KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
|
TẬP II
79. TIỂU KINH SAKULUDAYI (THIỆN SANH ƯU ÐÀ DI)
(Cùlasakuludàyi Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá). Veluvana (Trúc Lâm), ở
Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludayi ở tại Moranivapa (Khổng Tước Lâm), một tinh
xá du sĩ, cùng với đại chúng du sĩ.
Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm bát vào Vương Xá để khất thực. Thế Tôn
khởi lên ý nghĩ: "Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Vương Xá, Ta hãy đi đến
tinh xá du sĩ Khổng Tước Lâm, đến du sĩ Sakuludayi".
Rồi Thế Tôn đi đến tinh xá du sĩ Khổng Tước Lâm. Lúc bấy giờ, du sĩ
Sakuludayi đang ngồi với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to
tiếng bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm, như bàn về vua, bàn về ăn trộm, bàn
về Ðại thần, bàn về binh, bàn về sợ hãi, bàn về chiến đấu, bàn về đồ ăn, bàn
về đồ uống, bàn về y phục, bàn về giường nằm, bàn về vòng hoa, bàn về hương
liệu, bàn về bà con, bàn về xe cộ, bàn về làng, bàn về thị trấn, bàn về quốc
độ, bàn về phụ nữ, bàn về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại
chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, bàn việc tạp nhạp, bàn về thế
giới, bàn về biển cả, bàn về hiện hữu và không hiện hữu. Du sĩ Sakuludayi
thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình:
-- Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay Sa-môn
Gotama này đang đến. Sa-môn Gotama ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh. Nếu
biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây.
Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludayi. Du sĩ
Sakuludayi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến! Bạch Thế Tôn, thiện lai Thế Tôn! Ðã lâu
Thế Tôn mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Thế Tôn hãy ngồi! Ðây là chỗ
đã soạn sẵn.
Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sakuludayi lấy một ghế thấp khác
rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludayi đang ngồi một bên:
-- Này Udayi, nay các vị hội họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu
chuyện gì giữa các vị gián đoạn?
-- Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên vấn đề chúng con đang hội họp bàn luận.
Về sau Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì. Bạch Thế Tôn, khi con không
ở gần chúng này, thời chúng này ngồi nói nhiều câu chuyện phù phiếm. Và bạch
Thế Tôn, khi con ở gần chúng này, thời chúng này ngồi nhìn thẳng mặt con và
nghĩ: "Sa-môn Udayi thuyết pháp gì, chúng ta sẽ nghe". Bạch Thế Tôn, khi nào
Thế Tôn đến với chúng này thời con và chúng này ngồi nhìn thẳng mặt Thế Tôn
và nghĩ: "Thế Tôn thuyết pháp gì, chúng ta sẽ nghe".
-- Vậy này Udayi, hãy nói lên ở đây vấn đề gì, để Ta có thể nói chuyện.
-- Thuở xưa, bạch Thế Tôn, rất xa xưa, bậc biết tất cả, thấy tất cả tự
nhận mình có tri kiến không dư thừa: "Khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ và
khi ta thức, tri kiến được tồn tại liên tục thường hằng". Vị ấy khi được con
hỏi câu hỏi về quá khứ, liền tránh né với một câu hỏi khác, trả lời ra ngoài
đề, và tỏ lộ phẫn nộ, sân hận, và bất mãn. Do vậy, bạch Thế Tôn, con khởi
lên niệm hoan hỷ đối với Thế Tôn: "Thật sự Thế Tôn, thật sự bậc Thiện Thệ là
bậc thiện xảo về những pháp này".
-- Này Udayi, vị nào là bậc biết tất cả, thấy tất cả và tự nhận mình có
tri kiến không dư thừa: "Khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ, khi ta thức,
tri kiến được tồn tại, liên tục thường hằng"? Vị ấy là ai mà khi được Ông
hỏi câu hỏi về quá khứ liền tránh né với một câu hỏi khác, trả lời ra ngoài
đề, và tỏ lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn?
-- Bạch Thế Tôn, vị ấy là Nigantha Nataputta.
-- Này Udayi, vị nào nhớ đến các đời sống quá khứ sai biệt như một đời,
hai đời... nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các
chi tiết. Hoặc là vị ấy hỏi Ta câu hỏi về quá khứ, hay là Ta hỏi vị ấy câu
hỏi về quá khứ. Hoặc là vị ấy làm tâm Ta thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về
quá khứ; hay là Ta làm tâm vị ấy thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về quá
khứ. Này Udayi, vị nào với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân thấy sự sống và
chết của chúng sanh, vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao
sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp
của họ. Hoặc là vị ấy hỏi Ta câu hỏi về tương lai, hay là Ta hỏi vị ấy câu
hỏi về tương lai. Hoặc là vị ấy làm tâm Ta thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi
về tương lai, hay là Ta làm tâm vị ấy thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về
tương lai. Và thôi, này Udayi, hãy dừng lại ở quá khứ, hãy dừng lại ở tương
lai! Ta sẽ thuyết pháp cho Ông: Cái này có mặt thì cái đây có mặt; do cái
này sanh, cái đây sanh. Cái này không có mặt thì cái đây không có mặt; do
cái này diệt, cái đây diệt".
-- Bạch Thế Tôn, cho đến trong phạm vi kinh nghiệm với tự ngã này
(Attabhava), con còn không có thể nhớ đến các nét đại cương và các chi tiết,
từ đâu con có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời...
con có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, với các nét đại cương và các chi
tiết như Thế Tôn? Bạch Thế Tôn, nay con còn không thấy được con phiêu phong
quỷ (pamsapisacaka) từ đâu, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân con có thể
tuệ tri rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu,
người may mắn kẻ bất hạnh, như Thế Tôn? Do vậy, bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn
nói với con như sau: "Này Udayi, hãy dừng lại ở quá khứ, hãy dừng lại ở
tương lai. Ta sẽ thuyết pháp cho Ông: "Cái này có mặt thì cái đây có mặt; do
cái này sanh, cái đây sanh. Cái này không có mặt thì cái đây không có mặt;
do cái này diệt, cái đây diệt", thời con lại càng không nhận rõ bội phần.
Tuy vậy, bạch Thế Tôn, con có thể làm tâm Thế Tôn thỏa mãn với câu trả lời
câu hỏi về bậc Ðạo sư của mình.
-- Này Udayi, bậc Ðạo sư của Ông dạy những gì?
-- Bạch Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng con dạy chúng con rằng: "Sắc này là
tối thượng, sắc này là tối thượng".
-- Này Udayi, khi bậc Ðạo sư của Ông dạy Ông rằng: "Sắc này là tối
thượng, sắc này là tối thượng", thời sắc tối thượng ấy là sắc gì?
-- Bạch Thế Tôn, khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn,
hay thù thắng hơn, thời sắc ấy là sắc tối thượng.
-- Này Udayi, sắc ấy là sắc gì, khi sắc ấy không có một sắc nào khác cao
thượng hơn, hay thù thắng hơn?
-- Bạch Thế Tôn, khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn,
hay thù thắng hơn, thời sắc ấy là sắc tối thượng.
-- Này Udayi, lời giải thích của Ông chỉ dài như vậy, Ông phải giải thích
rộng rãi thêm. Nếu Ông nói: "Bạch Thế Tôn, khi một sắc nào không có một sắc
khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn, sắc ấy là sắc tối thượng thời Ông
không chỉ rõ sắc ấy. Này Udayi, như có người nói: "Tôi yêu và luyến ái một
cô gái đẹp trong nước này". Có người hỏi: "Này Bạn, cô gái đẹp mà bạn yêu và
luyến ái ấy, bạn có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lị, hay Bà-la-môn,
hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?" Khi được hỏi, người ấy trả lời không biết. Có người
hỏi: "Này bạn, cô gái đẹp bạn yêu và luyến ái ấy, bạn có biết tên gì, họ gì,
lớn người, thấp người, hay người bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay
da hồng hào? Ở tại làng nào, thị trấn nào, hay thành phố nào?" Khi được hỏi
vậy người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: "Này bạn, như vậy có phải bạn
đã yêu và đã luyến ái một người bạn không biết, không thấy?" Ðược hỏi vậy,
vị ấy trả lời phải. -- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Sự tình là như vậy thời
lời nói của người ấy có phải là không hiệu năng không?
-- Bạch Thế Tôn, sự tình là như vậy thời lời nói của người ấy thật sự là
không hiệu năng.
-- Cũng vậy, này Udayi, khi Ông nói: "Bạch Thế Tôn khi một sắc nào không
có một sắc khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn, thời sắc ấy là sắc tối
thượng", thời Ông không chỉ rõ sắc ấy.
-- Bạch Thế Tôn, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có
tám mặt, khéo dũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu nhạt, tự nó sáng
lên, chói lên, bừng sáng lên; với sắc như vậy, tự ngã là không bệnh, sau khi
chết.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Một hòn lưu ly bảo châu nào, đẹp đẽ,
trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu
nhạt, tự nó sáng lên, chói lên, bừng sáng lên; hay con sâu đom đóm trong đêm
đen tối mù, giữa hai quang sắc này, sắc nào vi diệu hơn, và thù thắng hơn?
-- Bạch Thế Tôn, con sâu đom đóm trong đêm đen tối mù, quang sắc này vi
diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Con sâu đom đóm trong đêm đen tối mù hay
là ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào
vi diệu hơn và thù thắng hơn?
-- Bạch Thế Tôn, ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, quang sắc (ngọn đèn
dầu) này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, hay là
một đống lửa lớn trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này quang sắc nào
vi diệu hơn và thù thắng hơn?
-- Bạch Thế Tôn, đống lửa lớn trong đêm đen tối mù, quang sắc này vi diệu
hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Ðống lửa lớn trong đêm đen tối mù, hay
ngôi sao mai trong một bầu trời trong sáng không mây vào lúc bình minh, giữa
hai quang sắc này, (quang) sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
-- Bạch Thế Tôn, ngôi sao mai trong một bầu trời trong sáng không mây vào
lúc bình minh, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang
sắc.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Ngôi (sao Thái Bạch) sao mai trong bầu
trời trong sáng không mây, trong lúc bình minh, hay là mặt trăng trong khi
đứng bóng, trong một bầu trời trong sáng không mây vào lúc nửa đêm, trong
ngày Uposatha (Bố-tát) vào ngày Rằm, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào
vi diệu hơn và thù thắng hơn?
-- Bạch Thế Tôn, mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời quang
đãng không mây, vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố tát) vào ngày Rằm,
quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một
bầu trời quang đãng không mây, vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố-tát)
vào ngày Rằm, hay là mặt trời trong lúc đứng bóng, trong một bầu trời quang
đãng, không mây, vào lúc giữa trưa, trong tháng cuối mùa mưa về mùa thu,
giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?
-- Bạch Thế Tôn, mặt trời trong lúc đứng bóng, trong một bầu trời quang
đãng không mây, vào lúc giữa trưa, trong tháng cuối mùa mưa về mùa thu,
quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn.
-- Này Udayi, hơn tất cả những quang sắc ấy có nhiều, rất nhiều chư
Thiên, mà ánh sáng của những mặt trăng mặt trời này không thể chiếu sáng. Ta
biết những chư Thiên ấy. Và Ta không nói: "Không có một quang sắc nào khác
vi diệu hơn và thù thắng hơn quang sắc ấy. Còn Ông, này Udayi, Ông lại nói:
"Quang sắc này, thấp kém hơn, yếu đuối hơn quang sắc con sâu đom đóm, quang
sắc ấy là tối thắng". Và Ông không chỉ rõ quang sắc ấy.
-- Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện. Thiện Thệ đã cắt đứt câu chuyện.
-- Này Udayi, sao Ông lại nói: "Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện. Thiện thệ
đã cắt đứt câu chuyện?"
-- Bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư của chúng con dạy như sau: "Quang sắc này
là tối thượng, quang sắc này là tối thượng". Nhưng bạch Thế Tôn, các bậc Ðạo
sư của chúng con khi bị Thế Tôn đối nạn, cật nạn, vấn nạn, (tự tỏ là) trống
không, hư vọng, thất bại.
-- Nhưng này Udayi, có một thế giới nhứt hướng lạc không? Có đạo lộ hợp
lý nào đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc?
-- Bạch Thế Tôn, các bậc Ðạo sư của chúng con có dạy như sau: "Có một thế
giới nhứt hướng lạc. Có đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng
lạc".
-- Này Udayi, đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc là
gì?
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có người đoạn trừ sát sanh, từ bỏ sát sanh, đoạn
trừ lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, đoạn trừ tà dâm, từ bỏ tà
dâm, đoạn trừ nói láo, từ bỏ nói láo, hay sống sau khi thọ trì một loại khổ
hạnh. Bạch Thế Tôn, đó là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt
hướng lạc.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ sát sanh, từ bỏ sát
sanh, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc hay cả lạc cả khổ?
-- Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ lấy của không cho, từ
bỏ lấy của không cho, trong khi ấy, tự ngã là nhứt hướng lạc hay cả lạc cả
khổ?
-- Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ tà dâm, từ bỏ tà dâm,
trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc, hay cả lạc cả khổ?
-- Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ nói láo, từ bỏ nói
láo, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc, hay cả lạc cả khổ?
-- Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi sống thọ trì một loại khổ hạnh,
trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc, hay cả lạc cả khổ?
-- Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.
-- Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Như vậy đạo lộ để chứng đắc một thế giới
nhứt hướng lạc, đạo lộ ấy cả lạc cả khổ xen lẫn?
-- Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện, Thiện Thệ đã cắt đứt câu chuyện.
-- Này Udayi, sao Ông lại nói như vầy: "Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện,
Thiện Thệ đã cắt đứt câu chuyện?"
-- Bạch Thế Tôn, các bậc Ðạo sư của chúng con có dạy như sau: "Có một thế
giới nhứt hướng lạc, có một đạo lộ hợp lý để chứng đắc thế giới nhứt hướng
lạc". Nhưng các bậc Ðạo sư của chúng con khi bị Thế Tôn đối nạn, cật nạn,
vấn nạn, (tự tỏ là) trống không, hư vọng, thất bại. Nhưng bạch Thế Tôn, có
một thế giới nhứt hướng lạc không? Có một đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc
một thế giới nhứt hướng lạc không?
-- Này Udayi, có một thế giới nhứt hướng lạc; có một đạo lộ hợp lý đưa
đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là đạo lộ hợp lý ấy đưa đến chứng đắc thế giới
nhứt hướng lạc?
-- Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo ly dục... chứng đắc và trú Thiền thứ
nhất; sau khi diệt tầm và tứ... chứng đắc và trú Thiền thứ hai... chứng đắc
và trú Thiền thứ ba. Như vậy, này Udayi là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc
thế giới nhứt hướng lạc.
-- Bạch Thế Tôn, đạo lộ ấy không phải là đạo lộ đưa đến chứng đắc thế
giới nhứt hướng lạc. Chứng đắc như vậy, bạch Thế Tôn (phải chăng) là thế
giới nhứt hướng lạc?
-- Này Udayi, chứng đắc như vậy chưa phải là thế giới nhứt hướng lạc. Ðạo
lộ ấy chỉ là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
Khi được nói vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludayi lớn tiếng, cao tiếng, to
tiếng như sau:
-- Ở đây, chúng tôi đã được nghe từ các vị Ðạo sư. Ở đây, chúng tôi đã
được nghe từ các vị Ðạo sư. Chúng tôi không được biết gì hơn như vậy nữa.
Rồi du sĩ Sakuludayi sau khi làm cho các vị du sĩ ấy lặng tiếng xuống,
liền bạch Thế Tôn:
-- Phải đến mức như thế nào, mới là chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc?
-- Ở đây, này Udayi, Tỷ-kheo đoạn trừ lạc... chứng đạt và an trú Thiền
thứ tư; có bao nhiêu chư Thiên được sanh vào thế giới nhứt hướng lạc,
Tỷ-kheo cùng đứng với các chư Thiên ấy, cùng nói chuyện, cùng đàm luận. Cho
đến mức độ như vậy, này Udayi, mới là chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.
-- Bạch Thế Tôn, có phải chỉ vì nhân duyên chứng đắc thế giới nhứt hướng
lạc mà các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự (chỉ dẫn) của Thế Tôn?
-- Này Udayi, không phải chỉ vì nhân duyên chứng đắc thế giới nhứt hướng
lạc mà các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự (chỉ dẫn) của Ta. Này Udayi, có
những pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn. Vì nhơn duyên chứng đắc các
pháp ấy, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là những pháp cao thượng hơn, thù thắng hơn, vì
nhơn duyên chứng đắc các pháp ấy, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn
của Thế Tôn?
-- Ở đây, này Udayi, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến
Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với
thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế
giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng
ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa,
Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp
(hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như
Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: "Ðời sống gia đình đầy
những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng
khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể
sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như
vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình". Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài
sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ
râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo,
từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi,
có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu
tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong
những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời
sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa
dâm dục hạ liệt.
Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc
chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa
nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ
ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này
để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những
kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú
trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy
từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp
tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói
những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù
phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói
những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý có mạch lạc hệ
thống, có ích lợi.
Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một
ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi
xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương
liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và
giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ
bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận
nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và
heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng
nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi
giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo
lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm
thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực
để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim
bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm
y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang
theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết
phạm.
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái,
ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy,
hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi
hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không
nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý
căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi
lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế
nhiễm.
Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn
quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép,
bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác;
khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức,
nói, yên lặng đều tỉnh giác.
Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này,
thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu
rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng
tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở
đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân
hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng
sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống
thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh
giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống
không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ
nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa
tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí
tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền
thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ. Ðây là pháp,
này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này
mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
Lại nữa này Udayi, vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một
trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ðây
là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc
pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta
Lại nữa này Udayi, vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự
lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ
ba. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên
chứng đắc pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
Lại nữa này Udayi, vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước,
chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Ðây là
pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc
pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng không cấu uế, với các phiền não
được đoạn trừ, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy
hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ nhiều đời ở quá khứ, như một đời, hai
đời... nhớ đến nhiều đời sống ở quá khứ, với các nét đại cương và các chi
tiết. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhơn duyên
chứng đắc pháp ấy, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, với các phiền
não được đoạn trừ, dễ sử dụng, nhu nhuyến bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân,
thấy rõ sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người
hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều
do hạnh nghiệp của họ. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng
hơn, do nhơn duyên chứng đắc pháp này, vị Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ
dẫn của Ta.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, với các phiền
não được đoạn trừ, dễ sử dụng, nhu nhuyến, vững chắc, bất động như vậy vị
Tỷ-kheo hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy như thật biết: "Ðây là Khổ"... "Ðây
là Khổ tập"... "Ðây là Khổ diệt"... "Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt". Vị
ấy như thật biết: "Ðâu là những lậu hoặc"... "Ðây là nguyên nhân của lậu
hoặc"... "Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc". Vị ấy như thật biết: "Ðây là con
đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc".
Nhờ hiểu biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát
khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân được giải thoát như
vậy, vị ấy khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời
sống nào khác nữa". Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn, thù thắng hơn,
do nhân duyên chứng đắc pháp này, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn
của Ta.
Ðây là những pháp, này Udayi, cao thượng hơn, thù thắng hơn, do nhơn
duyên chứng đắc những pháp này, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn
của Ta.
Khi nghe nói vậy du sĩ Sakuludayi bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như
người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che
kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối
để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn
dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y
Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con xuất gia,
dưới sự chỉ dẫn Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con thọ đại giới.
Khi được nghe nói vậy, chúng du sĩ của Sakuludayi nói với du sĩ
Sakuludayi:
-- Tôn giả Udayi, chớ có sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn
Gotama. Tôn giả Udayi, đã là bậc Ðạo sư, nay chớ có sống làm đệ tử. Như một
ghè nước tốt, nay bị thủng lỗ bị chảy nước; hành động của Tôn giả Udayi cũng
sẽ như vậy. Tôn giả Udayi, chớ có sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn
Gotama! Tôn giả Udayi đã là bậc Ðạo sư, nay chớ có sống làm đệ tử.
Như vậy, chính chúng du sĩ của Sakuludayi đã làm một chướng ngại pháp cho
du sĩ Sakuludayi sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn.