KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP II
74. KINH TRƯỜNG TRẢO
(Dìghanakha Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta (Linh
Thứu), trong hang Sukarakhata.
Rồi du sĩ ngoại đạo Dìghanakha (Trường Trảo) đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi
đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những
lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền đứng một bên. Ðứng một bên, du sĩ ngoại
đạo Dighanakha nói với Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama, tôi có lý thuyết như sau, tôi có tri kiến như sau:
"Tất cả đều không làm cho tôi thích thú".
-- Này Aggivessana, tri kiến: "Tất cả đều không làm cho tôi thích thú",
tri kiến ấy không làm Ông thích thú?
-- Tôn giả Gotama, nếu tri kiến ấy làm tôi thích thú, thời đây cũng giống
như vậy, thời đây cũng giống như vậy.
-- Này Aggivessana, nếu số đông người ở trong đời đã nói như sau: "Thời
đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy", thời họ không từ bỏ
tri kiến ấy, họ chấp thủ một tri kiến khác. Này Aggivessana, nếu thiểu số
người ở trong đời đã nói như sau: "Thời đây cũng giống như vậy, thời đây
cũng giống như vậy", thời họ sẽ từ bỏ tri kiến ấy và không chấp thủ một tri
kiến khác.
Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri
kiến như sau: "Tất cả đều làm cho tôi thích thú". Này Aggivessana, một số
Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: "Tất cả đều làm
cho tôi không thích thú". Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý
thuyết như sau, có tri kiến như sau: "Một phần làm tôi thích thú, một phần
làm tôi không thích thú". Ở đây, này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn
có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: "Tất cả đều làm cho tôi thích
thú," tri kiến này của họ là gần với tham dục, gần với triền phược, gần với
hoan lạc, gần với đắm trước, gần với chấp thủ. Ở đây, này Aggivessana, một
số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: "Tất cả đều
làm cho tôi không thích thú", tri kiến này của họ là gần với không tham dục,
gần với không phiền trược, gần với không hoan lạc, gần với không chấp thủ.
Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Dighanakha thưa với Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama tán dương quan điểm của tôi, Tôn giả Gotama hết sức tán
dương quan điểm của tôi.
-- Ở đây, này Aggivessana, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như
sau, có tri kiến như sau: "Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi
không thích thú". Cái gì trong tri kiến này làm họ thích thú là gần tham
dục, gần phiền trược, gần hoan lạc, gần đắm trước, gần chấp thủ. Cái gì
trong tri kiến này làm họ không thích thú là gần không tham dục, gần không
triền phược, gần không hoan lạc, gần không đắm trước, gần không chấp thủ.
Ở đây, này Aggivessana, những Sa-môn, Ba la môn có lý thuyết như sau, có
tri kiến như sau: "Tất cả đều làm tôi thích thú". Ở đây, người có trí suy
nghĩ như sau: "Nếu ta nói tri kiến này của ta: "Tất cả đều làm tôi thích
thú", và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: "Ðây là sự thật,
ngoài ra là hư vọng", như vậy là đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay
Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: "Tất cả đều làm cho
tôi không thích thú", và Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có
tri kiến như sau: "Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích
thú". Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có
tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối; khi nào có chống đối
thời có bực mình". Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch, tranh luận, chống
đối và bực mình nên từ bỏ tri kiến này, không chấp thủ tri kiến khác. Như
vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến
này.
Ở đây, này Aggivessana, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết
như sau, có tri kiến như sau: "Tất cả đều làm cho tôi không thích thú". Ở
đây, người có trí suy nghĩ như sau: "Nếu ta nói tri kiến này của ta: "Tất cả
đều làm tôi không thích thú", và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và
nói: "Ðây là sự thật, ngoài ra là hư vọng", thì như vậy, ta đối nghịch với
hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến
như sau: "Tất cả đều làm cho tôi thích thú" và Sa-môn hay Bà-la-môn nào có
lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: "Một phần làm tôi thích thú, một
phần làm tôi không thích thú". Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi
nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống
đối; khi nào có chống đối thời có bực mình". Như vậy, vị này vì thấy sự đối
nghịch, tranh luận, chống đối và bực mình, nên từ bỏ tri kiến ấy, không chấp
thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự
hủy bỏ những tri kiến này.
Ở đây, này Aggivessana, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết
như sau, có tri kiến như sau: "Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi
không thích thú". Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: "Nếu ta nói tri kiến
này của ta: "Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú",
và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: "Ðây là sự thật ngoài ra
là hư vọng", thì như vậy, ta đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay
Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: "Tất cả đều làm cho
tôi thích thú" và Sa-môn hay Bà la-môn này có lý thuyết như sau, có tri kiến
như sau: "Tất cả đều làm cho tôi không thích thú". Ta sẽ đối nghịch với hai
hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh
luận thời có chống đối, khi nào có chống đối thời có bực mình". Như vậy, vị
này vì thấy sự đối nghịch tranh luận, chống đối và bực mình, nên từ bỏ tri
kiến ấy, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến
này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
Nhưng này Aggivessana, thân này có sắc, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh,
nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phân toái, đoạn tuyệt, hoại
diệt, cần phải được quán sát là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như
mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là
không, là vô ngã. Khi vị ấy quán sát thân này là vô thường, khổ, như bệnh,
như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch,
như phá hoại, là không, là vô ngã, thời thân, thân dục, thân ái, thân phục
tòng được đoạn diệt.
Này Aggivessana, có ba thọ này; lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
Này Aggivessana, trong khi cảm giác lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác khổ
thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ chỉ cảm giác lạc thọ. Này
Aggivessana, trong khi cảm giác khổ thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc
thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chỉ cảm giác khổ thọ. Này
Aggivessana, trong khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chính khi ấy không cảm
giác lạc thọ, không cảm giác khổ thọ, chỉ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
Này Aggivessana, lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn
diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, khổ thọ là vô
thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hại, bị suy tàn, bị tiêu
diệt. Này Aggivessana, bất khổ bất lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên
sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt.
Thấy vậy, này Aggivessana, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly lạc thọ, yểm ly
khổ thọ, yểm ly bất khổ bất lạc thọ. Do yểm ly, vị ấy không có tham dục. Do
không tham dục, vị ấy được giải thoát. Ðối với tự thân đã giải thoát như
vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã diệt,
Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm. Sau đời hiện tại, không có đời sống
nào khác nữa".
Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỷ-kheo không nói thuận theo
một ai, không tranh luận với một ai, chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời,
không có chấp thủ (từ ngữ ấy).
Lúc bấy giờ Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) đứng sau lưng Thế Tôn và đang
quạt Thế Tôn. Rồi Tôn giả Sariputta suy nghĩ như sau: "Thế Tôn đã thuyết cho
chúng ta sự đoạn trừ các pháp ấy nhờ thắng trí. Thiện Thệ đã thuyết cho
chúng ta sự tự bỏ các pháp ấy nhờ thắng trí". Khi Tôn giả Sariputta suy nghĩ
như vậy, tâm (của Tôn giả) được giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Còn đối với du sĩ ngoại đạo Dighanakha, pháp nhãn ly trần, vô cấu được
khởi lên: "Phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy được đoạn diệt". Rồi
du sĩ ngoại đạo Dighanakha thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào
pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi
người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư, liền bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị
che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để
những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama
dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Nay con xin quy y Tôn giả
Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm
cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.