KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
|
TẬP II
76. KINH SANDAKA
(Sandaka Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tu viện Ghosita
(Cù-sư-la).
Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka trú ở hang Pilakka với đại chúng du sĩ, khoảng
độ năm trăm du sĩ. Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư
đứng dậy, và nói với các Tỷ-kheo:
-- Chư Hiền, chúng ta hãy đi đến Devakatasobbha để xem hang.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda. Rồi Tôn giả Ananda với một số
đông Tỷ-kheo đi đến Devakatasobbha. Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka ngồi với đại
chúng du sĩ đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng bàn luận nhiều vấn đề phù
phiếm như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại
thần, câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện về chiến
tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về đồ mặc, câu
chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu
chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về
thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn
bà, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ
lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện
về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương, câu chuyện về hiện hữu
và không hiện hữu. Du sĩ Sandaka thấy Tôn giả Ananda từ xa đi đến, thấy vậy
liền khuyến cáo chúng của mình:
-- Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay đệ tử của
Sa-môn Gotama, Sa-môn Ananda đang đến. Khi nào các đệ tử của Sa-môn Gotama
trú ở Kosambi, thời Sa-môn Ananda này là một vị trong những vị ấy. Các Tôn
giả ấy ưa mến trầm lặng, tu tập trong trầm lặng, tán thán trầm lặng, nếu
biết chúng này trầm lặng, có thể ghé tại đây.
Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Tôn giả Ananda đến chỗ du sĩ Sandaka. Du sĩ
Sandaka thưa với Tôn giả Ananda:
-- Hãy đến, Tôn giả Ananda! Thiện lai, Tôn giả Ananda! Ðã lâu Tôn giả
Ananda mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Tôn giả Ananda hãy ngồi, đây là
chỗ ngồi đã soạn sẵn.
Tôn giả Ananda ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sandaka lấy một ghế thấp
khác rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda nói với du sĩ Sandaka đang ngồi
một bên:
-- Này Sandaka, nay các vị hội họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu
chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn?
-- Tôn giả Ananda, hãy gác một bên vấn đề chúng tôi đang hội họp bàn
luận. Lát nữa Tôn giả Ananda nghe lại cũng không khó khăn gì. Lành thay, nếu
được Tôn giả Ananda thuyết cho pháp thoại vị Ðạo sư của mình.
-- Vậy này Sandaka, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ giảng:
-- Thưa vâng, Tôn giả.
Du sĩ Sandaka vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau:
-- Này Sandaka, bốn pháp phi phạm hạnh trú này, do Thế Tôn, bậc Tri Giả,
Kiến Giả, Bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và bốn pháp bất an phạm
hạnh cũng được tuyên bố. Ở đây, người có trí không thể tự mình sống Phạm
hạnh và nếu sống, thời không thể thành đạt (chánh) đạo, pháp và (chí) thiện.
-- Tôn giả Ananda, bốn pháp phi phạm hạnh trú do Thế Tôn, bậc Tri Giả,
Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí
không thể tự mình sống Phạm hạnh, và nếu sống, thời không thể thành đạt
(chánh) đạo, pháp và (chí) thiện; bốn pháp phi phạm hạnh trú ấy là gì?
-- Ở đây, này Sandaka, có vị Ðạo sư có thuyết lý như sau, có quan điểm
như sau: "Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả
dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có
mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn,
Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, sau khi đã tự mình giác ngộ với thắng trí
tuyên bố về đời này và đời sau. Con người này do bốn đại họp thành, khi mệnh
chung, địa đại quy nhập địa giới, thủy đại quy nhập thủy giới, hỏa đại quy
nhập hỏa giới, phong đại quy nhập phong giới, các căn nhập vào hư không.
(Bốn) người, gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm gánh người
chết mang đi, đến chỗ hỏa táng và thốt ra những lời kể lể, đặc tánh của
người chết. Các xương thành màu xám như chim bồ câu, và những vật cúng dường
trở thành tro bụi. Chỉ có người ngu mới tán dương bố thí, lời nói của họ
trống không, giả dối, vô ích khi họ chấp thuyết "có sự hiện hữu
(Atthikavada)". Kẻ ngu cũng như người trí, sau khi thân hoại mạng chung sẽ
đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết".
Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: "Vị Tôn sư này, thuyết
lý như vầy, quan điểm như vầy: "Không có bố thí, không có lễ hy sinh... ,
không còn tồn tại sau khi chết". Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời
cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta
sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta
không có nói: "Cả hai chúng ta, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị đoạn
diệt, tiêu thất, sẽ không hiện hữu sau khi chết". Thật sự là quá độ hạnh lõa
thể, trọc đầu, tinh tấn ngồi chỏ hỏ, nhổ lông tóc của vị Tôn sư này; trong
khi ta sống trong gia đình được con cái bao bọc đoanh vây, thọ dụng
chiên-đàn Kasi, mang dùng vòng hoa, hương liệu phấn sáp, hưởng thọ vàng bạc,
và trong đời sau ta sẽ đồng đẳng với vị Tôn sư này về chỗ thọ sanh. Như vậy,
ta biết gì, thấy gì mà ta sẽ sống Phạm hạnh dưới vị Ðạo sư này?" Vị ấy sau
khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
Như vậy, này Sandaka là phi phạm hạnh trú thứ nhất, được Thế Tôn, bậc Tri
Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố và ở đây người có trí
không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt
(chánh) đạo, pháp và (chí) thiện.
Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư có thuyết lý như sau, có quan
điểm như sau: "Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém
giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây
phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay
khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào,
cướp đoạt, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ
người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc
bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất này, làm thành một đống thịt,
thành một chồng thịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, gây ra tội ác. Nếu đi
trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém
giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy có tội ác, gây ra tội
ác. Nếu đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ,
khiến người tế lễ, cũng không vì vậy có phước báo, tạo nên phước báo. Bố
thí, tự điều phục, tự chế ngự, nói thật không có công đức, không tạo nên
công đức".
Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: "Vị Tôn sư này, có
thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: "Tự làm, khiến người làm, ... ,
không tạo nên công đức". Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã
làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống;
nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không
có nói: "Hành động cả hai (chúng ta) không tạo ra tội ác". Thật sự là quá
độ... mà ta sẽ sống Phạm hạnh dưới vị Ðạo sư này?" Vị ấy sau khi biết phi
phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
Như vậy, này Sandaka là phi phạm hạnh trú thứ hai, được Thế Tôn, bậc Tri
Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã tuyên bố và ở đây người có
trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành
đạt (chánh) đạo, pháp và (chí) thiện.
Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị Ðạo sư có thuyết lý như vậy, có quan
điểm như vầy: "Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô;
không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình sẽ bị nhiễm ô. Không có
nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh, không nhân không
duyên, các loài hữu tình sẽ được thanh tịnh. Không có lực, không có tinh
tấn, không có nhân lực, không có cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình,
tất cả chúng sanh, tất cả sanh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại,
không lực, không tinh tấn. Họ bị dắt dẫn chi phối bởi định mệnh, bởi sự
trùng hợp, bởi tự tánh. Họ hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu sanh loại".
Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: "Vị Tôn sư này có thuyết
lý như vầy, có quan điểm như vầy: "Không có nhân, không có duyên, .... Họ
hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu sanh loại". Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự
thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây
không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng
Sa-môn quả, và ta không có nói: "Cả hai chúng tôi, không có nhân, không có
duyên sẽ được thanh tịnh". Thật sự là quá độ... mà ta sẽ sống theo hạnh ấy
dưới vị Ðạo sư này?" Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh
ấy và bỏ đi.
Như vậy, này Sandaka là phi phạm hạnh trú thứ ba, được Thế Tôn, bậc Tri
Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí
không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống thời không thể thành đạt
(chánh) đạo, pháp và (chí) thiện.
Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư có thuyết lý như vầy, có quan
điểm như vầy: "Có bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng
tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đảnh núi, đứng thẳng như
trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm hại nhau. Chúng không
thể ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Thế nào là bảy?
Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc, và thứ bảy là mạn. Bảy
thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo,
không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất
động, không chuyển biến, không xâm hại nhau. Chúng không thể ảnh hưởng đến
lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây, không có người giết hại
hoặc người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người
khiến cho biết, khi có một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không ai
tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi.
Có tất cả là 14 trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thêm 60 một trăm và 6
một trăm. Có 5 một trăm loại nghiệp và có 5 nghiệp (theo 5 căn), lại có 3
nghiệp (về thân, khẩu, ý), lại có toàn nghiệp (thân và khẩu), bán nghiệp
(ý), có 62 đạo, 62 trung kiếp, 6 giai cấp, 8 nhân địa; 4900 sanh nghiệp,
4900 kẻ du hành, 4900 chỗ ở của loài Naga, 2000 căn, 3000 cảnh địa ngục, 36
trần giới, 7 tưởng thai, 7 vô tưởng thai, 7 tiết thai (sanh từ đốt, hay ly
hệ thai) 7 loài Thiên, 7 loài Người, 7 loài Quỷ, 7 hồ nước, 7 pavutas (núi
hay hồ nhỏ), 7000 pavutas, 700 papatas (vực thẳm), 7 mộng, 700 mộng có
8.400.000 đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người trí, sau khi lưu
chuyển, luân hồi, sẽ trừ tận khổ đau. Không có lời nguyện: "Với giới này,
với giới cấm này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho
chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã
được thuần thục, bởi những nhẫn thọ liên tục không thể đo lường, khổ và lạc
với những vật đo lường, trong luân hồi không có tăng giảm, không có cao
thấp. Ví như cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến một mức độ nào đó.
Cũng như vậy, kẻ ngu và người trí, sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ chấm dứt
khổ đau".
Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: "Vị Tôn sư này có lý
thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: "Có bảy thân này... sẽ chấm dứt khổ
đau". Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không
phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng
ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: "Cả hai
chúng tôi, sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ chấm dứt khổ đau". Thật sự là quá
độ hạnh lõa thể, trọc đầu, tinh tấn ngồi chỏ hỏ, nhổ lông tóc của vị Tôn sư
này, trong khi ta sống trong gia đình, được con cái bao bọc đoanh vây, thọ
dụng chiên-đàn Kasi, mang dùng vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, hưởng thọ
vàng bạc, và trong đời sau ta sẽ đồng đẳng với vị Tôn sư này về chỗ thọ
sanh. Như vậy ta biết gì, ta thấy gì mà ta sẽ sống theo hạnh ấy với vị Ðạo
sư này?" Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly theo hạnh ấy và bỏ
đi.
Như vậy, này Sandaka là phi phạm hạnh trú thứ tư, được Thế Tôn, bậc Tri
Giả, Kiến Giả, bậc A la hán , Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có
trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành
đạt (chánh) đạo, pháp, và (chí) thiện.
Này Sandaka, bốn phi phạm hạnh trú này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến
Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây, người có trí không
thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt (chánh)
lý, pháp, và (chí) thiện.
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ananda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ananda!
Bốn phi phạm hạnh trú này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bấc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố là phi phạm hạnh trú, và ở đây, người có
trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành
đạt (chánh) lý, pháp, và (chí) thiện. Tôn giả Ananda, thế nào là bốn pháp
bất an phạm hạnh được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh
ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt (chánh) đạo, pháp, và (chí) thiện?
Ở đây, này Sandaka, có bậc Ðạo sư nhứt thiết tri, nhứt thiết kiến, tự xem
đã chứng được tri kiến hoàn toàn: "Khi ta đi, ta đứng, ta ngủ và ta thức,
tri, kiến được an trú ở trong ta, liên tục, không gián đoạn". Vị ấy đi vào
một nhà trống, không nhận được đồ ăn khất thực, và con chó cắn vị ấy, vị ấy
gặp voi dữ, gặp người dữ, gặp bò dữ, và vị ấy hỏi tên và họ một người đàn
bà, một người đàn ông, và hỏi tên những con đường của làng, của trị trấn. Vị
ấy được hỏi: "Sao như thế này?", và trả lời: "Ta phải vào một nhà trống, do
vậy ta đã vào; ta phải không nhận được đồ ăn khất thực, do vậy ta đã không
nhận được đồ ăn khất thực. (Có người) phải bị chó cắn, do vậy ta đã bị chó
cắn. (Có người) phải gặp voi dữ, do vậy ta đã gặp; phải gặp ngựa dữ, do vậy
ta đã gặp, phải gặp bò dữ, do vậy ta đã gặp. Có người phải hỏi tên và họ một
người đàn bà, một người đàn ông, do vậy ta đã hỏi. (Có người) phải hỏi tên
những con đường của làng, của thị trấn, do vậy ta đã hỏi".
Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: "Vị Tôn sư này là nhất
thiết tri, nhứt thiết kiến... , do vậy ta đã hỏi". Vị ấy sau khi biết: "Hạnh
này là bất an", nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ nhất, được Thế Tôn, bậc Tri Giả,
Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí
không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống thời không thể thành đạt
(chánh) đạo, pháp và (chí) thiện.
Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, (xem)
truyền thuyết là chân thật, vị này thuyết pháp theo truyền thuyết, theo
tương truyền và truyền thống, theo uy tín (Thánh) tạng. Này Sandaka, nếu vị
Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chân thật, vị ấy (có phần)
khéo nhớ, (có phần) không khéo nhớ, (khi thì) như thế này, (khi thì) như thế
khác.
Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư: "Vị Tôn sư này y cứ truyền
thuyết, xem truyền thuyết là chơn thật, vị này thuyết pháp theo truyền
thuyết, theo tương truyền và truyền thống, theo uy tín (Thánh) tạng. Nếu vị
Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chơn thật, vị ấy (có phần)
khéo nhớ, (có phần) không khéo nhớ, (khi thì) như thế này, (khi thì) như thế
khác. Vị ấy sau khi biết: "Hạnh này là bất an", nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ hai, được Thế Tôn, bậc Tri Giả,
Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí
không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt
(chánh) đạo, pháp, và (chí) thiện.
Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận.
Do sự đả phá của lý luận và y cứ theo suy luận, vị này thuyết pháp theo
nguyên tắc tự mình sáng tác. Này Sandaka, nếu vị Ðạo sư là nhà lý luận, là
nhà suy luận, vị ấy (có phần) khéo lý luận, (có phần) không khéo lý luận,
(khi thì) như thế này, (khi thì) như thế khác.
Ở đây, này Sandaka, người có trí suy nghĩ: "Vị Tôn sư này là nhà lý luận,
là nhà suy luận. Do sự đả phá của lý luận và y cứ theo suy luận, vị này
thuyết pháp theo nguyên tắc tự mình sáng tác. Nếu vị Ðạo sư là nhà lý luận,
là nhà suy luận, vị ấy (có phần) khéo lý luận, (có phần) không khéo lý luận,
(khi thì) như thế này, (khi thì) như thế khác. Vị ấy sau khi biết: "Hạnh này
là bất an" nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
Này Sandaka đây là bất an phạm hạnh thứ ba, được Thế Tôn, bậc Tri Giả,
Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí
không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống thì không thể thành đạt
(chánh) lý, pháp, và (chí) thiện.
Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư là người đần độn, là người ngu
si. Vì đần độn ngu si, khi được hỏi về vấn đề này, vấn đề khác, vị ấy dùng
những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: "Theo tôi không phải như vậy,
theo tôi không phải như kia, theo tôi không khác như thế, theo tôi không
phải như thế, theo tôi không không phải như thế".
Ở đây, này Sandaka người có trí suy tư: "Vị Tôn sư này là người đần độn,
là người ngu si... , theo tôi không phải như thế". Vị ấy sau khi biết: "Hạnh
này là bất an", nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ tư, được Thế Tôn, bậc Tri Giả,
Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí
không thể tự mình sống theo hạnh ấy và nếu sống thì không thể thành đạt
(chánh) đạo, pháp và (chí) thiện.
Này Sandaka, bốn bất an phạm hạnh này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến
Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể
tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống thì không thể thành đạt (chánh) lý,
pháp và (chí) thiện.
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ananda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ananda!
Bốn pháp bất an phạm hạnh này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố là bất an phạm hạnh, và ở đây người trí
không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống thì không thể thành đạt
(chánh) lý, pháp, và (chí) thiện. Thưa Tôn giả Ananda, vị Ðạo sư ấy dạy
những gì, tuyên bố những gì, mà ở đây, người có trí có thể tự mình sống Phạm
hạnh, và khi sống, có thể thành đạt (chánh) lý, pháp, và (chí) thiện?
-- Ở đây, này Sandaka, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh
Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ
với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả
thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã
chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn
nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp
(hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như
Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: "Ðời sống gia đình đầy
những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng
khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể
sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như
vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình". Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài
sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ
râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo,
từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi,
có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu
tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong
những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời
sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa
dâm dục hạ liệt.
Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc
chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa
nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ
ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này
để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những
kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú
trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy
từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp
tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói
những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù
phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói
những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý có mạch lạc hệ
thống, có ích lợi.
Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một
ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi
xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương
liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và
giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ
bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận
nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và
heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng
nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi
giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo
lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm
thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực
để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim
bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm
y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang
theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết
phạm.
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái,
ưuc bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân
ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi
ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy
không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì,
vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp
khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý
căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế
nhiễm.
Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn
quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép,
bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác;
khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức,
nói, yên lặng đều tỉnh giác.
Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này,
thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu
rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng
tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở
đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân
hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng
sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống
thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm
tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy
sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ
bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột
rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
Sau khi trừ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ
trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Sơ
thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Này Sandaka,
nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư, thời ở
đây người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống có thể thành đạt
(chánh) đạo, pháp, và (chí) thiện.
Lại nữa, này Sandaka, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Nhị
thiền... chứng đạt và an trú Tam thiền... chứng đạt và an trú Tứ thiền. Này
Sandaka, nếu một đệ tử chiếm được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một Ðạo
sư... thành đạt (chánh) đạo, pháp, và (chí) thiện".
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc bất động như vậy, vị ấy, hướng tâm
đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai
đời... như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại
cương và các chi tiết. Này Sandaka, nếu một đệ tử chiếm được ưu thắng đặc
thù như vậy dưới một vị Ðạo sư... thành đạt (chánh) đạo, pháp, và (chí)
thiện.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu
nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh
người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất
hạnh... đều do hạnh nghiệp của họ. Này Sandaka nếu một đệ tử chứng được ưu
thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư... thành đạt (chánh) đạo, pháp và
(chí) thiện.
Với tâm định tĩnh thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến lậu tận trí. Vị ấy như thật biết: "Ðây là Khổ"... vị ấy như thật biết:
"Ðây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt".
Vị ấy do biết vậy, do thấy vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm
được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với
tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị
ấy biết: "Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời
hiện tại, không có đời sống nào khác nữa". Này Sandaka, nếu một đệ tử chứng
được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một Ðạo sư nào, thời ở đây người có trí
có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống có thể thành đạt (chánh) đạo,
pháp, và (chí) thiện.
-- Nhưng, thưa Tôn giả Ananda, một Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu
đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống,
đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí,
vị Tỷ-kheo ấy có thể thọ dụng các dục vọng không?
-- Này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành
thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý
tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không thể
vi phạm năm điều: Vị Tỷ-kheo, các lậu đã tận không có thể cố ý sát hại mạng
sống chúng sanh; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể lấy của không cho,
được gọi là ăn trộm; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hành dâm dục; vị
Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể cố ý nói láo; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận
không có thể hưởng thọ các dục đối với các vật được tàng trữ như trước khi
còn tại gia. Này Sandaka, một vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã
tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã
thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị
ấy không có thể vi phạm năm điều này.
-- Thưa Tôn giả Ananda, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận,
tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành
đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy
đi, đứng, ngủ và thức, có phải tri kiến vị ấy được an trú một cách liên tục,
không gián đoạn: "Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận"?
-- Này Sandaka, tôi sẽ cho Ông một ví dụ, nhờ ví dụ ở đây, một số người
có trí sẽ biết ý nghĩa câu nói. Ví như, này Sandaka, một người tay chân bị
chặt; khi người ấy đi, đứng, ngủ và thức, tay chân bị chặt một cách liên
tục, không gián đoạn, và khi người ấy suy tư về vấn đề này, người ấy biết:
"Tay chân của ta bị chặt". Cũng vậy, này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc
A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt
gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải
thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ và thức, các lậu hoặc được đoạn
tận một cách liên tục, không gián đoạn, và khi vị ấy suy tư về vấn đề này,
vị ấy biết: "Các lậu hoặc ta đã được đoạn tận".
-- Nhưng thưa Tôn giả Ananda, có bao nhiêu vị lãnh đạo tối thắng trong
pháp và luật này?
-- Này Sandaka, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm,
năm trăm, mà còn nhiều vị lãnh đạo tối thắng hơn nữa trong Pháp và Luật này.
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ananda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ananda!
Không có sự tự tán pháp của mình, không có sự hủy báng pháp của người khác,
nhưng cả hai sự thuyết pháp với các hành trì (ayatane) và rất nhiều vị lãnh
đạo tối thắng như vậy đã được thấy (ở đây). Còn các tà mạn ngoại đạo này là
những đứa con của người mẹ không con, họ tự tán khen mình chê người, và họ
chỉ có ba vị lãnh đạo tối thắng, tức là Nanda Vaccha, Kisa Sankicca và
Makkhali Gosala.
Rồi du sĩ Sandaka nói với đồ chúng của mình:
-- Chư Tôn giả, hãy đi và sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama, tuy rằng nay
không có dễ gì cho chúng ta từ bỏ quyền lợi, tôn kính và danh tiếng.
Như vậy du sĩ Sandaka đã đưa đồ chúng của mình sống Phạm hạnh dưới Sa-môn
Gotama.