say rượu men rượu nấu, thời ở đây này các Tỷ-kheo, người trí
ấy suy nghĩ như sau: "Các người ấy nghĩ đến câu chuyện thích hợp về ta, vì
những pháp ấy thật có nơi ta và ta có những pháp ấy". Này các Tỷ-kheo, đây
là loại lạc hỷ thứ nhất, người trí cảm thọ ngay trong hiện tại.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, người trí thấy các vua chúa, sau khi bắt tên
trộm cướp phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi,
họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn... họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây, này các
Tỷ-kheo người trí suy nghĩ như sau: "Do nhân các ác hành như vậy, các vua
chúa sau khi bắt tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng những hình phạt sai
khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy... họ lấy gươm chặt đầu, những pháp
ấy thật không có nơi ta, và ta không có những pháp ấy". Này các Tỷ-kheo, đây
là loại lạc hỷ thứ hai, người trí cảm thọ ngay trong hiện tại.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi người trí leo ngồi trên ghế, hay trên
giường, hay nằm trên đất, lúc bấy giờ những thiện nghiệp người ấy làm từ
trước, như thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành treo nằm, treo áp,
treo đè trên người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, những bóng
các đỉnh núi treo nằm, treo áp, treo đè trên đất; cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
khi người trí ngồi trên ghế hay ngồi trên giường, hay nằm dưới đất, trong
khi các nghiệp quá khứ của người ấy tức là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác
hành treo nằm, treo áp, treo đè trên người ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người
trí suy nghĩ như sau: "Thật sự ta không làm điều ác, không làm điều hung
bạo, không làm điều tội lỗi, lại làm điều phước, làm điều thiện, làm điều
chống sợ hãi. Do không làm điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều
tội lỗi, do làm điều phước, làm điều thiện, làm điều chống sợ hãi, được đi
đến (thiện) thú nào, (thiện) thú ấy sau khi chết, ta được đi". Vị ấy không
sầu muộn, không than van, không than khóc, không đấm ngực, rên la và rơi vào
bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây là sự lạc hỷ thứ ba, ngay trong hiện tại
người trí được cảm thọ.
Này các Tỷ-kheo, kẻ trí kia sau khi làm thân thiện hành, sau khi làm khẩu
thiện hành, sau khi làm ý thiện hành, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra
trong thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói một
cách đúng đắn về vị ấy phải nói rằng vị ấy hoàn toàn tốt đẹp, hoàn toàn khả
ái, hoàn toàn thích ý. Cũng như muốn nói một cách đúng đắn về Thiên giới
phải nói rằng Thiên giới hoàn toàn tốt đẹp, hoàn toàn khả ái, hoàn toàn
thích ý. Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, cho đến một ví dụ cũng không dễ gì,
vì rất nhiều là sự (an) lạc của Thiên giới,
(Cõi Thiên)
Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể làm cho con một ví dụ được không?
-- Có thể được, này Tỷ-kheo. Ví như, này các Tỷ-kheo, vị vua Chuyển luân
có đầy đủ bảy món báu và bốn như ý đức, do nhân duyên ấy cảm thọ lạc hỷ. Thế
nào là bảy?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vua Sát đế lỵ, đã làm lễ quán đảnh, vào ngày
Bố-tát trăng rằm sau khi gội đầu, lên cao điện để trai giới, thời Thiên luân
báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xa, với vành xe, trục xe, đầy đủ mọi bộ phận.
Thấy vậy, vua Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh suy nghĩ: "Ta nghe như vầy: Khi
một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh vào ngày Bố-tát trăng rằm, sau khi
gội đầu, lên cao điện để trai giới, nếu có Thiên luân báu hiện ra, đủ một
ngàn cọng xe, với vành xe và trục xe, đầy đủ mọi bộ phận, thời vị vua ấy là
Chuyển luân vương. Như vậy ta có thể là Chuyển luân vương".
Này các Tỷ-kheo, rồi vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, từ chỗ ngồi đứng
dậy, đắp thượng y trên một vai, tay trái cầm bình nước và với tay phải rưới
nước trên xe báu và nói: "Này xe báu hãy lăn khắp. Này xe báu hãy chinh
phục!" Và này các Tỷ-kheo, xe báu lăn về hướng Ðông và vua Sát-đế-lỵ đã làm
lễ quán đảnh cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Và này các Tỷ-kheo,
chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, an trú
cùng với bốn loại binh chủng.
Này các Tỷ-kheo, các địch vương ở phương Ðông đến yết kiến vua Sát-đế-lỵ
đã làm lễ quán đảnh, và nói: "Hãy đến đây, Ðại vương!" Hoan nghênh, đón mừng
Ðại vương! Tâu Ðại vương, tất cả đều thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn
cho chúng tôi!"
Vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, nói rằng: "Không được sát sanh. Không
được lấy của không cho. Không được tà dâm. Không được nói láo. Không được
uống rượu. Hãy ăn uống cho thích nghi".
Này các Tỷ-kheo, tất cả địch vương ở phương Ðông đều trở thành chư hầu
vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, rồi xe báu ấy lặn xuống biển lớn ở phương Ðông rồi nổi
lên và lặn về phương Nam... lặn xuống biển lớn ở phương Nam, rồi nổi lên và
lặn về phương Tây... lặn xuống biển lớn ở phương Tây.. , rồi nổi lên và lặn
về phương Bắc và vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cùng với bốn loại binh
chủng đi theo sau. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua
Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh an trú cùng với bốn loại binh chủng.
Này các Tỷ-kheo, các địch vương ở phương Bắc đến yết kiến vua Sát-đế-lỵ
đã làm lễ quán đảnh và nói: "Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh, đón mừng
Ðại vương! Tâu Ðại vương; tất cả đều thuộc của Ngài, tất cả đều thuộc của
Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!"
Này các Tỷ-kheo, tất cả địch vương ở phương Bắc đều trở thành chư hầu vua
Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, xe báu ấy sau khi chinh phục trái đất cho đến hải biên,
liền trở về kinh đô Ku-savati, và đứng trước pháp đình, trên cửa nội cung
như một trang bảo cho nội cung của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Này
các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện của xe báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, voi báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh, thuần trắng, bảy xứ kiên cường, có thần lực, phi hành trên hư
không và tên là Uposatha (Bố-tát). Thấy (voi báu), vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh, sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: "Lành thay được cỡi con voi này, nếu nó
chịu sự điều ngự" Và này các Tỷ-kheo, như một con hiền tượng quý phái chịu
sự điều ngự lâu ngày, con voi báu ấy tự đến để chịu điều ngự. Này các
Tỷ-kheo, thuở xưa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, để thử voi báu này,
sáng sớm cỡi voi đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô
Kusavati kịp giờ ăn sáng. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện voi báu
của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ngựa báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh, thuần trắng, đầu đen như quạ, bờm ngựa màu đen, có thần lực, phi
hành trên hư không và tên là Valahaka. Thấy (ngựa báu), vua Sát-đế-lỵ đã làm
lễ quán đảnh, sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: "Tốt đẹp thay được cỡi con ngựa này
nếu nó chịu sự điều ngự". Và này các Tỷ-kheo, như một con hiền mã quý phái,
chịu sự điều ngự lâu ngày, con ngựa báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này
các Tỷ-kheo, thuở xưa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh để thử con ngựa báu
này, sáng sớm liền cỡi ngựa, đi khắp quả đất cho đến hải biên, rồi về lại
kinh đô Kusavati kịp giờ ăn sáng. Này các Tỷ-kheo, như vậy là xuất hiện ngựa
báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, châu báu lại xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm
lễ quán đảnh. Châu báu ấy là lưu ly châu, sáng suốt, thuần chất, có tám mặt,
khó dũa, khó mài, thanh tịnh, trong suốt, hoàn hảo mọi phương diện. Này các
Tỷ-kheo, hào quang châu báu này chiếu sáng cùng khắp một do tuần. Này các
Tỷ-kheo, thuở xưa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh để thử châu báu này đã
cho dàn bày bốn binh chủng, đặt bảo châu cao trên quân kỳ và có thể tiến
quân trong đêm tối âm u. Này các Tỷ-kheo, mọi người trong làng ở xung quanh
đều bắt đầu làm việc, tưởng rằng trời đã sáng rồi. Này các Tỷ-kheo, như vậy
là sự xuất hiện châu báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, nữ báu lại xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán
đảnh, mỹ miều, khả ái, cử chỉ đoan trang, màu da tuyệt mỹ, không quá cao,
không quá thấp, không béo, không gầy, không quá đen, không quá trắng, vượt
trên dung sắc loài Người, ánh sáng bằng dung sắc chư Thiên. Này các Tỷ-kheo,
thân xác nữ báu này là (êm mịn) như bông, như nhung. Này các Tỷ-kheo, khi
trời lạnh, chân tay nữ báu này trở thanh ấm áp; khi trời nóng, trở thành
lạnh mát. Này các Tỷ-kheo, thân nữ báu tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng tỏa mùi
thơm hoa sen. Này các Tỷ-kheo, nữ báu này dậy trước và đi ngủ sau vua
Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, mọi hành động làm vua thỏa thích, yên lành
khả ái. Này các Tỷ-kheo, nữ báu này không có môt tư tưởng nào bất tín đối
với vua Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, huống nữa là về thân thể. Này các
Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện nữ báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán
đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cư sĩ báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh, chứng được thiên nhãn, do nghiệp dị thục sanh và nhờ thiên nhãn
này có thể thấy châu báu chôn cất có chủ hay không có chủ. Cư sĩ báu này đến
vua Sát-đế-lỵ đã làm quán đảnh và nói:
-- "Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ xử lý thích nghi tài
sản Ðại vương".
Này các Tỷ-kheo, thuở xưa vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, muốn thử cư
sĩ báu này, liền cỡi thuyền, chèo ra giữa sông Hằng và bảo cư sĩ báu:
"- Này cư sĩ, ta cần vàng.
"- Tâu Ðại vương, hãy cho chèo thuyền gần bờ nào cũng được.
"- Này cư sĩ, ta cần vàng ngay tại đây.
Này các Tỷ-kheo, khi ấy cư sĩ báu thọc hai tay xuống nước nhắc lên một
ghè đầy cả vàng ròng rồi tâu với vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh:
"- Tâu Ðại vương, như vậy đã đủ chưa? Tâu Ðại vương, làm như vậy đã được
chưa?"
Vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh trả lời:
"- Này Cư sĩ, như vậy là đủ. Này Cư sĩ, làm như vậy là được rồi. Này Cư
sĩ, cúng dường như vậy là được rồi".
Này các Tỷ-kheo, như vâĩy là sự xuất hiện cư sĩ báu của vua Sát-đế-lỵ đã
làm lễ quán đảnh.
Lai nữa, này các Tỷ-kheo, tướng quân báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã
làm lễ quán đảnh, có học thức, thông minh, sáng suốt, có khả năng khuyến cáo
vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, khi đáng tiến thì tiến, khi đáng lùi thì
lùi, khi đáng dừng thì dừng:
Vị này đến tâu vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh:
"- Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ cố vấn Ðại vương".
Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện tướng quân báu của vua Sát-đế-lỵ
đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh có đầy đủ bảy báu như
vậy.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh có đầy đủ bốn
như ý đức. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đẹp trai, khả ái, cử
chỉ thanh lịch, sắc diện tuyệt luân, thấy xa hơn mọi người. Này các Tỷ-kheo,
đó là như ý đức thứ nhất của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, lại nữa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh sống lâu,
tuổi thọ thắng xa các người khác. Này các Tỷ-kheo, đó là như ý đức thứ hai
của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh ít bệnh tật,
ít tai ương thể nhiệt không quá lạnh, không quá nóng, được quân phân để điều
hòa sự tiêu hóa, thắng xa các người khác. Nụày các Tỷ-kheo, đó là như ý đức
thứ ba của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh được các
Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này các Tỷ-kheo, như người cha được
các người con ái kính và yêu mến; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ
đã làm lễ quán đảnh được các Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này
các Tỷ-kheo, các vị Bà-la-môn và Gia chủ được vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán
đảnh ái kính và yêu mến. Này các Tỷ-kheo, như những người con được người cha
ái kính và yêu mến; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn và Gia chủ được
vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh ái kính và yêu mến. Thuở xưa, này các
Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đi đến hoa viên cùng với bốn loại
binh chủng. Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn và Gia chủ đến vua Sát-đế-lỵ đã
làm lễ quán đảnh và tâu rằng:
"- Tâu Ðại vương, hãy cho đi chậm chậm để chúng tôi có thể chiêm ngưỡng
lâu dài hơn. ".
Này các Tỷ-kheo nhưng vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh lại ra lệnh cho
người đánh xe:
"- Này anh Ðánh xe, hãy đánh xe chậm chậm đủ để ta có thể thấy các vị
Bà-la-môn và Gia chủ lâu dài hơn".
Này các Tỷ-kheo, như vậy là như ý đức thứ tư của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ
quán đảnh.
Và này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh suy nghĩ: "Nay ta
hãy cho xây những hồ sen giữa các hàng cây tala, cứ cách khoảng một trăm
cung tầm!"
Này các Tỷ-kheo, vua Chuyển luân có đầy đủ bốn như ý đức này.
Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Vua Chuyển luân, đầy đủ bảy món
báu và bốn như ý đức; do nhân duyên ấy, có cảm thọ lạc hỷ không?
-- Bạch Thế Tôn, vua Chuyển luân chỉ đầy đủ một món báu, do nhân duyên
ấy, có cảm thọ lạc hỷ; còn nói gì đầy đủ bảy món báu và bốn như ý đức.
Rồi Thế Tôn lượm lên một hòn đá nhỏ, lớn bằng bàn tay và nói với các
Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì lớn hơn? Hòn đá này, to
bằng bàn tay do Ta lượm lên hay núi Tuyết Sơn, vua các loại núi?
-- Thật là quá nhỏ, bạch Thế Tôn là hòn đá này, lớn bằng bàn tay, do Thế
Tôn lượm lên, so sánh với Tuyết Sơn vua các loại núi, nó không đáng kể gì,
nó không bằng một phần ngàn vạn lần (của núi Tuyết), nó không thể so sánh
được.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vua Chuyển luân với bảy món báu và bốn như
ý đức, do nhân duyên ấy cảm thọ lạc hỷ, lạc hỷ ấy so sánh với Thiên lạc
không đáng kể gì, không bằng một phần ngàn vạn lần, không thể so sánh được.
Này các Tỷ-kheo, người có trí ấy, nếu sau một thời gian rất lâu dài, được
sinh làm người, người ấy sẽ sinh ra trong một gia đình cao quí Sát-đế-lỵ đại
gia, hay Bà-la-môn đại gia, hay Cư sĩ đại gia giàu có, tài sản nhiều, tài
nguyên nhiều, vàng và bạc phong phú, tài vật phong phú, lúa thóc phong phú.
Hơn nữa, vị ấy đẹp trai, khả ái, dễ thương, đầy đủ dung sắc tối thượng. Vị
ấy nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, giường,
trú xứ và ánh sáng. Vị ấy sống với thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện
hành. Sống với thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, sau khi thân
hoại mạng chung, vị ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đánh bạc, chính trong canh bạc thứ
nhất (đổ xúc sắc) được tiền bạc rất nhiều. Thật là quá nhỏ, này các Tỷ-kheo,
là canh bạc ấy, nhờ canh bạc đầu tiên này người đánh bạc ấy được tiền bạc
rất nhiều. Lớn hơn canh bạc ấy là canh bạc nhờ đó người trí sau khi hành
thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, sau khi thân hoại mạng
chung, sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, đây là
địa vức hoàn toàn viên mãn của bậc có trí.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn
dạy.