KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
137. KINH PHÂN BIỆT SÁU XỨ
(Salàyatanavibhanga Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá
ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các
Tỷ-kheo" --"Bạch Thế Tôn". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói
như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông phân biệt sáu xứ. Hãy lắng
nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Có sáu nội xứ cần phải biết. Có sáu ngoại xứ cần phải biết. Có sáu
thức thân cần phải biết. Có sáu xúc thân cần phải biết. Có mười tám ý hành
cần phải biết. Có ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết. Tại đây, do y cứ
cái này, đoạn tận cái này, có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và
có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ
chúng. Trong các bậc Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là bậc Vô thượng Ðiều ngự
sư, điều phục các hạng người đáng được điều phục. Ðây là tổng thuyết về phân
biệt sáu xứ.
Khi được nói đến "Sáu nội xứ cần phải biết", do duyên gì, được nói đến
như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến:
"Sáu nội xứ cần phải biết", chính do duyên này, được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Sáu ngoại xứ cần phải biết", do duyên gì, được nói đến
như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói
đến: "Sáu ngoại xứ cần phải biết", chính do duyên này, được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Sáu thức thân cần phải biết", do duyên gì, được nói đến
như vậy? Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Khi
được nói đến: "Sáu thức thân cần phải biết", chính do duyên này, được nói
đến như vậy.
Khi được nói đến "Sáu xúc thân cần phải biết", do duyên gì được nói đến
như vậy? Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Khi được nói
đến: "Sáu xúc thân cần phải biết", chính do duyên này, được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Mười tám ý hành cần phải biết", do duyên gì được nói
đến như vậy? Sau khi mắt thấy sắc, (ý) chạy theo sắc trú xứ của hỷ, chạy
theo sắc trú xứ của ưu, chạy theo sắc trú xứ của xả; sau khi tai nghe
tiếng... ; sau khi mũi ngửi hương... sau khi lưỡi nếm vị... sau khi thân cảm
xúc... sau khi ý nhận thức pháp, ý chạy theo pháp khởi lên hỷ chạy theo pháp
khởi lên ưu, chạy theo pháp khởi lên xả. Như vậy, có sáu hỷ hành, có sáu ưu
hành, có sáu xả hành. Khi được nói đến "Mười tám ý hành cần phải biết",
chính do duyên này, được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết", do duyên gì,
được nói đến như vậy? Sáu hỷ liên hệ tại gia, sáu hỷ liên hệ xuất ly, sáu ưu
liên hệ tại gia, sáu ưu liên hệ xuất ly, sáu xả liên hệ tại gia, sáu xả liên
hệ xuất ly.
Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ tại gia? Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận
được hay thấy sự nhận được các sắc do con mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả
lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận được về
trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ
tại gia. Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận được hay thấy sự nhận được các tiếng
do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận
thức... các xúc do thân nhận thức... các pháp do ý nhận thức, khả ái, khả
hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận
được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ
liên hệ đến tại gia. Sáu hỷ này liên hệ đến tại gia.
Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết các sắc pháp
là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: "Các sắc pháp xưa
kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại".
Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như
vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sau khi biết được các tiếng... các
hương... các vị... các xúc... các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến
diệt và nghĩ rằng: "Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp
là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí
tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sáu
hỷ này liên hệ đến xuất ly.
Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ tại gia? Có ưu khởi lên; hoặc do không
nhận được hay thấy sự không nhận được các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả
hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì không
nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu như vậy được gọi
là ưu liên hệ tại gia. Có ưu khởi lên, hoặc do không nhận được hay thấy sự
không nhận được các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức...
các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận thức... các pháp do ý nhận
thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được
những gì không nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu
như vậy được gọi là ưu liên hệ đến tại gia. Sáu ưu này liên hệ đến tại gia.
Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết được các sắc
pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: "Các sắc pháp
xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến
hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước
muốn đối với vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: "Khi nào ta có thể chứng đạt
và an trú trong xứ (ayatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?" Như
vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước
muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các
tiếng... các hương... các vị... các xúc... các pháp là vô thường, biến hoại,
ly dục, biến diệt và nghĩ rằng: "Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất
cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi sự thật thấy như vậy với
chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với các vô thượng giải thoát,
nghĩ rằng: "Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (ayatana) mà các
bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?" Như vậy, do ước muốn đối với các vô
thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi
là ưu liên hệ xuất ly. Sáu ưu này liên hệ xuất ly.
Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ tại gia? Khi một người ngu si, ám độn,
phàm phu thấy sắc với con mắt, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không
chinh phục được (phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy
sự nguy hiểm. Loại xả như vậy không vượt khỏi sắc pháp. Do vậy, đây được gọi
là xả liên hệ tại gia. Khi một người ngu si, ám độn, phàm phu nghe tiếng với
tai... ngửi hương với mũi... nếm vị với lưỡi... cảm xúc với thân... nhận
thức pháp với ý, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không chinh phục được
(phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy sự nguy hiểm.
Loại xả như vậy không vượt khỏi các pháp. Do vậy, đây được gọi là xả liên hệ
tại gia. Sáu xả này liên hệ tại gia.
Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ xuất ly? Sau khi biết sắc pháp là vô
thường, biến hoại, ly tham, biến diệt, nghĩ rằng: "Các sắc pháp xưa kia và
sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại". Sau khi
như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi lên. Loại xả như vậy được
gọi là xả liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các tiếng... các hương... các
vị... các xúc... các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt, nghĩ
rằng: "Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường,
khổ, biến, hoại". Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi
lên. Loại xả như vậy được gọi là xả liên hệ xuất ly. Sáu xả này liên hệ xuất
ly.
Khi được nói đến "Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết", chính do
duyên này, được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Ở đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này", do duyên gì,
được nói đến như vậy? Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ do duyên sáu hỷ liên
hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn
tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ,
do duyên sáu ưu liên hệ xuất ly; đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ tại gia.
Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các
Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu xả
liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại
đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận,
vượt qua sáu ưu liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt
qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả liên hệ xuất ly,
đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là
sự vượt qua chúng.
Này các Tỷ-kheo, có xả đa diện, y cứ đa diện; có xả nhứt diện, y cứ nhứt
diện. Này các Tỷ-kheo, thế nào là xả đa diện, y cứ đa diện? Này các Tỷ-kheo,
có xả đối với các sắc pháp, có xả đối với các tiếng, có xả đối với các
hương, có xả đối với các vị có xả đối với các xúc. Như vậy, này các Tỷ-kheo
là xả đa diện, y cứ đa diện. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả nhứt diện, y
cứ nhứt diện? Có xả y cứ Hư không vô biên xứ, có xả y cứ Thức vô biên xứ, có
xả y cứ Vô sở hữu xứ, có xả y cứ Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này
các Tỷ-kheo là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Ở đây, này các Tỷ-kheo, do y
cứ, do duyên xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện, đoạn tận vượt qua xả đa diện,
xả y cứ đa diện. Như vậy là sự đoạn tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua
(xả) này. Này các Tỷ-kheo, do y cứ không tham dục, do duyên không tham dục,
đoạn tận, vượt qua xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện ấy. Như vậy là sự đoạn
tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua (xả) này. Khi được nói đến "Tại đây do
y cứ cái này, đoạn tận cái này", chính do duyên này, được nói đến như vậy.
Khi được nói đến: "Có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có
thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ
chúng", do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo
sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì
thương tưởng họ, nói rằng: "Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho
các Ông". Một số đệ tử của bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng
tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của
bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm
giác hoan hỷ, nhưng sống không có dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các
Tỷ-kheo, đây là niệm xứ thứ nhất, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực
hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng
từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: "Ðây là
hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông". Một số đệ tử bậc Ðạo sư
ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí,
và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Có một số đệ tử khéo nghe,
lóng tai, an trú tâm vào chánh trí, và không hành động ngược lại lời dạy của
bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm
giác hoan hỷ, không có không hoan hỷ, không có cảm giác không hoan hỷ; sau
khi đoạn bỏ cả hai, hoan hỷ và không hoan hỷ, Như Lai trú xả, chánh niệm,
tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ hai, một bậc Thánh phải thực
hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn
giảng đồ chúng.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có bậc Ðạo Sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì
lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: "Ðây
là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông". Ðệ tử của bậc Ðạo Sư
ấy khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí và không đi ngược lời dạy
của bậc Ðạo Sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như lai hoan hỷ, và cảm giác hoan
hỷ, sống không dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm
xứ thứ ba, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc
Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho đồ chúng.
Khi được nói đến "Có ba niệm xứ, một bậc Thánh phải thực hành, và có
(thực hành) niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng đáng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho
đồ chúng", chính do duyên này, được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là vị Vô
thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng được điều phục", do duyên gì
được nói đến như vậy? Này các Tỷ-kheo, một con voi được điều phục do một vị
điều ngự tượng sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây,
phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con ngựa được điều phục do
một vị điều ngự mã sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương
Tây, phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con bò được điều phục
do một vị điều ngự sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương
Tây, phương Bắc hay phương Nam.
Này các Tỷ-kheo, một người được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh
Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp cả tám phương.
Có sắc, thấy các sắc pháp; đó là phương thứ nhất. Không có tưởng nội sắc,
thấy các ngoại sắc; đó là phương thứ hai. Nghĩ đến thanh tịnh, chú tâm trên
ấy; đó là phương thứ ba. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, diệt trừ
đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng; và nghĩ rằng "Hư không là vô
biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ; đó là phương thứ tư. Vượt qua
một cách hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng đạt
và an trú Thức vô biên xứ; đó là phương thứ năm. Vượt qua một cách hoàn toàn
Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có gì cả", chứng đạt và an trú Vô sở hữu
xứ; đó là phương thứ sáu. Vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ; chứng
đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là phương thứ bảy. Vượt qua một
cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ
tưởng (định); đó là phương thứ tám.
Này các Tỷ-kheo, một người đáng được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán,
Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp tám phương này.
Khi được nói đến "Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là Vô thượng
Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng điều phục", chính do duyên này, được
nói đến như vậy.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế
Tôn dạy.