KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP III
148. KINH SÁU SÁU
(Chachakka Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm) tại tinh xá
ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo".
-- "Thưa vâng, Bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, sơ thiện, trung thiện,
hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta sẽ nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn,
thanh tịnh, tức là sáu sáu. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
(Tóm lược)
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Sáu nội xứ cần phải được biết. Sáu ngoại xứ cần phải được biết. Sáu
thức thân cần phải được biết. Sáu xúc thân cần phải được biết. Sáu thọ thân
cần phải được biết. Sáu ái thân cần phải được biết.
(Liệt kê)
Khi được nói đến "Sáu nội xứ cần phải được biết", do duyên gì được nói
đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói
đến "Sáu nội xứ cần phải được biết ", chính do duyên này được nói đến như
vậy. Ðây là sáu sáu thứ nhất.
Khi được nói đến "Sáu ngoại xứ cần phải được biết", do duyên gì được nói
đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được
nói đến "Sáu ngoại xứ cần phải được biết", chính do duyên này được nói đến
như vậy. Ðây là sáu sáu thứ hai.
Khi được nói đến "Sáu thức thân cần phải được biết", do duyên gì được nói
đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Do duyên
tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Do duyên mũi và do duyên các
hương, khởi lên tỷ thức. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt
thức. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Do duyên ý và
do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Khi được nói đến "Sáu thức thân cần phải
được biết", chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ ba.
Khi được nói đến "Sáu xúc thân cần phải được biết", do duyên gì được nói
đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ
của ba (pháp này) là xúc. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ
thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên mũi và do duyên các hương
khởi lên tỷ thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên lưỡi và do
duyên các vị khởi lên thiệt thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do
duyên thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp
này) là xúc. Do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của
ba (pháp này) là xúc. Khi được nói đến "Sáu xúc thân cần phải được biết",
chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ tư.
Khi được nói đến "Sáu thọ thân cần phải được biết", do duyên gì được nói
đến như vậy? Do duyên mắt và do duyên các sắc khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ
của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên tai và do duyên các
tiếng khởi lên nhĩ thức... Do duyên mũi và do duyên các hương khởi lên tỷ
thức... Do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt thức... Do duyên
thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức... Do duyên ý và do duyên các
pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc là
thọ. Khi được nói đến "Sáu thọ thân cần phải được biết", chính do duyên này
được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ năm.
Khi được nói đến "Sáu ái thân cần phải được biết", do duyên gì được nói
đến như vậy? Do duyên mắt và duyên các sắc khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của
ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Do duyên tai
và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức... Do duyên mũi và do duyên các
hương khởi lên tỷ thức... Do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt
thức... Do duyên thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức... Do duyên ý
và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do
duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Khi được nói đến "Sáu ái thân cần phải
được biết", chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ sáu.
(Giảng về vô ngã)
Nếu ai nói rằng: "Mắt là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự
diệt của mắt đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải
đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy, nếu ai nói rằng:
"Mắt là tự ngã", như vậy không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã.
Nếu ai nói rằng: "Các sắc là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và
sự diệt của các sắc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các sắc đã
được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do
vậy, nếu ai nói rằng: "Các sắc là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy,
con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã.
Nếu ai nói rằng: "Nhãn thức là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Sự sanh
và sự diệt của nhãn thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn
thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi
tôi". Do vậy, nếu ai nói rằng: "Nhãn thức là tự ngã", như vậy là không hợp
lý. Như vậy con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: "Nhãn xúc là tự ngã, như vậy là không hợp lý. Sự sanh
và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được
thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy,
nếu ai nói rằng: "Nhãn xúc là tự ngã", như vậy, là không hợp lý. Như vậy con
mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: "Thọ là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và
sự diệt của thọ đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được
thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy,
nếu ai nói rằng: "Thọ là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt
là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ
là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: "Ái là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và
sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên
phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy nếu ai nói
rằng: "Ái là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy con mắt là vô ngã,
các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã,
ái là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: "Tai là tự ngã"...; nếu có ai nói rằng: ""Mũi là tự
ngã"...; nếu có ai nói rằng: "Lưỡi là tự ngã"...; nếu có ai nói rằng: "Thân
là tự ngã"...; nếu có ai nói rằng: "Ý là tự ngã", như vậy là không hợp lý.
Sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được
thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy nếu
ai nói rằng: "Ý là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy ý là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: "Các pháp là tự ngã", như vậy, là không hợp lý. Sự
sanh và sự diệt của các pháp đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã
được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do
vậy, nếu ai nói rằng: "Các pháp là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như
vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã. Nếu có ai nói rằng: "Ý thức là tự
ngã", như vậy, là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý thức đã được thấy.
Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã
sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy, nếu ai nói rằng: "Ý thức là tự ngã", như
vậy là không hợp lý. Như vậy ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô
ngã.
Nếu có nói rằng: "Ý xúc là tự ngã ", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và
sự diệt của ý xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên
phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy, nếu có ai
nói rằng: "Ý xúc là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy ý là vô ngã,
các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã.
Nếu có ai nói: "Thọ là tự ngã", như vậy không hợp lý. Sự sanh và sự diệt
của thọ đã dược thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên đưa đến
kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy, nếu có ai nói rằng: "Thọ
là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy ý là vô ngã, các pháp là vô
ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: "Ái là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Vì rằng sự
sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và
diệt ở nơi tôi". Do vậy nếu có ai nói rằng: "Ái là tự ngã", như vậy là không
hợp lý. Như vậy ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là
vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
(Nguồn gốc và đoạn diệt thân kiến)
Này các Tỷ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân
kiến. Ai quán mắt là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã
của tôi". Ai quán các sắc... Ai quán nhãn thức... Ai quán nhãn xúc... Ai
quán thọ... Ai quán ái... Ai quán tai... Ai quán mũi... Ai quán lưỡi... Ai
quán thân... Ai quán ý... Ai quán các pháp... Ai quán ý thức... Ai quán ý
xúc... Ai quán ái: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã
của tôi".
Nhưng này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân
kiến. Ai quán mắt: ""Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là
tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi". Ai quán sắc... Ai quán nhãn
thức... Ai quán nhãn xúc... Ai quán thọ... Ai quán ái... Ai quán tai... Ai
quán mũi... Ai quán lưỡi... Ai quán thân... Ai quán ý... Ai quán các pháp...
Ai quán ý thức... Ai quán ý xúc... Ai quán thọ... Ai quán ái: "Cái này không
phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
(Ba độc tùy miên)
Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự
gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay
bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở
ái trước. Tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu
muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Sân tùy miên của vị
ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự
tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy,
vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không
đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối
với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ,
không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện
tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức...
Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương khởi lên tỷ thức... Này
các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt thức... Này các
Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức... Này các
Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba
(pháp này) là xúc. Do duyên xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất
lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước,
tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ mà sầu muốn, than
van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng.
Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự
đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy
miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham
tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do
không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận
vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người
chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
(Ðoạn tận ba độc)
Này các Tỷ-kheo do duyên mắt và do duyên các sắc khởi lên nhãn thức. Sự
gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay
bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, mà không hoan hỷ, tán thán, trú
ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ,
mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy
miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà như
thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly
khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo,
vị ấy chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy
miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc
thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là
người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức...
Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương khởi lên tỷ thức... Này
các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt thức... Này các
Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức... Này các
Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba
(pháp này) là xúc. Do duyên cảm xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ
bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ mà không hoan hỷ, tán thán, trú ở ái
trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ mà
không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy
miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ mà như thật
biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm
thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy
chính do đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối
với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn
tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm
dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
(Giải thoát)
Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly mắt, yếm ly
các sắc, yếm ly nhãn thức; yếm ly nhãn xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái. Vị ấy yếm
ly tai, yếm ly các tiếng...; yếm ly mũi, yếm ly các hương...; yếm ly lưỡi,
yếm ly các vị...; yếm ly thân, yếm ly các xúc...; yếm ly ý, yếm ly các pháp;
yếm ly ý thức, yếm ly ý xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái.
Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham vị ấy giải thoát. Trong sự giải
thoát là sự hiểu biết: "Ta đã được giải thoát". Và vị ấy tuệ tri: "Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa".
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn
dạy. Trong khi sự thuyết giảng này được nói lên, tâm của sáu mươi Tỷ-kheo ấy
được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ.