KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP II
77. ÐẠI KINH SAKULUDÀYI
(Mahàsakuludàyin Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại
Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
Lúc bấy giờ, có rất nhiều vị du sĩ, có thời danh, có danh tiếng trú ở
Moranivapa (Khổng Tước Lâm), tu viện các du sĩ, như Anugara, Varadhara, và
du sĩ Sakuludayi cùng với các vị du sĩ thời danh, danh tiếng khác.
Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Rajagaha để khất thực. Rồi
Thế Tôn suy nghĩ: "Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Rajagaha. Ta hãy đến
Moranivapa, tu viện các du sĩ, đi đến gặp du sĩ Sakuludayi". Rồi Thế Tôn đi
đến Moranivapa, tu viện các du sĩ.
Lúc bấy giờ du sĩ Sakuludayi đang ngồi cùng với đại chúng du sĩ, đang lớn
tiếng, cao tiếng, to tiếng, bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như vương luận,
tặc luận, đại thần luận, binh luận, bố úy luận, chiến đấu luận, thực luận,
ẩm luận, y luận, sàng luân, hoa man luận, hương liệu luận, thân tộc luận, xa
thừa luận, thôn luận, trấn luận, thị luận, quốc độ luận, phụ nữ luận, anh
hùng luận, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện
về người đã chết, tạp thoại luận, thế giới luận, hải dương luận, hiện hữu,
vô hiện hữu luận. Du sĩ Sakuludayi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền
khuyến cáo chúng của mình:
-- Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay Sa-môn
Gotama đang đến, vị Tôn giả ấy ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh, nếu biết
chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây.
Các du sĩ ấy đều im lặng. Rồi Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludayi. Du sĩ
Sakuludayi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến! Bạch Thế Tôn, thiện lai Thế Tôn! Ðã lâu
Thế Tôn mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Thế Tôn hãy ngồi! Ðây là chỗ
ngồi đã soạn sẵn.
Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sakuludayi lấy một ghế thấp khác
rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludayi đang ngồi một bên:
-- Này Udayi, nay các vị họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu
chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn?
-- Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên vấn đề chúng tôi đang hội họp bàn luận.
Về sau Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì! Bạch Thế Tôn, trong những
ngày trước, nhiều ngày trước nữa, khi các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuộc nhiều
ngoại đạo sai khác, ngồi lại và tập họp tại luận nghị đường, đối thoại này
được khởi lên: "Thật lợi ích thay cho dân chúng Anga và Magadha thật tốt đẹp
thay cho dân chúng Anga và Magadha khi được những vị Sa-môn, Bà-la-môn nay
là những vị lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, những vị sư trưởng đồ
chúng, những vị thời danh, những Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn
sùng, đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa! Ngài Purana Kassapa (Bất-lan
Ca-diếp) này là bậc lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ
chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, đã
đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Ngài Makkhali Gosala này... Ngài Ajita
Kesakambali... Ngài Pakudha Kaccayana... Ngài Saniaya Belatthiputta... Ngài
Nigantha Nataputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc
sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng
tôn sùng, vị này đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Sa-môn Gotama này
là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có
thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị này đã đến
Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Trong những bậc Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn
này, những bậc lãnh đạo hội chúng, những bậc lãnh đạo đồ chúng, những bậc sư
trưởng đồ chúng, có thời danh, những bậc Tổ sư có thanh danh, được quần
chúng tôn sùng, vị nào được các đệ tử cung kính tôn trọng, kính lễ, cúng
dường? Và các đệ tử sau khi cung kính tôn trọng đã sống nương tựa như thế
nào?"
Ở đây, có một số người đã nói như sau: "Vị Purana Kassapa này là bậc lãnh
đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh,
bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị ấy không được các đệ
tử cung kính, tôn trọng, kính lễ cúng dường. Và các đệ tử, sau khi cung kính
tôn trọng đã không sống nương tựa Purana Kassapa. Thuở xưa, Purana Kassapa
thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người; ở đấy, một đệ tử của Purana
Kassapa nói lớn tiếng như sau: "Chư Tôn giả, chớ có hỏi Purana Kassapa về ý
nghĩa này. Vị ấy không biết ý nghĩa này, chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi
chúng tôi về ý nghĩa này. Chúng tôi sẽ trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn
giả". Thuở xưa, Purana Kassapa dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe
theo: "Chư tôn giả, hãy nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy
không hỏi Chư Tôn giả. Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho
những vị ấy". Nhiều đệ tử của Purana Kassapa, sau khi kích bác Purana
Kassapa, bỏ đi và nói: "Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và
luật này. Làm sao Ông có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta
theo chánh hạnh. Ðiều ta nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng.
Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói như sau. Ðiều đáng nói sau ngươi lại nói
trước. Chủ trương của Ông đã bị lật ngược, câu hỏi của Ông đã bị bài bác.
Ông đã bị thuyết bại. Hãy đến giải vây lời nói (ấy) nếu có thể được, gắng
thoát khỏi lối bí". Như vậy, Purana Kassapa không được các đệ tử cung kính,
tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và sau khi cung kính tôn trọng, các đệ tử đã
không sống nương tựa Purana Kassapa. Trái lại, Purana Kassapa đã bị mạ lới
những lời mắng nhiếc vì hành động của mình.
Có một số người đã nói như sau: "Vị Makkhali Gosala này... Vị Ajita
Kesakambali... Vị Pukudha Kaccayana... Vị Sanjaya Belatthiputta... Vị
Nigantha Nataputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc
sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng
tôn sùng. Vị ấy không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng
dường. Và các đệ tử sau khi cung kính, tôn trọng đã không sống nương tựa
Nigantha Nataputta. Thuở xưa, Nigantha Nataputta thuyết pháp cho hội chúng
hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Nigantha Nataputta lớn tiếng nói như
sau: "Chư Tôn giả, chớ có hỏi Nigantha Nataputta về ý nghĩa này. Vị ấy không
biết ý nghĩa này. Chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi chúng tôi về ý nghĩa
này. Chúng tôi trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn giả". Thuở xưa Nigantha
Nataputta dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe theo: "Chư Tôn giả hãy
nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy không hỏi chư Tôn giả.
Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho những vị ấy". Nhiều đệ
tử của Nigantha Nataputta, sau khi kích bác Nigantha Nataputta, bỏ đi và
nói: "Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và luật này. Làm sao Ông
có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta theo chánh hạnh. Ðiều ta
nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng. Ðiều đáng nói trước Ông lại
nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Chủ trương của Ông đã bị lật
ngược. Câu nói của Ông đã bị bài bác. Ông đã bị thất bại. Hãy đến giải vây
lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát khỏi lối bí". Như vậy, Nigantha
Nataputta không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và
các đệ tử không có sau khi cung kính, tôn trọng sống nương tựa Nigantha
Nataputta. Trái lại Nigantha Nataputta đã bị mạ lị với những lời mắng nhiếc
vì hành động của mình.
Có một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama này là bậc lãnh đạo hội
chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ
sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng. Và vị này được các đệ tử cung
kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử sau khi cung kính tôn
trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama. Thuở xưa, Sa-môn Gotama đang thuyết
pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Sa-môn Gotama ho
(thành tiếng). Một vị đồng Phạm hạnh dùng đầu gối đập (nhẹ) vào người ấy và
nói: "Tôn giả hãy lặng tiếng! Tôn giả chớ có làm ồn! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của
chúng ta đang thuyết pháp". Trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội
chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không có
một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng
đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng; nghĩ rằng: "Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho
ta và ta được nghe". Ví như có người tại ngã tư đường, đang bóp vắt một bánh
mật ong nhỏ trong sạch, và đại chúng đang sống nhiệt tình kỳ vọng. Cũng vậy,
trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người,
trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không một tiếng ho giữa các đệ tử
của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ
vọng nghĩ rằng: "Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta sẽ được nghe". Các đệ
tử của Sa-môn Gotama sau khi cãi lộn với các vị đồng Phạm hạnh từ bỏ tu học,
trở lại hoàn tục, các vị ấy vẫn tán thán bậc Ðạo sư, tán thán Pháp, tán thán
Tăng, tự quở trách mình, không quở trách người khác: "Chính chúng ta thật
bất hạnh, chính chúng ta thật thiếu phước, dầu chúng ta xuất gia trong pháp
luật được khéo giảng như vậy mà không thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy
đủ thanh tịnh cho đến trọn đời". Họ trở thành những người giữ vườn, hay
những người cư sĩ và sống thọ trì năm giới". Như vậy Sa-môn Gotama được các
đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và các đệ tử sau khi cung
kính, tôn trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama.
-- Này Udayi, Ông thấy nơi ta có bao nhiêu pháp mà do các pháp này, các
đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính tôn
trọng, sống nương tựa vào Ta?
-- Bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn có năm pháp mà do năm pháp này, các
đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung
kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn. Thế nào là năm? Bạch Thế Tôn,
Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán
thán hạnh ăn ít. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ nhất, con thấy
nơi Thế Tôn. Do pháp này các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường
Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán
hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ
loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Chính pháp này,
bạch Thế Tôn là pháp thứ hai con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử
cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn
trọng sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và
tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn
biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ
món ăn khất thực nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ ba con thấy
nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng
dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán
thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với
bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Chính
pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ tư con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này,
các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung
kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn
ly. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Chính
pháp này bạch Thế Tôn, là pháp thứ năm con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này các
đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung
kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.
Chính năm pháp này, bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn. Do năm pháp này,
các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung
kính, tôn trọng sống nương tựa vào Thế Tôn.
-- "Sa-môn Gotama ăn ít và tán thán hạnh ăn ít"; này Udayi, nếu vì vậy
các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung
kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của
Ta chỉ ăn với một bát (kosa), chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây
veluva, chỉ ăn với nửa trái cây veluva, và này Udayi. Còn Ta, có khi Ta ăn
hơn một bình bát này, có khi Ta ăn nhiều hơn như vậy nữa. "Sa-môn Gotama ăn
ít và tán thán hạnh ăn ít"; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn
trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi tôn trọng, cung kính sống nương
tựa vào Ta, thời này Udayi, những đệ tử ấy của Ta, sống nương tựa vào Ta chỉ
ăn với một bát, chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây veluva, chỉ ăn với
nửa trái cây veluva; những vị ấy vì pháp hạnh này đáng lẽ không cung kính,
tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không tôn trọng cung kính
không sống nương tựa vào Ta.
"Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết
đủ với bất cứ loại y nào"; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn
trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương
tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống mặc phấn tảo y, mặc
thô y. Những vị ấy lượm từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từng đống rác, hay
từ tiệm phố, và sau khi làm thành áo sanghati (tăng-già-lê), họ mang loại áo
ấy. Còn Ta, này Udayi, có khi Ta mặc vải y của cư sĩ cúng dường, các chỗ sờn
mỏng được bện chắc lại với dây tơ cây bí trắng. "Sa-môn Gotama sống biết đủ
với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào"; này
Udayi, nếu vì vậy các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường
Ta và sau khi tôn trọng cung kính, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi,
những vị đệ tử ấy của Ta, sống mặc phấn tảo y, mặc thô y. Những vị ấy lượm
từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từ đống rác, hay từ tiệm phố, và sau khi
làm thành áo sanghati, họ mang loại áo ấy; những vị ấy vì pháp (hạnh) này
đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không
cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.
"Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán
hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào", nếu vì vậy, này Udayi, các đệ
tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn
trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta chỉ ăn
những món ăn nhận trong bình bát khất thực, chỉ đi khất thực từng nhà một
(không bỏ sót nhà nào); tự thỏa mãn với những món ăn mảy mún, khi đi vào
trong nhà, dầu được mời ngồi, cũng không chấp nhận. Còn Ta, này Udayi, đôi
khi Ta nhận ăn những chỗ được mời, nhận ăn các thứ gạo, cháo trong ấy các
hạt đen được vứt bỏ, các loại canh, các loại trợ vị. "Sa-môn Gotama sống
biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ
món ăn khất thực nào"; này Udayi nếu vì vậy, các đệ tử của Ta cung kính, tôn
trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương
tựa vào Ta, thời này Udayi, những vị đệ tử ấy của Ta, chỉ ăn những món ăn
nhận trong bình bát khất thực, chỉ đi khất thực từng nhà một, tự thỏa mãn
với những món ăn mảy mún, khi đi vào trong nhà, dầu được mời ngồi cũng không
chấp nhận; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn
trọng, kính lễ, cúng dường Ta và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không
sống nương tựa vào Ta.
"Sa-môn Gotama sống biết đủ và bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết
đủ với bất cứ sàng tọa nào"; nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn
trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương
tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống dưới gốc cây, sống ở
ngoài trời. Những vị ấy trong tám tháng không sống dưới mái che nào. Còn ta,
này Udayi, có đôi khi Ta sống dưới những ngôi lầu có gác nhọn, có tô vôi
trong và ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép
kín. "Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh
biết đủ với bất cứ sàng tọa nào" và nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung
kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng,
sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, các vị đệ tử ấy của Ta, sống dưới gốc
cây, sống ở ngoài trời, trong tám tháng không sống dưới mái che nào; những
vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng
dường Ta, và đáng lẽ không cung kính tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.
"Sa-môn Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly"; này Udayi,
nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau
khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ
tử của Ta sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào
trong rừng núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy, và nửa tháng
một lần mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn. Còn Ta, này Udayi,
đôi khi ta sống đoanh vây xung quanh bởi các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Cư sĩ nam,
Cư sĩ nữ, Quốc vương, Ðại thần, Ngoại đạo, đệ tử các ngoại đạo. "Sa-môn
Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly"; và nếu vì vậy, này
Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi
cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, các vị đệ tử ấy
của Ta, sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào
trong núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy và nửa tháng một
lần, mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn; những vị đệ tử ấy vì
pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta,
và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.
Như vậy, này Udayi, các đệ tử của Ta do năm pháp này không cung kính, tôn
trọng, kính lễ, cúng dường Ta và không cung kính, tôn trọng, không sống
nương tựa vào Ta.
Này Udayi, lại có năm pháp khác, do năm pháp này, các đệ tử của Ta cung
kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống
nương tựa (vào Ta). Thế nào là năm?
(I. Giới hạnh tăng thượng)
Ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới: "Sa-môn
Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng". Này Udayi,
chính đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới, nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama là
vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng", đây là pháp thứ nhất, này
Udayi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau
khi cung kính , tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
(II. Tri kiến vi diệu)
Lại nữa, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu. Khi nói:
"Ta biết", nghĩa là Sa-môn Gotama có biết. Khi nói: "Ta thấy", nghĩa là
Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải
không với thắng trí. Sa-môn Gotama thuyết pháp có nhơn duyên, không phải
không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực
(Sappatihariyam), không phải không có thần thông lực. Này Udayi, chính đệ tử
của Ta thán phục tri kiến vi diệu và nghĩ rằng: "Khi nói: "Ta biết", nghĩa
là Sa-môn Gotama có biết: Khi nói: "Ta thấy", nghĩa là Sa-môn Gotama có
thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng
trí. Sa-môn thuyết pháp với nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên.
Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực, không phải không có thần thông
lực". Ðây là pháp thứ hai này Udayi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng,
kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào
Ta.
(III. Trí tuệ tăng thượng)
Lại nữa, này Udayi, đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng trí tuệ và sự kiện
này không thể xảy ra khi họ nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama là vị có trí tuệ và
thành tựu tuệ uẩn tối thượng. (Tuy vậy) Ngài không thấy trước một luận đạo
nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà
Ngài không luận phá sau khi khéo léo nạn phá với Chánh pháp". Này Udayi, Ông
nghĩ thế nào? Các đệ tử của Ta, sau khi biết như vậy, thấy như vậy, có thể
làm gián đoạn một cuộc đàm thoại đang diễn tiến nửa chừng không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Này Udayi, Ta không chờ đợi sự giáo giới từ nơi những đệ tử của Ta.
Trái lại, chính những đệ tử của Ta chờ đợi sự giáo giới từ nơi Ta. Do vậy,
này Udayi, sự kiện này không thể xảy ra khi các đệ tử của Ta thán phục Tăng
thượng trí tuệ và suy nghĩ: "Sa-môn Gotama là bậc có trí tuệ và thành tựu
tuệ uẩn tối thắng. (Tuy vậy) Ngài không thấy (trước) một luận đạo nào ở
tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài
không luận phá, sau khi khéo léo nạn phá với chánh pháp". Ðây là pháp thứ
ba, này Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường
Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
(IV. Tứ diệu đế)
Lại nữa, này Udayi, những đệ tử của Ta bị đắm chìm trong đau khổ, bị đau
khổ chi phối, đến Ta và hỏi về khổ Thánh đế. Ðược hỏi về Khổ Thánh đế, Ta
trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Họ
hỏi Ta về Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta
làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Ðây là pháp thứ tư, này
Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và
sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
(V. Con đường hành trì)
(1. Tứ Niệm xứ)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Bốn Niệm xứ. Ở đây, này
Udayi, vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm
để nhiếp phục tham ưu trên đời, quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên
các tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để
nhiếp phục tham ưu trên đời. Và ở đây các đệ tự của Ta, phần đông an trú,
sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(2. Tứ Chánh cần)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Bốn Chánh cần. Ở đây,
này Udayi, vị Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước
chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm,
trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được trừ
diệt, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích
khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên ý
muốn cố gắng; tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện
pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được
quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn,
sách tâm, trì tâm... Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi
chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(3. Tứ Thần túc)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này tu tập Bốn Thần túc. Ở đây, này
Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập thần túc, câu hữu với dục Thiền định tinh cần
hành... tinh tấn Thiền định... tâm Thiền định, tu tập thần túc, câu hữu với
tư duy Thiền định tinh cần hành. Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an
trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(4. Ngũ căn)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này tu tập Năm Căn. Ở đây, này
Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập tín căn hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ, tu tập
tinh tấn căn... tu tập niệm căn... tu tập định căn... tu tập tuệ căn, hướng
đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần
đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(5. Ngũ lực)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Năm Lực. Ở đây, này
Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập tín lực, hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ, tu
tập tinh tấn lực... tu tập niệm lực... tu tập định lực...tu tập tuệ lực,
hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần
đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên
mãn.
(6. Thất Giác chi)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Bảy Giác chi. Ở đây, này
các Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y
chỉ diệt, hướng đến xả, tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh tấn giác
chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác
chi, tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ diệt, hướng đến
xả. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng
ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(7. Bát Chánh đạo)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Thánh đạo Tám ngành. Ở
đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, tu tập chánh tư duy, tu
tập chánh ngữ, tu tập chánh nghiệp, tu tập chánh mạng, tu tập chánh tinh
tấn, tu tập chánh niệm, tu tập chánh định. Và ở đây, này Udayi, các vị đệ tử
của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu
cánh viên mãn.
(8. Tám Giải thoát)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tu tập Tám Giải thoát. "Tự mình có
sắc, thấy các sắc", đó là giải thoát thứ nhất. "Quán tưởng nội sắc, thấy các
ngoại sắc", đó là giải thoát thứ hai. "Quán tưởng (sắc là) tịnh,, chú tâm
trên suy tưởng ấy", đó là giải thoát thứ ba. Vượt hoàn toàn sắc tưởng, diệt
trừ các tưởng đối ngại, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư
"Hư không là vô biên", chứng và trú "Không vô biên xứ", đó là giải thoát thứ
tư. Vượt hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư "Thức là vô biên", chứng
và trú "Thức vô biên xứ", đó là giải thoát thứ năm. Vượt hoàn toàn "Thức vô
biên xứ", với suy tư "không có vật gì", chứng và trú "Vô sở hữu xứ", đó là
giải thoát thứ sáu. Vượt hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy. Vượt hoàn toàn Phi tưởng phi phi
tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám. Và ở đây,
này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng
trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(9. Tám Thắng xứ)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tu tập Tám Thắng xứ. Một vị quán
tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận
thức rằng. "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ
nhất. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu.
Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là
thắng xứ thứ hai. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại
sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng
chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ ba. Một vị quán tưởng vô sắc ở
nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng:
"Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ tư. Một vị
quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh,
hình sắc xanh, ánh sáng xanh... như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, hình
sắc xanh, ánh sáng xanh... như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu
xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng
vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc
xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta
thấy, ta biết", đó là thắng xứ thứ năm. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm,
thấy các loại ngoại sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng... như bông
Kanikara màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng... như lụa Ba
la nại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng
vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc
màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng:
"Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ sáu. Một
vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ,
hình sắc màu đỏ, ánh sáng đỏ... như bông Bandhujivaka màu đỏ, sắc màu đỏ,
hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ... như lụa sa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu
đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở
nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng
đỏ, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó
là thắng xứ thứ bảy. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại
sắc màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng... như sao mai
Osadhi màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng... như lụa
sa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng,
ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại
ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy
nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng
xứ thứ tám. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi
chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(10. Mười Biến xứ)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tu tập Mười Biến xứ. Một vị biết
được đất biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được nước
biến xứ... Một vị biết được lửa biến... Một vị biết được gió biến... Một vị
biết được xanh biến... Một vị biết được vàng biến... Một vị biết được đỏ
biến... Một vị biết được trắng biến... Một vị biết được hư không biến... Một
vị biết được thức biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Và ở đây,
này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng
trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(11. Bốn Thiền-na)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tu tập Bốn Thiền. Ở đây, này
Udayi, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất,
một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Vị Tỷ-kheo thấm nhuần
tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh,
không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm
nhuần. Này Udayi, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm,
sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột
tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong
lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt, cũng vậy, này Udayi, vị
Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do
ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục
sanh ấy thấm nhuần.
Lại nữa, này Udayi, vị Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ
hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất
tâm. Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình
với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc
do định sanh ấy thấm nhuần. Này Udayi, ví như một hồ nước, nước từ trong
dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước
chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước
chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun
ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát
lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh ấy thấm
nhuần; cũng vậy, này Udayi, vị Tỷ-kheo thấm nhuần; tẩm ướt, làm cho sung mãn
tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân
không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
Lại nữa, này Udayi, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân
cảm sự lạc thọ và các bậc Thánh gọi là "xả niệm lạc trú", chứng và an trú
vào Thiền thứ ba. Vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy
thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không
được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Này Udayi, ví như trong hồ sen xanh,
hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng; những
bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi
sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần tẩm ướt, đầy tràn
thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen
hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần; cũng vậy, này
Udayi, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình
với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc
thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Lại nữa, này Udayi, vị Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ
trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Vị Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng,
không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy
thấm nhuần. Này Udayi, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu,
không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu; cũng vậy,
này Udayi, vị Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh,
trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong
sáng ấy thấm nhuần. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú,
sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(12. Tuệ tri)
Lại nữa, này Udayi. Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tuệ tri như sau: "Thân này của
ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng,
vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức
ta lại nương tựa và bị trói buộc. Ví như, này Udayi, một hòn lưu ly bảo
châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không
uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi dây được xâu qua hòn ngọc ấy,
sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, hay màu vàng nhạt. Một người
có mắt cầm hòn ngọc ấy trên tay sẽ thấy: "Hòn lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ,
trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy
đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi dây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi dây màu
xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt". Cũng vậy, này Udayi,
Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ
con đường tu hành này biết được như sau: "Thân này của ta là sắc pháp, do
bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến
hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa
và bị trói buộc. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau
khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(13. Thân do ý)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này chú tâm, hướng tâm đến sự hóa
hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là
sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.
Ví như, này Udayi, một người rút một cây lau ra ngoài vỏ, người ấy nghĩ:
"Ðây là vỏ, đây là cây lau, vỏ khác, cây lau khác, và cây lau từ vỏ rút ra".
Ví như, này Udayi, một người rút thanh kiếm từ bao kiếm. Người ấy nghĩ: "Ðây
là thanh kiếm, đây là bao kiếm; thanh kiếm khác, bao kiếm khác; và thanh
kiếm từ nơi bao kiếm rút ra. Ví như, này Udayi, một người lột xác một con
rắn. Người ấy nghĩ: "Ðây là con rắn, đây là xác rắn; con rắn khác, xác rắn
khác; và con rắn từ nơi xác rắn được lột ra". Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết
giảng con đường tu hành cho các đệ tử . Và các đệ tử của Ta y cứ con đường
tu hành này, chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy
tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các
chi tiết lớn nhỏ,không thiếu một căn nào. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của
Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh
viên mãn.
(14. Thần túc thông)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này dẫn tâm, hướng tâm đến các thần
thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân,
nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua
tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền,
như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già
đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời,
những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi
Phạm thiên. Ví như, này Udayi, một người thợ gốm khéo tay, hay đệ tử người
thợ gốm, với đất sét khéo nhồi nhuyễn, có thể làm các loại đồ gốm tùy theo
sở thích. Ví như, này Udayi, một người thợ ngà khéo tay, hay đệ tử người thợ
ngà, với ngà khéo đẽo khéo dũa, có thể làm các loại đồ ngà tùy theo sở
thích. Ví như, này Udayi, người thợ vàng khéo tay, hay đệ tử người thợ vàng,
với vàng khéo tinh nhuyễn có thể làm các loại đồ vàng tùy theo sở thích;
cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các
đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, dẫn tâm, hướng tâm đến các thần
thông. Vị ấy chứng được các thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều
thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua
núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở
trong nước; đi trong nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết gia đi
trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng,
những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi
Phạm thiên. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi
chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(15. Thiên nhĩ thông)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu
nhân, có thể nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần. Ví
như, này Udayi, một người đang đi qua đường, nghe tiếng trống lớn, tiếng
trống nhỏ, tiếng loa, tiếng xập xỏa và tiếng kiểng. Người ấy nghĩ: "Ðây là
tiếng trống lớn, đây là tiếng trống nhỏ, đây là tiếng loa, tiếng xập xỏa,
tiếng kiểng. Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các
đệ tử. Và các đệ tử của Ta, y cứ con đường tu hành này, với thiên nhĩ, thanh
tịnh, siêu nhân, có thể nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và
gần. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng
ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(16. Tha tâm thông)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, sau khi đi sâu vào tâm của
chúng sanh, của loài người với tâm của mình được biết như sau: "Tâm tham
biết là tâm tham; tâm không tham, biết là tâm không tham. Tâm sân, biết là
tâm sân; tâm không sân, biết là tâm không sân. Tâm si, biết là tâm si; tâm
không si, biết là tâm không si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú; tâm
không chuyên chú, biết là tâm không chuyên chú. Tâm đại hành, biết là tâm
đại hành; tâm không đại hành, biết là tâm không đại hành. Tâm chưa vô
thượng, biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm
Thiền định, biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định, biết là tâm không
Thiền định. Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát,
biết là tâm không giải thoát. Ví như, này Udayi, một người đàn bà, một người
đàn ông, một thiếu niên trẻ hay một thanh niên ưa trang sức, nhìn mặt của
mình trong tấm gương trong sạch sáng suốt, hay một chậu nước trong; nếu mặt
có tỳ vết, liền biết mặt có tỳ vếtà; nếu mặt không có tỳ vết, liền biết mặt
không có tỳ vết". Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho
các đệ tử. Và các đệ tử của Ta, y cứ con đường tu hành này, sau khi đi sâu
vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình được biết như sau:
"Tâm tham, biết là tâm tham; tâm không tham biết là tâm không tham. Tâm sân,
biết là tâm sân; tâm không sân, biết là tâm không sân. Tâm si biết là tâm
si; tâm không si biết là tâm không si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên
chú; tâm không chuyên chú; biết là tâm không chuyên chú. Tâm đại hành, biết
là tâm đại hành; tâm không đại hành, biết là tâm không đại hành. Tâm chưa vô
thượng, biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm
Thiền định, biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định, biết là tâm không
Thiền định. Tâm giải thoát; biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát,
biết là tâm không giải thoát". Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần
đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(17. Túc mạng thông)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, nhớ đến các đời sống quá khứ
như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba
mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn
đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và
thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như
thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như
thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy,
ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ
lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta
được sanh ra ở đây". Như vậy các vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng
với nét đại cương và các chi tiết. Ví như, này Udayi, một người đi từ làng
mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại
trở về làng của mình. Người ấy nghĩ: "Ta từ làng của mình đi đến làng kia,
nơi đây ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã
yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta". Cũng vậy,
này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của
Ta y cứ con đường tu hành này, nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai
đời... Như vậy các vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại
cương và các chi tiết. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an
trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(18. Thiên nhãn thông)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, với thiên nhãn thuần tịnh siêu
nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Những vị ấy biết rõ rằng chúng
sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ
bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh nào làm những ác hạnh
về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo
tà kiến; những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ,
ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về
thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các
nghiệp theo chánh kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung được
sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, các vị ấy với thiên
nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Những vị ấy
biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu,
người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Ví như, này Udayi, một
tòa lầu có thượng đài giữa ngã tư đường, một người có mắt đứng trên ấy, sẽ
thấy những người đi vào nhà, đi từ nhà ra, đi qua lại trên đường, ngồi ở
giữa ngã tư hay trên đài thượng. Người ấy nghĩ: "Những người này đi vào nhà,
những người này đi từ nhà ra, những người này đi qua lại trên đường, những
người này ngồi giữa ngã tư hay trên đài thượng". Cũng vậy, này Udayi, Ta
thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con
đường tu hành này, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và sự
chết của chúng sanh. Những vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ
cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh... đều do hạnh
nghiệp của họ. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú sau
khi chứng ngộ nhờ thắng trí chứng đắc cứu cánh viên mãn.
(19. Lậu tận thông)
Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và
các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, sau khi đoạn tận các lậu hoặc,
tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô
lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ví như, này Udayi, tại dãy núi lớn có
một hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt đứng
trên bờ sông thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi
qua lại, hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: "Ðây hồ nước, thuần tịnh, trong sáng,
không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những
đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ". Cũng vậy, này Udayi, Ta
thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con
đường tu hành này, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng ngộ với
thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát,
tuệ giải thoát. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau
khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.
Này Udayi, đây là pháp thứ năm, do pháp này các đệ tử của Ta cung kính,
tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống
nương tựa vào Ta.
Này Udayi, do năm pháp này, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính
lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Du sĩ Sakuludayi hoan hỷ, tín thọ lời Thế
Tôn dạy.