KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikaya
"The Middle Length Discourses of The Buddha"
Hòa Thượng Thích Minh Châu Dịch Việt
TẬP II
94. KINH GHOTAMUKHA
(Ghotamukha Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Udena trú ở Baranasi (Ba-la-nại), tại rừng xoài Khemiya.
Lúc bấy giờ Bà-la-môn Ghotamukha đến tại Baranasi có một vài công việc.
Rồi Bà-la-môn Ghotamukha tản bộ du hành và đi đến rừng xoài Khemiya. Lúc bấy
giờ Tôn giả Udena đang đi kinh hành ở giữa trời. Rồi Bà-la-môn Ghotamakha đi
đến Tôn giả Udena, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn
giả Udena, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền nói với
Tôn giả Udena đang đi kinh hành:
-- Thưa Tôn giả Sa-môn, không có một sự xuất gia đúng pháp. Hình như đối
với con: vì không thấy một Tôn giả như Ngài, hay ở đây pháp (ấy) là gì?
Khi nghe nói vậy, Tôn giả Udena từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào trong
tinh xá (vihara), rồi ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Bà-la-môn Ghotamukha
cũng từ chỗ kinh hành bước xuống, vào trong tinh xá rồi đứng một bên. Tôn
giả Udena nói với Bà-la-môn Ghotamukha đang đứng một bên:
-- Này Bà-la-môn, đây có những ghế ngồi. Nếu muốn, hãy ngồi xuống.
-- Trong khi chúng con đến với Tôn giả Udena, chúng con không ngồi. Làm
sao người như con lại nghĩ đến ngồi xuống, trước khi được mời.
Rồi Ba La Môn Ghotamukha lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ghotamukha nói với Tôn giả Udena:
-- Thưa Tôn giả Sa-môn, không có sự xuất gia đúng pháp. Hình như đối với
con: vì không thấy một Tôn giả như Ngài, hay ở đây pháp ấy là gì?
-- Này Bà-la-môn, nếu Ông tán đồng những gì ta tán đồng, và bài bác những
gì cần phải bài bác, và có điều gì ta nói mà Ông không biết. Ở đây, Ông có
thể hỏi thêm ta: "Thưa Tôn giả Udena, cái này là thế nào? Ý nghĩa cái này là
gì?" Sau khi sắp đặt như vậy, ở đây sẽ có cuộc nói chuyện giữa chúng ta.
-- Con sẽ tán đồng những gì Tôn giả Udena tán đồng, và bài bác những gì
cần phải bài bác. Và có điều gì Tôn giả Udena nói mà con không biết. Ở đây,
con có thể hỏi thêm Tôn giả Udena: "Tôn giả Udena, cái này là thế nào? Ý
nghĩa cái này là gì?" Sau khi sắp đặt như vậy, ở đây mong sẽ có cuộc nói
chuyện giữa chúng ta.
-- Này Bà-la-môn, ở đây có bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Thế nào
là bốn? Ở đây, này Bà-la-môn có người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành
khổ mình. Ở đây, này Bà-la-môn, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ
người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm hành
khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này
Bà-la-môn, có người vừa không hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình,
vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Người ấy không
hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, không hành khổ người, không
chuyên tâm hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh,
cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Này Bà-la-môn,
bốn hạng người này, hạng người nào được tâm Ông thích ý nhất?
-- Thưa Tôn giả Udena, hạng người tự hành khổ mình chuyên tâm tự hành khổ
mình; hạng người này, tâm con không thích ý. Thưa Tôn giả Udena, hạng người
hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này, tâm con không
thích ý. Thưa Tôn giả Udena, hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyện tâm
hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người; hạng người
này, tâm con không thích ý. Thưa Tôn giả Udena, hạng người vừa không tự hành
khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không
chuyên tâm hành khổ người; hạng người không tự hành khổ mình, không hành khổ
người, ngay trong hiện tại, không có tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh,
cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể, hạng người này, tâm con thích ý.
-- Này Bà-la-môn, vì sao tâm Ông không thích ý ba hạng người này?
-- Thưa tôn giả Udena, hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ
mình, hạng người này hành khổ mình, hành hạ mình, trong khi tự ao ước lạc,
yểm ly khổ. Do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Thưa Tôn giả
Udena, hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người; hạng người này
hành khổ người khác, hành hạ ngừơi khác, trong khi người khác ao ước lạc,
yểm ly khổ. Do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Thưa Tôn giả
Udena, hạng người vừa hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, vừa hành khổ
người, chuyên tâm hành khổ người; hạng người này hành khổ, hành hạ mình và
người khác, trong khi mình và người khác ao ước lạc, yểm ly khổ. Do vậy, tâm
con không thích ý hạng người này. Nhưng thưa Tôn giả Udena, hạng người vừa
không hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, vừa không hành khổ
người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người này không hành khổ mình,
không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm
thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Do vậy, tâm con
thích ý hạng người này.
-- Này Bà-la-môn, có hai hội chúng này. Thế nào là hai? Ở đây, này
Bà-la-môn có hội chúng vì tham đắm châu báu và đồ trang sức, tìm cầu vợ con,
tìm cầu đầy tớ nam, đầy tớ nữ, tìm cầu ruộng đất, tìm cầu vàng bạc. Ở đây,
này Ba La Môn, lại có hội chúng, không tham đắm châu báu và đồ trang sức, từ
bỏ vợ con, từ bỏ đầy tớ nam, đầy tớ nữ, từ bỏ ruộng đất, từ bỏ vàng bạc,
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này Bà-la-môn, hạng người vừa
không hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, vừa không hành khổ
người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người không hành khổ mình,
không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm
thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Này Bà-la-môn,
trong hội chúng nào Ông thấy phần lớn hạng người này: trong hội chúng tham
đắm châu báu và đồ trang sức, tìm cầu vợ con, tìm cầu đầy tớ nam, đầy tớ nữ,
tìm cầu ruộng đất, tìm cầu vàng bạc, hay là trong hội chúng không tham đắm
châu báu và đồ trang sức, từ bỏ vợ con, từ bỏ đầy tớ nam, đầy tớ nữ, từ bỏ
ruộng đất, từ bỏ vàng bạc, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
-- Tôn giả Udena, hạng người vừa không hành khổ mình, không chuyên tâm
hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyện tâm hành khổ người;
hạng người không hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại
không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú
vào Phạm thể; hạng người này, trong hội chúng không tham đắm châu báu, và đồ
trang sức, từ bỏ vợ con, từ bỏ đầy tớ nam, đầy tớ nữ, từ bỏ ruộng đất, từ bỏ
vàng bạc, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, trong hội chúng ấy
con thấy phần lớn hạng người này.
-- Nhưng này Bà-la-môn, nay Ông vừa mới nói: "Chúng con biết như sau,
thưa Tôn giả Sa-môn, không có một sự xuất gia đúng pháp. Hình như đối với
con: vì không thấy một Tôn giả như Ngài hay ở đây pháp ấy là gì?"
-- Thưa Tôn giả Udena, thật sự lời nói ấy có lợi ích cho con. Có một sự
xuất gia đúng pháp. Ở đây, đối với con là như vậy, và mong Tôn giả Udena
chấp trì con là như vậy. Bốn hạng người được Tôn giả Udena nói một cách vắn
tắt, không giải thích rộng ra, lành thay, nếu được Tôn giả Udena khởi lòng
từ phân tích rộng rãi cho con bốn hạng người này.
-- Này Bà-la-môn, vậy hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
-- Thưa vâng, Tôn giả.
Bà-la-môn Ghotamukha vâng đáp Tôn giả Udena.
Tôn giả Udena nói như sau:
-- Này Bà-la-môn, thế nào là hạng người hành khổ mình, chuyên tâm hành
khổ mình? Ở đây, này Bà-la-môn, có người sống lõa thể sống phóng túng không
theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất
thực không chịu đứng một chỗ, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn
dành riêng, không nhận mời đi ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ
nơi miệng chảo, không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy,
không nhận giữa những cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không
nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú,
không nhận từ người đàn bà đang giao cấu người đàn ông, không nhận đồ ăn đi
quyên, không nhận tại chỗ có chó đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không
ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một
nhà, hay chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, hay chỉ
nhận ăn hai miếng... hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy nhà, hay vị ấy chỉ nhận ăn
bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát,...
nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một
bữa,... bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho
đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa
hoang, ăn da vụn, ăn rong nước, ăn bột tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ
hay ăn phân bò. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để
sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải
tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tirita làm áo, mặc da
con sơn dương đen, mặc áo bện bằng từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo
bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc
bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cừu. Vị
ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh nhổ râu tóc, là
người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là người ngồi chõ hỏ, chuyên
sống theo hạnh ngồi chõ hỏ, một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường,
thường ngủ nằm trên giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống
nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy dưới nhiều hình thức, vị ấy sống tự
hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình. Như vậy, này Bà-la-môn, được gọi là
hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình.
Và này Bà-la-môn, thế nào là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành
khổ người? Ở đây, Bà-la-môn, có người giết trâu bò, là người giết heo, là
người giết vịt, săn thú, là thợ săn, thợ đánh cá, ăn trộm, người xử tử các
người ăn trộm, cai ngục và những người làm các nghề độc ác khác. Như vậy,
này Bà-la-môn, được gọi là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ
người.
Và này Bà-la-môn, thế nào là hạng người vừa hành khổ mình, chuyên tâm tự
hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, này
Bà-la-môn, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lị, đã làm lễ quán đảnh,
hay một Bà-la-môn triệu phú. Vị này cho xây dựng một giảng đường mới về phía
Ðông thành phố, cạo bỏ râu tóc, đắp áo da thô, toàn thân bôi thục tô và dầu,
gãi lưng với một sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một
Bà-la-môn tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lát cỏ. Vị
vua sống với sữa từ vú một con bò cái, có con bò con cùng một mầu sắc; bà vợ
chính sống với sữa từ vú thứ hai; và vị Bà-la-môn tế tự sống với sữa từ vú
thứ ba. Sữa từ vú thứ tư dùng để tế lửa. Còn con nghé con thì sống với đồ
còn lại. Vị vua nói như sau: "Hãy giết một số bò đực để tế lễ, hãy giết một
số nghé đực để tế lễ, hãy giết một số nghé cái để tế lễ, hãy giết một số dê
để tế lễ, hãy giết một số cừu để tế lễ, hãy chặt một số cây để làm cột tế
lễ, hãy thâu lượm một số cỏ dabbha để làm chỗ tế lễ. Và những người nô tỳ,
những người phục vụ, những người làm công, những người này vì sợ đòn gậy, vì
sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như
vậy, này Bà-la-môn, được gọi là hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm
tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
Và này Bà-la-môn, thế nào là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không
chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành
khổ người, hạng người này không tự hành khổ mình, không hành khổ người, hiện
tại sống không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự
ngã trú vào Phạm thể?
Ở đây, này Bà-la-môn, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến
Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với
thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế
giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng
ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa,
Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp
(hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như
Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: "Ðời sống gia đình đầy
những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng
khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể
sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như
vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình". Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài
sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ
râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống Bà-la-môn, từ
bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có
lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những
vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống
không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm
dục hạ liệt.
Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc
chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa
nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ
ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này
để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những
kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú
trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy
từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp
tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói
những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù
phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói
những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý có mạch lạc hệ
thống, có ích lợi.
Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một
ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi
xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương
liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và
giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ
bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận
nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và
heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng
nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi
giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo
lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm
thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực
để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim
bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm
y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang
theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết
phạm.
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái,
ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy,
hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi
hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không
nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý
căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi
lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế
nhiễm.
Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn
quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép,
bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác;
khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức,
nói, yên lặng đều tỉnh giác.
Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này,
thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu
rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng
tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở
đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân
hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng
sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống
thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh
giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống
không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ
nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa
tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí
tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền
thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ.
Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc
do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc
Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.
Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ
tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm
đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị
ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai
cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến
mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ
ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn
uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau
khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy vị ấy nhớ đến những đời
sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân,
thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người
hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều
do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: "Thật sự những vị chúng sanh này
thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành
tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp
theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào
cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu
những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu
những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo
các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung,
được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này". Như vậy, vị ấy với
thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy
tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô
xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: "Ðây là Khổ", tuệ tri như thật:
"Ðây là Khổ tập", tuệ tri như thật: "Ðây là Khổ diệt", tuệ tri như thật:
"Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt" tuệ tri như thật: "Ðây là những lậu
hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc", tuệ tri như
thật: "Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Ðây là con Ðường
đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc".
Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi
hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi
lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh
đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống
này nữa".
Như vậy, này Bà-la-môn, được gọi là hạng người vừa không tự hành khổ
mình, không chuyên tâm hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên
tâm hành khổ người. Vị ấy không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay
trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc
thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. "
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ghotamukha nói với Tôn giả Udena:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Udena! Thật vi diệu thay, Tôn giả Udena!
Thưa Tôn giả Udena, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống,
phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem
đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy,
(Chánh) pháp đã được Tôn giả Udena dùng nhiều phương tiện trình bày giải
thích. Con xin quy y Tôn giả Udena, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong
Tôn giả Udena nhận còn làm cư sĩ, từ này cho đến mạng chung, con trọn đời
quy ngưỡng.
-- Này Bà-la-môn, chớ có quy y với ta. Hãy quy y với Thế Tôn, bậc mà ta
đã quy y.
-- Thưa Tôn giả Udena, nay Tôn giả Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
ở tại đâu?
-- Này Bà-la-môn, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nhập
Niết-bàn.
-- Thưa Tôn giả Udena, nếu chúng con được nghe Tôn giả Gotama ở cách mười
do-tuần (yojana), chúng con sẽ đi mười do-tuần ấy để được yết kiến Tôn giả
Gotama, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Udena, nếu chúng con
được nghe Tôn giả Gotama ở cách hai mươi do-tuần... ba mươi do-tuần... bốn
mươi do-tuần... năm mươi do-tuần, chúng con sẽ đi năm mươi do-tuần để được
yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Udena, nếu
chúng con được nghe Tôn giả Gotama ở cách một trăm do-tuần (yojana), chúng
con sẽ đi một trăm do tuần để được yết kiến Tôn giả Gatama, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Udena, vì Tôn giả Gotama đã nhập Niết-bàn,
chúng con xin quy y Tôn giả Gotama đã nhập Niết-bàn, quy y Pháp và quy y
chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Udena nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng
chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Thưa Tôn giả Udena, vua nước Anga có cúng dường cho con một bố thí thường
xuyên hằng ngày, nay con xin cúng dường Tôn giả Udena bố thí thường xuyên
ấy.
-- Này Bà-la-môn, vua nước Anga cúng dường thường xuyên hằng ngày cho Ông
là bao nhiêu?
-- Thưa Tôn giả Udena, năm trăm Kahapana (đồng tiền vàng).
-- Này Bà-la-môn, ta không được phép nhận vàng và bạc.
-- Nếu Tôn giả Udena không được phép nhận vàng và bạc, con sẽ cho làm một
tinh xá cho Tôn giả Udena.
-- Này Bà-la-môn, nếu ông muốn xây dựng một tinh xá cho ta, thì hãy xây
dựng một giảng đường cho chúng Tăng ở Pataliputta.
-- Con lại càng bội phần hân hoan, hoan hỷ, thỏa mãn với Tôn giả Udena,
khi Tôn giả khuyến khích con cúng dường chúng Tăng. Thưa Tôn giả Udena, với
bố thí thường xuyên này và với bố thí thường xuyên khác về sau, con sẽ cho
xây dựng một giảng đường cho chúng Tăng ở Pataliputta.
Rồi Bà-la-môn Ghotamukha với bố thí thường xuyên này và với bố thí thường
xuyên khác về sau, cho xây dựng một giảng đường cho chúng Tăng ở
Pataliputta. Nay giảng đường ấy được gọi là Ghotamukhi.