KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP I
19. KINH SONG TẦM
(Dvedhàvitakka Sutta)
Tôi nghe như vầy:
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông
Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Chư Tỷ-kheo".
--"Thưa vâng", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như
sau:
-- Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn
là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ta sống suy tư và chia hai suy tầm". Chư
Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần
thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân
thành phần thứ hai.
Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi dục
tầm khởi lên, Ta tuệ tri: "Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa
đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào
phiền não, không đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Dục tầm này
đưa đến tự hại", dục tầm được biến mất, Chư Tỷ-kheo, khi ta suy tư: "Dục tầm
đưa đến hại người", dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Dục
tầm đưa đến hại cả hai", dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư:
"Dục tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn", dục
tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn
tận dục tầm.
Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sân
tầm khởi lên... (như trên)... hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri: "Hại tầm này
khởi lên nơi Ta, và hại tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến
hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn".
Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Hại tầm này đưa đến tự hại"... "Hại tầm diệt
trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn", hại tầm biến mất.
Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận hại tầm.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh
khuynh hướng đối vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều
về dục tầm, vị ấy từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng về dục tầm, thời tâm vị
ấy có khuynh hướng về dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư quán sát
nhiều về sân tầm... (như trên)... về hại tầm, vị ấy từ bỏ vô hại tầm. Khi
tâm đã đặt nặng về hại tầm thời tâm vị ấy có khuynh hướng về hại tầm.
Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu, khi lúa đã trổ
hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm roi đánh các con bò bên này, đánh
bên kia, chế ngự chúng, ngăn chận chúng. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì người
mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa đến sự chết, sự tù tội, sự đánh đập hay
sự trách móc. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta đã thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, sự
uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh
tịnh của các thiện pháp.
Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như
vậy, khi ly dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri như vầy: "Ly dục tầm này khởi lên
nơi Ta và ly dục tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người,
không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não,
đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm Ta suy tư, quán sát (về ly dục
tầm) không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban ngày
Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ
hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm, ban ngày, Ta suy tư, quán sát (về ly dục
tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Và Ta suy tư, quán sát quá
lâu, thân ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động; khi tâm
bị dao động thì tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta
trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì
sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.
Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như
vậy, khi vô sân tầm khởi lên... (như trên)... vô hại tầm khởi lên. Ta tuệ
tri như vậy: "Vô hại tầm này khởi lên nơi Ta và vô hại tầm này không đưa đến
tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí
tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, nếu ban
đêm... không phải từ nhân duyên ấy, mà Ta thấy sợ hãi. Và nếu Ta suy tư,
quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi thân Ta mệt mỏi thì tâm bị dao
động, khi tâm bị dao động, tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự
nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành
định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.
Chư Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vấn đề gì thời tâm
sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán
sát nhiều về ly dục tầm, vị ấy từ bỏ dục tầm. Khi tâm đã đặt nặng về ly dục
tầm, tâm vị ấy có khuynh hướng về ly dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy
tư, quán sát nhiều về vô sân tầm... (như trên)... nếu Tỷ-kheo suy tư, quán
sát nhiều về bất hại tầm, vị ấy từ bỏ hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về bất
hại tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về bất hại tầm.
Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng hè, khi tất cả lúa gạo đã cất vào kho
thóc, một người mục đồng chăn giữ các con bò. Khi người mục đồng ở dưới gốc
cây hay ở ngoài trời, người ấy có thể nghĩ đến có việc cần phải làm, và
người ấy nghĩ: "Ðây là những con bò". Chư Tỷ-kheo, cũng vậy ở đây, có việc
cần phải làm, và Ta nghĩ: "Ðây là những pháp".
Chư Tỷ-kheo, Ta phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không có tiêu cực, niệm
không tán loạn được an trú, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm
được định tĩnh nhất tâm.
Chư Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly ác, bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ
nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ,
Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm
không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự
lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền
thứ ba. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và trú Thiền
thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến
túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời,
bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm
mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều
hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ
kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các
món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này.
Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có
tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như
thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết
tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây". Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá
khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh
diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến
sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự
sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt,
kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do
hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về
lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp
theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào
cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những
thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những
thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các
nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được
sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần
tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng
sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn,
kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.
Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh
diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến
lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: "Ðây là khổ", thắng tri như thật: "Ðây
là nguyên nhân của khổ", thắng tri như thật: "Ðây là khổ diệt", thắng tri
như thật: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt", thắng tri như thật: "Ðây là
những lậu hoặc", thắng tri như thật: "Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc",
thắng tri như thật: "Ðây là các lậu hoặc diệt", thắng tri như thật: "Ðây là
con đường đưa đến các lậu hoặc diệt".
Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát
khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy,
khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: "Sanh đã tận,
phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này
nữa".
Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt,
minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật
nhiệt tâm tinh cần.
Chư Tỷ-kheo, giống như trong khu rừng rậm rạp có một hồ nước lớn thâm
sâu, và một đoàn nai lớn sống gần một bên. Có một người đến, không muốn
chúng được lợi ích, không muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được
an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an toàn, đưa
đến hoan hỷ, người ấy sẽ chận đóng con đường này lại, sẽ mở con đường nguy
hiểm, sẽ đặt con mồi đực, sẽ đặt con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy, sau một
thời gian đoàn nai lớn ấy gặp ách nạn và hao mòn dần. Chư Tỷ-kheo, có một
người đến, muốn đoàn nai ấy được lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn
chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an
toàn, người ấy sẽ mở con đường này, sẽ đóng con đường nguy hiểm lại, sẽ đem
con mồi đực đi, sẽ hủy bỏ con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy đoàn nai lớn ấy
sau một thời gian sẽ được tăng trưởng, hưng thịnh, thành mãn.
Chư Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ ấy để giải thích ý nghĩa như sau: Chư Tỷ-kheo,
hồ nước lớn, thâm sâu chỉ cho các dục. Chư Tỷ-kheo, đoàn nai lớn chỉ cho các
loài hữu tình. Chư Tỷ-kheo, con người không muốn chúng được lợi ích, không
muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn chỉ
cho ác ma. Chư Tỷ-kheo, con đường nguy hiểm chỉ cho con đường tà đạo có tám
ngành, tức là tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh
tấn, tà niệm, tà định. Chư Tỷ-kheo, con mồi đực chỉ cho hỷ và tham. Chư
Tỷ-kheo, con mồi cái chỉ cho vô minh. Chư Tỷ-kheo, còn người muốn chúng được
lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn
chỉ cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Con đường yên ổn, an toàn,
đưa đến hoan hỷ chỉ cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là Chánh tri
kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn,
Chánh niệm, Chánh định.
Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta mở con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ, Ta
đóng con đường nguy hiểm, Ta mang đi con mồi đực, Ta hủy bỏ con mồi cái. Chư
Tỷ-kheo, những gì vị Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì lòng thương tưởng
họ, những điều ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các Người. Chư Tỷ-kheo,
đây là các gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật,
chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta.