KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
|
TẬP II
52. KINH BÁT THÀNH
(Atthakanàgara Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Ananda trú ở Vesali (Tỳ-xá-ly), tại Beluvagàmaka (ấp
Trúc Lâm).
Lúc bấy giờ gia chủ Dasama, người ở thành Atthaka đến tại Pataliputta
(thành Ba-la-lị-phất) có công việc. Rồi gia chủ Dasama, người ở thành
Atthaka (Bát thành) đi đến Kukkutarama (Kê Viên), đến một Tỷ-kheo, đảnh lễ
vị này, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Dasama,
người ở thành Atthaka thưa với Tỷ-kheo ấy:
-- Bạch Tôn giả, Tôn giả Ananda nay an trú ở đâu? Chúng con muốn gặp Tôn
giả Ananda.
-- Này Gia chủ, Tôn giả Ananda nay ở Vesali, tại ấp Beluvagamaka.
Rồi gia chủ Dasama, người ở thành Atthaka, sau khi làm xong công việc ở
Pataliputta, liền đi đến Vesali, ấp Beluvagamaka, đến Tôn giả Ananda, sau
khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống
một bên, gia chủ Dasama người ở thành Atthaka thưa với Tôn giả Ananda:
-- Bạch Tôn giả Ananda, có pháp độc nhất gì do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến
Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, nếu có Tỷ-kheo nào không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần sống hành trì pháp ấy, thời tâm chưa giải thoát của
vị ấy được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ,
hay pháp an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt?
-- Này Gia chủ, có pháp độc nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, nếu có Tỷ-kheo nào không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm chưa giải thoát của vị
ấy được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và
pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt.
-- Bạch Tôn giả Ananda, pháp độc nhất ấy là gì, do Thế Tôn, bậc Tri Giả,
Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, nếu có Tỷ-kheo nào không
phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm chưa giải
thoát của vị ấy được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến
đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt
được chứng đạt?
-- Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú
Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy
suy tư và được biết: "Sơ Thiền này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm
sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường,
chịu sự đoạn diệt". Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu
các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp
này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn
tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp
độc nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
tuyên bố, nên Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành
trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc
chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách
phược chưa được chứng đạt được chứng đạt.
Lại nữa, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ
hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất
tâm, vị ấy suy tư và được biết: "Thiền thứ hai này là pháp hữu vi, do suy tư
tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật
ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt". Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các
lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do
hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh,
nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như
vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần,
sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và
các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn
khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân
cảm sự lạc thọ mà bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền
thứ ba. Vị ấy suy tư và được biết: "Thiền thứ ba này là pháp hữu vi, do suy
tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự
vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt". Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được
các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp
này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa
sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia
chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được
giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô
thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ
trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Vị ấy suy tư và được biết: "Thiền thứ tư này là pháp hữu vi, do suy tư tác
thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành thời sự vật ấy là
vô thường, chịu sự đoạn diệt". Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu
hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do
hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh,
nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như
vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần,
sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và
các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn
khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu
với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ
tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng
khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại,
vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư và được biết: "Từ tâm giải thoát
này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do
suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt". Vị ấy do
vững trú ở đây,đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được
đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được
năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi
phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn bậc
Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy
chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến
đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được
chứng đạt.
Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu
với bi... Với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả; cũng vậy phương
thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp
thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới,
vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận,
không sân. Vị ấy suy tư và được biết: "Xả tâm giải thoát này là pháp hữu vi,
do suy tư tác thành, Phàm sự việc gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành,
thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt". Vị ấy vững trú ở đây, đoạn
trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến
pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được
hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia
chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được
giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô
thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.
Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng
ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: "Hư không là vô
biên", chứng và trú Không vô biên xứ. Vị này suy tư và được biết: "Không vô
biên xứ định này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp
hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn
diệt". Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc
chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn
trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy,
khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do Thế Tôn
bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu Tỷ-kheo
nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị
ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi
đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được
chứng đạt.
Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng:
"Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ. Vị này suy tư và được biết:
"Thức vô biên xứ định này là pháp hữu vi do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì
là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường chịu sự
đoạn diệt". Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu
hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy
đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh
giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất do
Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Nếu
Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy,
thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được
đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa
chứng đạt được chứng đạt.
Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng:
"Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị này suy tư và được biết:
"Vô sở hữu xứ định này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì
là pháp hữu vi, do suy tư tác thành thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự
đoạn diệt". Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu
hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy
đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh
giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Này Gia chủ, như vậy là pháp độc nhất,
do Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố.
Nếu Tỷ-kheo nào, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp
ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát, được giải thoát, và các lậu hoặc chưa
được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa
được chứng đạt được chứng đạt.
Khi được nghe nói vậy, Gia chủ Dasama, người ở thành Atthaka bạch Tôn giả
Ananda:
-- Bạch Tôn giả Ananda, như người tìm một kho tàng cất dấu, trong một lúc
tìm được mười một kho tàng cất dấu. Cũng vậy, bạch Tôn giả, con đi tìm một
pháp môn bất tử mà được nghe một lần mười một pháp môn bất tử. Bạch Tôn giả,
như ngôi nhà người ta có đến mười một cửa, khi ngôi nhà bị cháy, thì chỉ do
một cửa người ta cũng có thể thoát ra một cách an toàn. Cũng vậy, bạch Tôn
giả, chỉ với một cửa bất tử trong mười một cửa bất tử này, con có thể đạt
được sự an toàn cho con. Bạch Tôn giả, đệ tử các ngoại đạo này sẽ tìm cầu
tiền của cúng dường cho vị thầy của mình, sao con lại không cúng dường cho
Tôn giả Ananda?
Rồi gia chủ Dasama, người ở thành Atthaka cho mời họp Tỷ-kheo Tăng ở
Pataliputta và Vesali, tự tay mời ăn và làm cho thỏa mãn với các món ăn
thượng vị loại cứng và loại mềm, tặng cho mỗi Tỷ-kheo, mỗi vị một cặp y,
tặng cho Tôn giả Ananda ba y và xây dựng một Tăng xá trị giá năm trăm đồng
tiền vàng (hay có năm trăm Tăng phòng) cho Tôn giả Ananda.