KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
139. KINH VÔ TRÁNH PHÂN BIỆT
(Aranavibhanga Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh
xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Bạch Thế Tôn".
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông Vô tránh phân biệt. Hãy nghe
và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc
Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh,
đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan
ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác
thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán
và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích,
không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp. Nên biết phán xét về
lạc. Sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc. Không nên nói
lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng. Nên nói
thật từ từ, không có vội vàng. Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi
quá xa ngôn ngữ thường dùng. Như vậy là tổng thuyết về vô tránh phân biệt.
Khi được nói đến "Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu,
không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự
kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích", do
duyên gì được nói đến như vậy?
Phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm
phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy là có đau
khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm lạc gì liên
kết với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không
xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không
có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo.
Phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh nào, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không
liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt
não, thuộc tà đạo. Phàm không hành trì khổ hạnh nào, đau khổ không xứng bậc
Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền
lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo".
Khi được nói đến "Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, không xứng
bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ
hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích", chính do duyên
này, được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được
Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí,
giác ngộ, Niết-bàn", do duyên gì được nói đến như vậy? Ðây là con đường
Thánh tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Khi được nói đến
"Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác
thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn",
chính do duyên này, được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết
tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên
thuyết pháp", do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, thế nào là tán thán, thế nào là chỉ trích, nhưng không
thuyết pháp? Vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: "Những ai tìm thấy
lạc liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không
xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những người ấy có đau khổ, có
phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo". Vị ấy tán thán một số
người và nói như sau: "Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không
đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên
hệ mục đích, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không
có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo".
Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: "Những ai đam mê hành
trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích,
tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não,
thuộc về tà đạo". Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: "Những
ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh; đau khổ, không xứng bậc Thánh,
không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có
phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo".
Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: "Những ai chưa đoạn
tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não,
có nhiệt não, thuộc tà đạo". Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như
sau: "Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có đau khổ,
không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo".
Như vậy, này các Tỷ-kheo là có tán thán và có chỉ trích nhưng không thuyết
pháp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không có tán thán và không có chỉ trích,
nhưng có thuyết pháp? Vị ấy không nói như sau: "Những ai tìm thấy lạc liên
hệ với dục, nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc
Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có phiền lao,
có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo". Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như
sau: "Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt
não, thuộc tà đạo". Vị ấy không nói: "Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục,
nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh,
tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não,
không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. "Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau:
"Không đam mê là một pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu
não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo".
Vị ấy không nói: "Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không
xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có
phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. "Vị ấy chỉ thuyết pháp và
nói như sau: "Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có
nhiệt não, thuộc tà đạo. "Vị ấy không nói: "Những ai không đam mê hành trì
tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích,
tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu
não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo". Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như
sau: "Sự không đam mê là không đau khổ, pháp này không có phiền lao, không
có ưu não, không có nhiệt não, thuộc về chánh đạo".
Vị ấy không có nói: "Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị
ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não". Vị ấy chỉ thuyết
pháp và nói như sau: "Khi hữu kiết sử chưa đoạn tận, hữu chưa đoạn tận". Vị
ấy không nói như sau: "Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy
không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não.
"Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: "Và khi hữu kiết sử được đoạn tận,
hữu được đoạn tận". Như vậy, này các Tỷ-kheo là không tán thán, không chỉ
trích, nhưng chỉ thuyết pháp.
Khi được nói đến "Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết
tán thán và sau khi biết chỉ trích, chớ có tán thán, chớ có chỉ trích, chỉ
nên thuyết pháp", chính do duyên này được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Nên biết phán xét về lạc; sau khi biết pháp xét về lạc,
nên chú tâm vào nội lạc", do duyên gì được nói đến như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc
pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp
dẫn; các tiếng do tai nhận thức,... ; các hương do mũi nhận thức,... ; các
vị do lưỡi nhận thức... ; các xúc do thân cảm giác, khả ái, khả lạc, khả ý,
khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, như vậy là năm dục trưởng
dưỡng. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và
hỷ, như vậy gọi là dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc. Ta nói loại
lạc này không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn,
nên sợ hãi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng đạt và an
trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Ðình chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc
do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm... Thiền thứ ba...
chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Như vậy gọi là xuất ly lạc, viễn ly lạc,
an tịnh lạc, giác ngộ lạc. Ta nói loại lạc này nên thực hành, nên tu tập,
nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi.
Khi được nói đến "Nên biết phán xét về lạc; sau khi phán xét về lạc, hãy
chú tâm vào nội lạc", do chính duyên này được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai),
không nên nói lời mất lòng", do duyên gì được nói đến như vậy?
Tại đây, này các Tỷ-kheo, biết được một lời bí mật là không thực, hư
vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, chớ nói lên lời bí mật ấy. Và
nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục
đích, hãy tự tập đừng nói lời ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực,
không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời bí mật
ấy.
Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là không thực, hư vọng,
không liên hệ mục đích, nếu có thể được, mặt đối mặt; chớ có nói lên lời nói
mất lòng ấy. Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không
hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tập chớ nói lên lời ấy. Và nếu
biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, có liên
hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời mất lòng ấy.
Khi được nói đến "Không nên nói lên lời bí mật, mặt đối mặt (với ai),
không nên nói lên lời mất lòng", do chính duyên này được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Nên nói thật từ từ, chớ có vội vàng", do duyên gì được
nói đến như vậy?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu nói vội vàng, thời thân mệt mõi, tâm bị tổn
hại, tiếng bị tổn hại và cổ họng bị đau. Lời nói một người vội vàng không
được rõ ràng và không được nhận hiểu.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, nói lời từ từ, thân không mệt mỏi, tâm không
tổn hại, tiếng không tổn hại và cổ họng không bị đau. Lời nói một người nói
từ từ được rõ ràng và được nhận hiểu. Khi được nói đến "Nên nói thật từ từ,
chớ có nói vội vàng ", chính do duyên này được nói đến như vậy.
Khi được nói đến "Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn
ngữ thường dùng, "do duyên gì, được nói đến như vậy? Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ thường dùng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết (những chữ)
Pati... Patta... Vittha.. Sarava.. Dharopa.. Pona... Pisila. Như vậy, như họ
biết trong các quốc độ ấy những chữ là như vậy, như vậy, có người lại làm
như vậy, kiên trì chấp thủ, chấp trước và nói: "Chỉ như vây là sự thật,
ngoài ra là hư vọng". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp trước địa phương
ngữ, là đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không chấp trước địa phương ngữ, không đi
quá xa ngôn ngữ thường dùng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ,
người ta biết những chữ Pati.. Patta... Vittha.. Sarava... Dharopa... Pona..
Pisila.. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy, những chữ là như vậy,
như vậy, một người không chấp thủ mà giải thích: "Các vị ấy y cứ như thế
này, giải thích như vậy. "Như vậy, này các Tỷ-kheo là không chấp trước địa
phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.
Khi được nói đến "Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn
ngữ thường dùng", do chính duyên này được nói đến như vậy.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng có đam mê loại
hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục
đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc
tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì, liên kết với dục, nhưng không có
đam mê loại hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên
hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu
não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không
xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền
lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu
tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm không có hành trì tự kỷ khổ hạnh, không
đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có
đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc
chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, đây là Trung đạo đã được Thế Tôn giác ngộ, tác
thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết - bàn.
Pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có
nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp tán thán và chỉ trích nhưng không thuyết
pháp này, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có phiền não, thuộc
tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp không tán thán, cũng không chỉ trích, chỉ
có thuyết pháp, pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu
não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp dục lạc này là uế lạc, phàm phu lạc, phi
Thánh lạc, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt
não. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc,
pháp này là pháp không đau khổ, không phiền lao, không ưu não, không nhiệt
não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào không thật, hư vọng,
không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu
não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư
vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có
ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư
vọng, có liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau khổ, không có phiền
lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này
là pháp vô tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với
ai), không chân thật, hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có
đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp
này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai)
là chân thật, không hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau
khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này
là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai)
là chân thật, không hư vọng, liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau
khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh
đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách vội
vàng, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà
đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách từ từ,
pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có
nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ
thường dùng, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt
não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, không chấp trước địa phương ngữ và không đi quá
xa ngôn ngữ thường dùng, pháp này là pháp không có đau khổ, không có phiền
lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này
là pháp vô tránh.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu học như sau: "Chúng ta sẽ
biết hữu tránh pháp và chúng ta sẽ biết vô tránh pháp. Sau khi biết hữu
tránh pháp và sau khi biết vô tránh pháp, chúng ta sẽ hành trì vô tránh
đạo". Và này các Tỷ-kheo, Thiện gia nam tử Subhuti (Tu-bồ-đề) đã hành trì vô
tránh pháp.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn
dạy.