長 阿 含 經
KINH TRƯỜNG A HÀM
Hán Dịch. Phật Ðà Da Xá
& Trúc Phật Niệm
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ
|
PHẦN I
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt[3]
cùng với chúng đại Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, A-xà-thế[4], vua nước
Ma-kiệt, muốn chinh phạt nước Bạt-kỳ[5],
mới tự nghĩ: “Nước ấy tuy mạnh, dân chúng giàu mạnh, nhưng lấy sức ta để
thắng họ không phải là khó”.
Rồi vua A-xà-thế sai đại thần Bà-la-môn Vũ-xá[6]:
“Khanh hãy đến núi Kỳ-xà-quật, chỗ đức Thế Tôn, nhân danh ta đảnh lễ dưới
chân Thế Tôn, và thăm hỏi đức Thế Tôn, Ngài đời sống thường nhật có thoải
mái không, đi đứng có khỏe mạnh không. Sau đó lại bạch đức Thế Tôn, người
nước Bạt-kỳ tự ỷ hùng cường, dân chúng giàu mạnh, không chịu thần phục ta.
Ta muốn chinh phạt chúng. Không hiểu đức Thế Tôn có dạy bảo gì không? Nếu
Ngài có dạy thế nào, ngươi hãy nhớ cho kỹ, chớ để quên sót, hãy nói lại cho
ta hay những gì khanh đã nghe. Những điều Như Lai nói không bao giờ hư
dối.””
Đại thần Vũ-xá lãnh mạng, cỡi xe báu đi đến núi Kỳ-xà-quật. Đến chỗ phải
dừng, ông xuống xe, đi bộ đến chỗ Thế Tôn, thăm hỏi xong, ngồi lại một bên,
bạch đức Thế Tôn rằng:
“Vua nước Ma-kiệt là A-xà-thế cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật và ân cần
kính hỏi Ngài, đời sống thường nhật có thoải mái chăng, lui tới có được mạnh
khỏe không?”
Ông lại thưa tiếp:
“Người nước Bạt-kỳ tự thị dũng mãnh, dân chúng giàu mạnh, không chịu thần
phục nhà vua, nên nhà vua muốn chinh phạt. Chẳng hay đức Thế Tôn có dạy bảo
gì không?”
Lúc đó, A-nan đang cầm quạt đứng hầu sau Phật. Phật hỏi A-nan:
“Ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ thường nhóm họp bàn những sự việc chân
chánh không?”
A-nan đáp:
“Con có nghe.”
Phật nói với A-nan:
“Nếu được như thế, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó lại càng thịnh vượng; nước
ấy sẽ an ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe người nước Bạt-kỳ vua tôi hòa thuận, trên dưới
kính nhường nhau không?”
“Con có nghe.”
“Nếu được như vậy, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng, và
được yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ thường tôn trọng pháp luật,
hiểu điều cấm kỵ, chẳng trái lễ độ không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy, lớn nhỏ hoà thuận, nước đó càng thêm thịnh
vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan! Ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ hiếu dưỡng cha mẹ, kính thuận
sư trưởng không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu vậy, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng và
yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan! Ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ thường tôn trọng tông miếu,
kính nể quỉ thần không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy thì lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm
thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ giữ gìn khuê môn trinh chính,
thanh khiết, không bậy bạ, cho đến sự vui đùa, nói năng cũng không tà vạy
không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy thì lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm
thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ tôn thờ Sa-môn, kính người trì
giới và thân cận ủng hộ chẳng biếng nhác không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy thì nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn
lâu dài, không thể xâm hại được.
Bấy giờ, Đại thần Vũ-xá liền bạch Phật:
“Nhân dân nước kia nếu thi hành có một điều còn không mong gì thắng họ,
huống nay họ đủ cả bảy điều. Vì việc nước quá bận, con xin từ tạ trở về.”
Phật nói:
“Nên biết thời giờ.”
Vũ-xá liền đứng dậy đi quanh Phật ba vòng rồi vái chào mà lui.
Vũ-xá đi chưa bao lâu, Phật bảo A-nan:
“Ngươi hãy truyền cho các Tỳ-kheo ở chung quanh thành La-duyệt-kỳ nhóm
hết lại giảng đường.”
A-nan vâng lệnh đi đến thành La-duyệt-kỳ tập họp hết các Tỳ-kheo lại
giảng đường xong, bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo đã nhóm đủ, kính mong đức Thánh biết thời.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền đứng dậy đi đến giảng đường, ngồi lên chỗ ngồi dọn
sẵn, bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các thầy bảy pháp bất thối.[7]
Các thầy hãy lắng nghe, lắng nghe, suy nghĩ kỹ.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn. Chúng con muốn nghe.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, bảy pháp bất thối là:
“1. Thường hội họp luận bàn nghĩa lý chân chính, thời lớn nhỏ hòa thuận
mà Chánh pháp không bị suy thoái.[8]
“2. Trên dưới hòa đồng, kính thuận không trái, thời lớn nhỏ hòa thuận mà
Chánh pháp không bị suy thoái.
“3. Trọng pháp, hiểu điều cấm kỵ, không trái qui chế, thời lớn nhỏ hòa
thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“4. Nếu có Tỳ-kheo nào có năng lực hộ chúng, có nhiều tri thức, nên được
kính thờ, thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“5. Niệm hộ tâm ý[9], lấy sự hiếu
kính làm đầu, thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“6. Tịnh tu phạm hạnh, không chạy theo trạng thái dục[10],
thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“7. Trước người rồi sau mình, không tham lam danh lợi, thời già trẻ hòa
thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“Này các Tỳ-kheo, lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không
tổn giảm.
“1. Ưa ít việc, không ưa nhiều việc[11],
thời Chánh pháp tăng trưởng không bị tổn giảm.
“2. Ưa yên lặng, không ưa nói nhiều.
“3. Bớt sự ngủ nghỉ, tâm không hôn muội.
“4. Không tụ họp nói việc vô ích.
“5. Không tự khen ngợi khi mình thiếu đức[12].
“6. Không kết bè bạn với người xấu ác.
“7. Ưa ở một mình nơi chỗ nhàn tịnh, núi rừng.
“Này Tỳ-kheo, được như vậy, thời Chánh pháp sẽ được tăng trưởng, không bị
tổn giảm.
“Này các Tỳ-kheo! Lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị
tổn giảm.
“1. Có tín tâm; tin đức Như Lai, Chí chân, Chánh giác, đủ mười đức hiệu.
“2. Có tàm, biết hổ với điều thiếu sót của mình.
“3. Có quý, biết thẹn với việc ác mình đã làm.
“4. Đa văn, những điều đã được thọ trì đều tốt ở đoạn đầu, đoạn giữa và
đoạn cuối, nghĩa và vị thâm áo, thanh tịnh không bẩn, phạm hạnh đầy đủ.
“5. Siêng năng cần khổ, bỏ ác tu lành, chuyên tâm tập luyện mãi không
ngừng.
“6. Điều đã học tập được, ghi nhớ mãi không quên.
“7. Tu tập trí tuệ, biết pháp sanh diệt, hướng đến Hiền Thánh, dứt hết
gốc khổ.
“Với bảy pháp như thế thời Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo! Lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị
hao tổn: 1. Kính Phật. 2. Kính Pháp. 3. Kính Tăng. 4. Kính giới luật. 5.
Kính thiền định. 6. Kính thuận cha mẹ. 7. Kính pháp không buông lung.
“Bảy pháp như vậy làm cho Chánh pháp tăng trưởng mãi không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo! Lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị
hao tổn: 1. Quán thân bất tịnh. 2. Quán đồ ăn bất tịnh. 3. Chẳng mê đắm thế
gian. 4. Thường suy niệm về sự chết. 5. Suy niệm về vô thường. 6. Suy niệm
về vô thường tức khổ. 7. Suy niệm khổ tức vô ngã.
“Bảy pháp như vậy làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo! Lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị
hao tổn: 1. Tu về niệm giác ý[13],
nhàn tịnh, vô dục, xuất ly, vô vi[14];
2. Tu về pháp giác ý; 3. Tu về tinh tấn giác ý; 4. Tu về hỷ giác ý; 5. Tu về
ỷ giác ý; 6. Tu về định giác ý; 7. Tu về hộ giác ý.[15]
“Bảy pháp như vậy làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo! Có 6 pháp bất thối làm cho Chánh pháp tăng trưởng không
bị hao tổn.
“1. Thân thường hành xử từ ái, không hại chúng sanh.
“2. Miệng nói nhân từ, không diễn lời dữ.
“3. Ý niệm từ tâm, không ôm lòng thêm bớt.[16]
“4. Được vật lợi dưỡng hợp lẽ, chia cùng chúng hưởng, bình đẳng như nhau.
“5. Giữ giới Thánh Hiền không để khuyết lậu, cũng không cấu uế, nhất định
không dao động.[17]
“Thấy đạo Thánh Hiền để dứt hết thống khổ.[18]
“Sáu pháp như vậy làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo, lại có 6 pháp bất thối làm cho Chánh pháp tăng trưởng
không bị hao tổn: 1. Niệm Phật; 2. Niệm Pháp; 3. Niệm Tăng; 4. Niệm giới; 5.
Niệm thí; 6. Niệm thiên. Sáu niệm ấy làm cho chánh pháp tăng trưởng không bị
hao tổn.
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở La-duyệt-kỳ[19],
Ngài bảo A-nan rằng:
“Các thầy hãy sẵn sàng, ta muốn đi đến Trúc viên[20].”
Đáp: “Thưa Vâng.”
Rồi Ngài sửa soạn y bát, cùng đại chúng thị tùng, Thế Tôn theo ngã đường
từ Ma-kiệt đi đến Trúc viên. Sau khi lên giảng đường an tọa, Phật dạy các
Tỳ-kheo về giới, định, tuệ; tu giới đắc định, được quả báo[21]
lớn; tu định đắc trí, được quả báo lớn; tu trí tâm tịnh, được giải thoát
hoàn toàn[22], dứt hết ba thứ lậu
hoặc là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Sau khi đã giải thoát liền phát
sanh trí về sự giải thoát[23], sanh
tử dứt hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sinh
nữa.”
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở Trúc viên, Ngài bảo A-nan:
“Các thầy hãy sửa soạn, hãy đi đến thành Ba-lăng-phất[24].
Đáp: “Kính vâng.”
Rồi Ngài sửa soạn y bát cùng với đại chúng theo hầu, Thế Tôn từ Ma-kiệt
đi đến thành Ba-lăng-phất, và ngồi ở gốc cây ba-lăng.[25]
Lúc ấy các thanh tín sĩ[26]
tại đó nghe Phật cùng đại chúng từ xa đến nghỉ dưới cây ba lăng, bèn cùng
nhau ra khỏi thành, từ xa trông thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây ba-lăng dung
mạo đoan chính, các căn vắng lặng, nhu thuận tột bực, như con rồng lớn, như
nước đứng trong, không chút bợn nhơ, đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ
đẹp trang nghiêm tột bực. Thấy rồi, ai nấy hoan hỷ, lần đến chỗ Phật, đầu
mặt lễ chân Phật, rồi ngồi lại một bên. Đức Thế Tôn theo thứ lớp nói pháp,
khai tỏ, giáo huấn, khiến cho lợi ích, hoan hỷ[27].
Các thanh tín sĩ được nghe Phật nói Pháp liền bạch Phật rằng:
“Chúng con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Thánh chúng. Ngưỡng mong đức
Thế Tôn thương xót chấp nhận cho chúng con được làm ưu bà tắc. Từ nay về
sau, nguyện không giết, không trộm, không tà dâm[28],
không nói dối, không uống rượu. Chúng con sẽ giữ giới không bao giờ quên.[29]
Ngày mai chúng con xin cúng dường. Ngưỡng mong Thế Tôn cùng đại chúng giũ
lòng hạ cố.”
Đức Thế Tôn làm thinh nhận lời. Các thanh tín sĩ thấy Phật làm thinh nhận
lời, liền đứng dậy đi quanh Phật ba vòng vái lễ mà lui. Vì đức Như Lai, họ
dựng ngôi nhà lớn, ban sửa đất đai, quét tước, rưới nước, xông hương, trang
hoàng bảo tọa. Khi thiết cúng xong, họ đến bạch Phật:
“Cỗ đã dọn xong, cúi mong đức Thánh biết đã đến giờ.”
Khi ấy, Thế Tôn liền đứng dậy mang y cầm bát cùng đại chúng đến giảng
đường. Đến nơi, rửa tay chân xong, Phật ngồi giữa, các Tỳ-kheo ngồi bên tả,
các thanh tín sĩ ngồi bên hữu.
Bấy giờ, Thế Tôn nói với các thanh tín sĩ rằng:
“Phàm người phạm giới thời có năm điều suy hao. Những gì là năm? 1. Cầu
tài lợi không được toại nguyện. 2. Dẫu có được tài lợi, ngày mỗi hao mòn. 3.
Bất cứ đến đâu cũng không được mọi người kính nễ. 4. Tiếng xấu đồn khắp
thiên hạ. 5. Thân hoại mệnh chung sa vào địa ngục. Trái lại, này các thanh
tín sĩ, phàm người giữ giới sẽ có năm công đức. Những gì là năm? 1. Cầu gì
đều được như nguyện. 2. Tài sản đã có thì thêm mãi không hao sút. 3. Ở đâu
cũng được mọi người kính mến. 4. Tiếng tốt đồn khắp thiên hạ. 5. Thân hoại
mệnh chung được sanh lên cõi trời.”
Bấy giờ, đã nửa đêm, Phật bảo các thanh tín sĩ hãy trở về. Các thanh tín
sĩ vâng lời, đi quanh Phật ba vòng, rồi đảnh lễ mà lui.
Bấy giờ, khi đêm vừa qua, ánh sáng vừa ló, Thế Tôn đi tới chỗ thanh vắng,
bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấu suốt, thấy các vị thần lớn mỗi vị phong thủ
đất đai nhà cửa[30]
riêng, các thần trung, thần hạ cũng phong thủ đất đai nhà cửa. Thế Tôn liền
trở lại giảng đường, lên chỗ ngồi. Tuy đã biết, nhưng Ngài vẫn hỏi:
“Này A-nan, ai tạo lập thành Ba-lăng-phất này?”
A-nan bạch Phật:
“Thành này do đại thần Vũ-xá tạo ra để phòng ngự nước Bạt-kỳ.”
Phật nói với A-nan:
“Người tạo ra thành này rất hợp ý trời[31].
Lúc đêm đã tàn, trời vừa sáng, Ta đi tới chỗ thanh vắng, bằng thiên nhãn,
xem thấy các đại thiên thần mỗi vị phong thủ đất đai nhà cửa riêng, các
trung thần, hạ thần cũng phong thủ đất đai nhà cửa. A-nan! Nên biết chỗ đất
đai nhà cửa nào được đại thiên thần phong thủ, ai ở đó tất được an lạc nhiều[32];
còn chỗ trung thần phong thủ thì hàng trung nhân ở; chỗ hạ thần phong thủ
thì hạ nhân ở và công đức nhiều ít cũng tùy theo chỗ ở ấy.
“Này A-nan, chỗ này là chỗ hiền nhân ở, kẻ bán buôn qui tụ, phép nước
đúng đắn không dối ngụy[33]. Thành
này rất tốt, được mọi nơi suy tôn, không thể phá hoại. Lâu về sau nếu có bị
phá chăng chỉ do ba việc; một là bị nước lớn, hai là bị lửa lớn và ba là bị
người trong thông mưu với người ngoài phá hoại được thành này.”
Trong lúc đó các thanh tín sĩ Ba-lăng-phất suốt đêm cùng bày biện. Đúng
giờ, họ đến bạch Phật:
“Cỗ đã dọn xong, cúi mong đức Thánh biết là đã đến giờ.[34]”
Bấy giờ, các thanh tín sĩ bưng dọn, tự tay bưng sớt đồ ăn. Thọ thực xong
dùng nước rửa. Rồi họ dọn một chỗ ngồi nhỏ trước Phật. Phật chỉ bày mà rằng:
“Chỗ này của các ngươi là chỗ bậc hiền trí, phần nhiều người trì giới
tịnh tu phạm hạnh cư trú; các thiện thần vui mừng ủng hộ.”
Rồi Ngài chú nguyện cho họ:
“Biết kính trọng thì được người kính trọng. Biết phụng sự thì được người
phụng sự. Bố thí, kiêm ái, có lòng từ mẫn, được chư thiên khen ngợi và
thường cùng người lành sum họp, không cùng người ác ở chung.”
Bấy giờ, sau khi thuyết pháp xong, đức Thế Tôn liền rời khỏi chỗ, đại
chúng hầu quanh mà đưa Ngài trở về. Đại thần Vũ-xá đi theo sau Phật, nghĩ
rằng:
“Hôm nay, nhân đức Sa-môn Cù-đàm đi qua cửa thành này, ta hãy gọi cửa này
là cửa Cù-đàm.[35]
”
Lại nhân bến sông mà Phật sang ngang, liền đặt tên chỗ đó là bến Cù-đàm[36].
Đức Thế Tôn ra khỏi thành Ba-lăng-phất, đi đến bờ sông. Lúc ấy, trên bờ
sông có nhiều người, trong số đó có người thì dùng thuyền có người dùng bè,
có người dùng phà mà sang sông. Đức Thế Tôn cùng đại chúng chỉ trong khoảnh
khắc, như lực sĩ co duỗi cánh tay, đã đến cả bên kia sông. Sau khi quán sát
nghĩa này, Thế Tôn liền nói bài tụng:
Phật là hải thuyền sư
Pháp là cầu sang sông,
Là chiếc xe đại thừa,
Đưa hết thảy trời, người.
Là đấng tự giải thoát,
Sang sông, thành Phật đà[37].
Khiến tất cả đệ tử,
Giải thoát, đắc Niết-bàn.
Thế Tôn lại từ nước Bạt-kỳ đi đến thôn Câu-lị[38]
nghỉ ở dưới một khóm rừng và bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn pháp thâm diệu: một là Thánh giới; hai là Thánh định; ba là Thánh
tuệ và bốn là Thánh giải thoát. Đó là pháp vi diệu khó hiểu, khó biết, mà ta
với các ông xưa kia vì không hiểu rõ nên mãi trôi lăn không cùng trong vòng
sống chết.”
Quán xét theo nghĩa đó, Phật liền dạy bài kệ:
Giới, định, tuệ, giải thoát,
Duy Phật phân biệt rõ.
Lìa khổ độ chúng sanh,
Khiến dứt mầm sanh tử.
Bây giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở Câu-lị thôn lại bảo A-nan cùng đi
đến thôn Na-đà[39]. A-nan vâng lời,
khoác y ôm bát cùng với đại chúng đi theo Phật, theo con đường từ Bạt-kỳ đến
Na-đà và dừng lại chỗ Kiền-chùy[40].
Bấy giờ, A-nan ở chỗ thanh vắng yên lặng suy nghĩ: “Thôn Na-đà này có
mười hai cư sĩ là Già-già-la, Già-lăng-già, Ty-già-đà, Gia-lê-du, Giá-lâu,
Bà-da-lâu, Bà-đầu-lâu, Tẩu-bà-đầu-lâu, Đà-lê-xá-nậu, Tẩu-đạt-lê-xá-nậu,
Gia-du, Gia-du-đa-lâu đã qua đời.[41]
Hiện nay không biết họ sinh về đâu? Lại có năm mươi người khác mệnh chung,
lại năm trăm người khác nữa mệnh chung, nay không biết họ sanh về chỗ nào?”
A-nan suy nghĩ như thế xong, rời khỏi nơi nhàn tịnh, đến chỗ Thế Tôn, đầu
mặt lễ chân Phật xong, ngồi xuống một bên, bạch Phật:
“Thế Tôn, vừa rồi con ở chỗ nhàn tịnh, lặng lẽ suy nghĩ: Thôn Na đà này
có mười hai cư sĩ, Già-gia-la, v.v…, mạng chung; lại có năm mươi người nữa
mạng chung, lại có năm trăm người mạng chung; không biết họ sinh về đâu. Cúi
mong Thế Tôn nói rõ cho con.”
Phật bảo A-nan:
“Mười hai cư sĩ kia, là Già-già-la, v.v…, đã đoạn năm hạ phần kết[42]
nên mệnh chung sinh thiên[43]; họ
nhập Niết-bàn ở đó chứ không trở lại cõi này nữa. Còn năm mươi người kia
mạng chung do đoạn trừ ba kết sử[44];;
dâm, nộ, si mỏng, đắc quả Tư đà hàm[45],
sẽ trở lại cõi này để dứt hết gốc khổ. Còn năm trăm người kia mạng chung do
đoạn trừ ba kết sử, đắc quả Tu-đà-hoàn[46],
không còn bị đọa vào ác thú, chắc chắn thành đạo, chỉ trở lại cõi này bảy
lần để dứt hết gốc khổ rồi thôi.
“Này A-nan, phàm có sinh thì có chết, đó là lẽ thường của cuộc đời, có gì
là quái lạ. Nếu thấy mỗi người chết, ngươi đều tới hỏi ta như vậy chẳng là
quấy rầy ư?”
A-nan đáp:
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn, quả là phiền nhiễu.”
Phật bảo:
“A-nan, nay ta sẽ nói cho ngươi về Pháp kính[47]
để các Thánh đệ tử biết chỗ thọ sanh; dứt hết ba đường dữ, chứng quả
Tu-đà-hoàn, không quá bảy đời sẽ tận cùng biên tế của khổ; và cũng có thể
nói việc ấy cho người khác nghe.
“Này A-nan! Pháp kính là, Thánh đệ tử đã đạt được bất hoại tín[48],
hoan hỷ tin Phật là đức Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, mười đức hiệu
đầy đủ. Hoan hỷ tin Pháp là giáo pháp chân chính vi diệu, Phật tự ý nói ra[49],
không cuộc hạn thời tiết, dạy bày con đường đi đến Niết-bàn; được thực hành
bởi kẻ trí. Hoan hỷ tin Tăng là chúng khéo hòa đồng, sở hành chất trực không
dối trá, và chứng thành đạo quả, trên dưới thuận hòa, đầy đủ pháp thân, hoặc
có người đang hướng tới Tu-đà-hoàn và được quả Tu-đà-hoàn, có người đang
hướng tới Tư-đà-hàm và được quả Tư đà hàm, có người đang hướng tới A na hàm
và được quả A na hàm, có người đang hướng tới A-la-hán và được quả A-la-hán[50].
Ấy là bốn đôi tám bậc, chúng Hiền Thánh của Như Lai, xứng đáng được cung
kính, làm ruộng phước cho đời. Tin giới của Hiền Thánh là thanh tịnh, không
nhơ, không bị sứt mẻ, không rò rỉ, được các bậc minh triết tu theo mà chứng
đến tam-muội định vậy.
“A-nan, đó là Pháp kính, khiến Thánh đệ tử biết chỗ thọ sanh, dứt sạch ba
đường dữ, chứng đắc Tu-đà-hoàn, không quá bảy đời hoàn tất tận cùng biên tế
của khổ; và cũng có thể nói cho người khác sự việc ấy.”
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở đó, bèn bảo A-nan hãy cùng đi đến
nước Tỳ-xá-ly[51]. A-nan vâng lời,
mang y cầm bát, cùng với đại chúng theo hầu Thế Tôn, theo con đường từ
Bạt-kỳ đến Tỳ-xá-ly và ngồi nghỉ ở một gốc cây.
Bấy giờ có một dâm nữ tên Am-bà-bà-lê[52]
vừa nghe Phật cùng các đệ tử đến Tỳ-xá-ly, đang ngồi dưới một gốc cây, liền
sửa soạn xe báu, muốn đi đến chỗ Phật để lễ bái cúng dường. Khi chưa đến
nơi, từ xa nàng đã thấy đức Thế Tôn diện mạo đoan chánh, các căn đặc biệt
khác thường, tướng tốt đầy đủ, như mặt trăng ở giữa những vì sao. Nàng rất
hoan hỷ, xuống xe đi bộ lần tới chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi lại một bên.
Rồi Thế Tôn, theo thứ lớp thuyết pháp, khai giải, giáo huấn, khiến cho
lợi ích, hoan hỷ. Nghe Phật nói xong nàng phát tâm vui mừng quỳ bạch Phật
rằng:
“Bắt đầu từ hôm nay con quy y ngôi Tam bảo. Mong Phật nhận lời cho con
được làm ưu bà di ở trong chánh pháp, trọn đời con không giết, không trộm,
không tà dâm[53], không nói dối,
không uống rượu.”
Lại bạch Phật:
“Cúi mong Thế Tôn cùng các đệ tử ngày mai nhận lời thỉnh cầu của con. Còn
tối nay thì xin nghỉ tại vườn của con.”
Khi ấy Phật im lặng nhận lời.
Nàng thấy Phật đã im lặng nhận lời, liền đứng dậy đi quanh Phật ba vòng
rồi đảnh lễ mà trở về. Nàng đi chưa bao lâu, Phật bảo A-nan:
“Ta cùng các ngươi đi đến khu vườn kia.”
Đáp:
“Thưa vâng.”
Phật bèn rời chỗ ngồi, ôm y cầm bát cùng chúng đệ tử một nghìn hai trăm
năm mươi người đi đến khu vườn ấy.
Lúc bấy giờ, nhóm người Lệ-xa[54]
ở Tỳ-xá-ly, nghe Phật đến nghỉ tại vườn của Am-bà-bà-lê thì liền thắng những
cỗ xe báu năm sắc lộng lẫy; có người cỡi xe xanh, ngựa xanh, phan dù áo mão
đều xanh; ngựa xe năm sắc đều như vậy. Rồi thì, những người Lệ-xa với y phục
đồng sắc, cả năm trăm người kéo đến Phật. Nàng Am-bà-bà-lê sau khi từ giã
Phật trở về, giữa đường gặp xe họ. Lúc đó, xe nàng chạy rất nhanh, cùng với
xe báu của họ móc kéo nhau, khiến phướn lọng gãy đổ cả, mà vẫn không chịu
tránh đường. Các người Lệ xa trách:
“Nàng ỷ thế gì mà không tránh đường cho chúng tôi đi, để tông xe cộ chúng
tôi khiến phướn lọng gãy cả?”
Am-bà đáp:
“Thưa quý ngài, tôi đã thỉnh Phật ngày mai đến nhà tôi thọ trai. Tôi phải
về gấp sửa soạn đồ cúng dường, thành phải đi mau, không tránh kịp.”
Nhóm Lệ xa liền bảo nàng:
“Nàng khoan hãy thỉnh. Để chúng tôi thỉnh trước, chúng tôi sẽ cho nàng
một trăm ngàn lượng vàng.”
Nàng đáp:
“Tôi đã thỉnh trước rồi, không thể nhường được.”
Nhóm Lệ xa tiếp:
“Chúng tôi sẽ tặng nàng gấp mười sáu lần trăm ngàn lượng vàng. Hãy để
chúng tôi thỉnh trước.”
Nàng vẫn không chịu:
“Tôi đã thỉnh rồi. Nhất định không thể làm như thế được.”
Các Lệ xa lại nói:
“Chúng tôi sẽ tặng bằng số tài bảo nửa nước, nàng hãy để chúng tôi thỉnh
trước.”
Nàng trả lời:
“Giả sử đem tài bảo của cả nước cấp tôi, tôi cũng không nhận. Vì sao? Vì
Phật hiện ở tại vườn tôi, Ngài đã nhận lời tôi thỉnh trước. Việc ấy đã xong,
không thể nhường được.”
Các Lệ xa khoa tay than tiếc, rằng:
“Nàng con gái này đã làm chúng ta thiếu mất cái phúc quả đầu tiên.”
Họ liền tiến tới khu vườn Phật đang ở. Khi đức Thế Tôn từ xa thấy năm
trăm người Lệ-xa, với ngựa xe số vạn, chật đường tiến đến, Ngài bảo các
Tỳ-kheo:
“Các ngươi nên biết chư thiên Đao-lợi khi đi dạo công viên, thì uy nghi
và sự trang sức cũng không khác đoàn người đó mấy. Này các Tỳ-kheo, hãy tự
nhiếp tâm, gìn giữ oai nghi đầy đủ. Tỳ-kheo tự nhiếp tâm mình như thế nào?
Tỳ-kheo quán thân trên nội thân, siêng năng không lười biếng, ghi nhớ không
quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thân trên ngoại thân,… quán nội ngoại
thân,… trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thọ, quán ý, quán pháp cũng như thế.[55]
Thế nào là Tỳ-kheo đầy đủ oai nghi? Ở đây, Tỳ-kheo, khi đi thì biết là
đi, dừng thì biết là dừng, quay nhìn tả hữu, co duỗi, cúi ngước, mang y cầm
bát cho đến việc ăn uống, thuốc thang, đều không để mất nghi tắc. Khôn khéo
tìm cách trừ bỏ ấm cái[56], đi ở nằm
ngồi, ngủ thức, nói năng hay im lặng đều nhiếp tâm đừng cho loạn động. Đấy
gọi là Tỳ-kheo đầy đủ oai nghi.”
Bấy giờ năm trăm người Lệ-xa đi đến vườn Am-bà-bà-lê. Gần đến chỗ Phật,
xuống xe đi bộ đến, đầu mặt đảnh lễ chân Phật, rồi lui ngồi một bên. Như Lai
ở trên chỗ ngồi, ánh sáng độc nhất tỏa sáng che mờ đại chúng, như trăng mùa
thu; lại như trời đất trong sáng sạch sẽ không chút bụi dơ, mặt trời giữa hư
không độc nhất tỏa sáng. Rồi thì, năm trăm người Lệ-xa hầu vây quanh chỗ
ngồi của Phật. Lúc ấy, giữa hội chúng có một người Phạm chí tên là Tịnh Kỳ[57],
từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo vai hữu, đầu gối hữu quỳ xuống đất, chắp tay
hướng về Phật, tán thán bằng bài kệ rằng:
Vua Ma-kiệt, Ương-già,
Để được nhiều thiện lợi,
Khoác khôi giáp bảo châu.
Phật hiện ở nước ấy.
Uy đức động tam thiên,
Tiếng vang như núi Tuyết.
Như hoa sen đã nở,
Mùi hương thật mầu nhiệm.
Nay thấy ánh sáng Phật,
Như mặt trời mới mọc;
Như trăng qua bầu trời,
Không bị mây che khuất.
Thế Tôn cũng như vậy,
Sáng chiếu cả thế gian.
Quán trí tuệ Như Lai
Như tối gặp đuốc sáng;
Đem mắt sáng cho đời,
Quyết trừ các nghi hoặc.
Năm trăm người Lệ-xa sau khi nghe bài kệ ấy lại bảo Tịnh Ký:
““Ngươi hãy lặp lại.”
Rồi Tịnh Ký ở trước Phật lặp lại ba lần. Năm trăm Lệ-xa sau khi nghe lặp
lại bài kệ, mỗi người cởi y báu mà cho Tịnh Ký. Tịnh Ký bèn đem y báu dâng
đức Như Lai. Phật vì lòng từ mẫn nên thọ nhận.
Bấy giờ, Thế Tôn nói với những người Lệ-xa ở Tỳ-xá-ly rằng:
“Ở đời có năm thứ báu rất khó có được. Những gì là năm? Một là Như Lai,
Chí Chân xuất hiện ở đời rất khó có được. Hai là người có thể giảng thuyết
Chánh pháp của Như Lai rất khó có được. Ba là người có thể tín giải pháp mà
Như Lai diễn thuyết rất khó có được. Bốn là người có thể thành tựu pháp mà
Như Lai diễn thuyết rất khó có được. Năm là hiểm nguy được cưu ách mà biết
đáp trả, hạng người ấy cũng rất khó có.[58]
Ấy là 5 thứ báu rất khó có được.”
Năm trăm người Lệ-xa sau khi nghe Phật khai thị, giáo huấn khiến cho lợi
ích, hoan hỷ, liền bạch Phật;
“Cúi mong Theá Tôn và chúng đệ tử ngày mai nhận lời thỉnh cầu của chúng
con.”
Phật nói với các người Lệ-xa:
“Các khanh đã thỉnh Ta. Ta nay như thế là đã được cúng dường rồi. Kỹ nữ
Am-bà-bà-lê đã thỉnh trước.”
Năm trăm người Lệ-xa nghe Am-bà-bà-lê nữ đã thỉnh Phật trước, ai nấy đều
vung tay mà nói rằng:
““Chúng ta muốn cúng dường Như Lai, mà nay người đàn bà kia đã phổng tay
trên ta rồi.”
Rồi họ rời chỗ ngồi, đầu mặt lễ Phật, đi quanh Phật ba vòng, sau đó ai về
nhà nấy.
Bấy giờ, Am-bà-bà-lê nữ bèn bày dọn thực phẩm thượng diệu để cúng Phật và
Tăng. Sau khi ăn xong, thâu bát, dẹp bàn ghế. Rồi kỹ nữ tay bưng bình bằng
vàng dâng nước rửa xong, nàng đến trước Phật bạch rằng:
“Trong số những khu vườn trong thành Tỳ-xá-ly này vườn của con là hơn
hết. Nay con đem vườn ấy dâng cúng Như Lai. Ngưỡng nguyện Như Lai vì thương
tưởng con mà thọ nhận.”
Phật nói với người kỹ nữ:
“Ngươi có thể đem khu vườn này cúng dường trước hết là Phật, và chiêu-đề
tăng[59]. Vì sao vậy? Các thứ vườn
tược, phòng xá, y bát, sáu vật mà Như Lai sở hữu, ngay dù những Ma, Thích,
Phạm, chư thiên có đại oai lực, không ai có khả năng kham thọ sự cúng dường
ấy.”
Kỹ nữ thọ lãnh lời dạy, bèn đem khu vườn mà cúng trước tiên là Phật, và
chiêu đề tăng. Phật vì lòng từ mẫn đối với nàng nên thọ nhận. Rồi Ngài nói
bài kệ:
Dựng tháp, lập tinh xá,
Cúng vườn cây mát mẻ;
Cầu thuyền để đưa người;
Và cho cả nhà, gác;
Đồng trống cho nước cỏ,
Phước ấy ngày đêm tăng;
Người đủ giới thanh tịnh,
Ắt sẽ đến chỗ lành.
Sau đó, kỹ nữ Am-bà-bà-lê mang một cái giường nhỏ đến ngồi trước Phật.
Phật theo thứ lớp nói pháp, mở bày, dạy dỗ, khiến cho lợi ích, hoan hỷ. Ngài
giảng về thí, về giới, về sinh thiên, về dục là đại hoạn, ô uế, bất tịnh,
phiền não là chướng ngại, xuất ly là tối thượng.
Khi Thế Tôn biết tâm ý của nàng đã nhu nhuyến, hòa duyệt, các triền cái
vơi mỏng, rất dễ hoá độ, như pháp của chư Phật, Ngài bèn giảng cho nàng về
khổ thánh đế, khổ tập thánh đế, khổ diệt và khổ diệt xuất yếu thánh đế. Bấy
giờ nàng Am-bà-bà-lê, tín tâm thanh tịnh, như tấm lụa trắng trong sạch dễ
nhuộm màu, ngay trên chỗ ngồi mà xa lìa trần cấu, con mắt pháp của các pháp
sanh, thấy pháp, đắc pháp, quyết định chánh trụ, không còn đọa ác đạo, thành
tựu vô úy. Nàng bèn bạch Phật:
“Con nay quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói ba lần như vậy. Cúi mong
Như Lai nhận con làm một ưu bà di trong chánh pháp. Từ nay về sau, cho đến
trọn đời không giết, không trộm, không tà dâm, không dối trá, không uống
rượu.”
Người nữ ấy sau khi thọ lãnh năm giới từ Phật, xả bỏ tập quán từ trước,
tiêu trừ những cấu uế, rời khỏi chỗ ngồi, lễ Phật rồi lui.
Bấy giờ, Thế Tôn tùy nghi trú ở Tỳ-xá-ly, bảo A-nan:
“Các ngươi hãy sửa soạn. Ta muốn đi đến Trúc lâm[60].”
Đáp:
“Kính vâng.”
Rồi sửa soạn y bát, cùng đại chúng hầu quanh Thế Tôn, đi theo con đường
từ Bạt-kỳ đến Trúc lâm kia.
Lúc ấy có người Bà-la-môn tên là Tỳ-sa-đà-da[61],
nghe Phật cùng đại chúng đến Trúc lâm này, liền thầm nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm
này có tiếng tốt đồn khắp bốn phương, mười hiệu đầy đủ, ở giữa chư Thiên,
Thích, Phạm, Ma hay Thiên ma, Sa-môn, Bà-la-môn, mà tự mình tác chứng, rồi
thuyết pháp cho người khác, với những ngôn từ mà khoảng đầu, giữa và cuối
thảy đều chân chánh, nghĩa vị thâm áo, phạm hạnh đầy đủ. Bậc Chân nhân như
thế, ta nên đến thăm viếng.”
Rồi Bà-la-môn ra khỏi thành, đi đến Thế Tôn chỗ rừng trúc[62];
chào hỏi xong, ngồi sang một bên. Thế Tôn theo thứ lớp thuyết pháp cho ông,
mở bày, chỉ dạy, khiến cho ích lợi, hoan hỷ. Nghe xong, hoan hỷ, ông bèn
thỉnh Thế Tôn cùng đại chúng ngày mai đến nhà thọ thực. Phật im lặng nhận
lời. Bà-la-môn biết Ngài đã nhận lời, liền đứng dậy, nhiễu quanh Phật ba
vòng rồi cáo về.
Vào ngay đêm đó dọn bày các thứ ẩm thực. Sáng mai, lúc đã đến giờ, bèn
báo tin:
“Cúi mong đức Thánh biết là đã đến giờ.”
Bấy giờ Thế Tôn khoác y ôm bát, cùng đại chúng vây quanh, đi đến nhà kia,
ngồi lên chỗ dọn sẵn. Rồi thì, Bà-la-môn dâng đủ các thực phẩm ngon cúng
Phật và Tăng. Ăn xong, thâu bát, dùng nước rửa xong, ông mang một cái giường
nhỏ đến ngồi trước Phật. Thế Tôn vì Bà-la-môn mà nói một bài tụng:
Nếu đem ẩm thực,
Y phục, ngọa cụ,
Cho người trì giới,
Tất được quả lớn.
Đó là bạn thật,
Chung thủy theo nhau;
Đến bất cứ đâu,
Như bóng theo hình.
Vậy nên gieo thiện,
Làm lương đời sau.
Phước là nền tảng,
Chúng sanh an trụ.
Phước là thiên hộ,
Đường đi không nguy.
Sống không gặp nạn;
Chết được sanh thiên.
Rồi Thế Tôn nói pháp vi diệu cho Bà-la-môn; mở bày, chỉ dẫn, khiến cho
lợi ích, hoan hỷ. Sau đó, Ngài rời chỗ ngồi mà đi.
Lúc ấy, ở địa phương này thóc quý, đói kém, nên khất thực khó được. Phật
bảo A-nan:
“Hãy gọi các Tỳ-kheo hiện ở địa phương này tập họp ở giảng đường. A-nan
đáp vâng, rồi thừa lệnh Phật kêu gọi các Tỳ-kheo xa gần về tập họp hết ở
giảng đường. Sau khi đại chúng trong nước này đều đã tập họp, A-nan bạch
Phật:
“Đại chúng đã tập họp, cúi mong đức Thánh biết thời.”
Bấy giờ, Phật rời chỗ ngồi, đi đến giảng đường, ngồi lên chỗ dọn sẵn, bảo
các Tỳ-kheo:
“Đất này đói kém, khất thực khó khăn, các ngươi nên chia thành từng nhóm,
tùy theo chỗ quen biết, hãy đến Tỳ-xá-ly và nước Việt-kỳ[63]
mà an cư ở đó để có thể không bị thiếu thốn. Ta một mình cùng với A-nan an
cư ở đây.”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy, ra đi. Riêng Phật với A-nan ở lại. Về sau,
trong lúc an cư, thân Phật nhuốm bịnh, khắp cả mình đều đau. Phật tự nghĩ:
“Ta nay cả người đều đau mà các đệ tử đều không ở đây. Nếu Ta nhập Niết-bàn
thì không thích hợp. Vậy Ta hãy tinh cần tự lực lưu lại thọ mạng”. Rồi Thế
Tôn ra khỏi tịnh thất, đến ngồi chỗ mát mẻ. A-nan trông thấy liền vội đến,
bạch Phật rằng:
“Nay con xem gương mặt Thế Tôn, bịnh hình như có bớt.[64]”
A-nan lại nói:
“Thế Tôn bịnh, tâm con sợ hãi, lo buồn thắt chặt, hoang mang không biết
phương hướng. Nhưng hơi thở chưa dứt, còn chút tỉnh táo, con thầm nghĩ rằng:
‘Thế Tôn chưa diệt độ ngay, con mắt của đời chưa tắt, Đại pháp chưa suy tổn,
sao nay Ngài không có điều gì dạy bảo các đệ tử?’[65].”
Phật bảo A-nan:
“Chúng Tăng còn có điều gì cần ở Ta nữa? Nếu có ai tự mình nói: ‘Ta duy
trì chúng Tăng, ta nhiếp hộ chúng Tăng’, thì người ấy nên có lời di giáo cho
chúng Tăng. Như Lai không nói: ‘Ta duy trì chúng tăng. Ta nhiếp hộ chúng
tăng.’[66] Vậy tại sao Ta lại phải có
lời di giáo cho chúng tăng? Này A-nan, những pháp Ta đã giảng thuyết, trong
cũng như ngoài đều đã hoàn tất.[67]
Ta không bao giờ tự xưng sở kiến thông đạt.[68]
Ta nay đã già rồi, tuổi đã đến tám mươi rồi. Cũng như cỗ xe cũ kỹ, nhờ
phương tiện tu sửa mà có thể đi đến nơi. Thân ta cũng vậy, nhờ sức phương
tiện còn hơi duy trì được tuổi thọ, Tự lực tinh tấn mà nhẫn chịu sự đau nhức
này. Không suy niệm tất cả tưởng, khi nhập vô tưởng định[69],
thân an ổn, không có não hoạn. Vì vậy, A-nan, hãy tự mình thắp sáng; thắp
sáng nơi pháp, chớ thắp sáng nơi khác. Hãy tự nương tựa mình, nuơng tựa nơi
pháp, chớ nương tựa nơi khác.[70]
Thế nào là ‘Hãy tự mình thắp sáng, thắp sáng nơi pháp, chớ thắp sáng nơi
khác; hãy tự nương tựa mình, nương tựa pháp, chớ nương tựa nơi khác’? Này
A-nan, Tỳ-kheo quán nội thân, tinh cần không biếng nhác, ghi nhớ không quên,
trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán ngoại thân; quán nội ngoại thân, tinh cần không
biếng nhác, ghi nhớ không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thọ, quán ý, quán
pháp cũng vậy. Này A-nan, đó gọi là ‘Hãy tự thắp sáng; thắp sáng nơi pháp,
chớ thắp sáng nơi khác. Hãy tự nương tựa mình, nương tựa nơi pháp, chớ nương
tựa nơi khác…’ Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, nếu có ai có thể tu hành pháp
này, người đó là đệ tử chân thật của Ta, là bậc nhất hữu học.”
Phật bảo A-nan, hãy cùng đi đến tháp Giá-bà-la[71].
A-nan vâng lời. Như Lai bèn đứng dậy, mang y cầm bát đến dưới một gốc cây,
bảo A-nan:
“Hãy trải chỗ ngồi. Ta đau lưng, muốn nghỉ lại đây. An-nan đáp:
“Vâng.” Trải chỗ ngồi và sau khi Như Lai đã ngồi xuống, A-nan dọn một chỗ
ngồi nhỏ ngồi trước Phật. Phật nói:
“Này A-nan, những ai tu bốn thần túc, tu tập nhiều, thường ghi nhớ không
quên, người ấy tùy theo ý muốn có thể kéo dài tuổi thọ hơn một kiếp. A-nan,
Phật đã tu tập nhiều bốn thần túc, chuyên niệm không quên, tùy theo ý muốn,
Như Lai có thể sống hơn một kiếp, để trừ minh ám cho đời, đem lại nhiều lợi
ích, trời và người đều được an ổn.”
Lúc bấy giờ A-nan im lặng không trả lời. Phật nói như vậy ba lần, A-nan
cũng im lặng không trả lời. Khi ấy A-nan bị ma ám, mê muội không tỏ rõ. Phật
đã ba lần hiện tướng, nhưng A-nan không biết mà thỉnh cầu. Phật bảo A-nan:
“Hãy biết thời”. A-nan vâng ý chỉ của Phật, đứng dậy lễ Phật rồi lui. A-nan
đi cách Phật không xa, ngồi dưới một gốc cây, tĩnh ý tư duy. Trong khoảng
thời gian không lâu, Ma Ba-tuần[72]
đến bạch Phật:
“Ý Phật không muốn vào Niết-bàn sớm[73].
Nay chính là lúc, Phật nên mau chóng diệt độ.”
Phật bảo ma Ba-tuần:
“Hãy thôi! Hãy thôi! Ta tự biết thời. Như Lai nay chưa nhập Niết-bàn, vì
còn đợi chúng Tỳ-kheo của Ta hội đủ[74].
Có[75] người có thể tự điều phục,
dũng mãnh, không khiếp sợ, đã đến chỗ an ổn, đã đạt được mục đích của mình,
là hướng đạo của loài người, rao giảng kinh giáo, hiển bày cú nghĩa, nếu có
dị luận thì có thể hàng phục bằng Chánh pháp, lại có thể bằng thần biến mà
tự mình tác chứng[76]. Các đệ tử như
thế chưa hội đủ. Lại còn có các Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, tất cả cũng
như thế, đều chưa tụ hội đủ. Nay điều cần thiết là triển khai phạm hạnh, phổ
biến giác ý[77], khiến cho chư thiên
và loài người thảy đều thấy được sự thần diệu[78].”
Bấy giờ Ma Ba-tuần lại bạch Phật:
“Thuở xưa, ở Uất-bệ-la bên dòng sông Ni-liên-thuyền, dưới gốc cây a-du-ba
ni-câu-luật[79], Phật khi mới thành
chánh giác, tôi đã đến chỗ Như Lai mà khuyên mời Ngài hãy nhập Niết-bàn
rằng: ‘Nay thật là đúng lúc, Ngài hãy nhanh chóng nhập Niết-bàn.’ Khi ấy Như
Lai trả lời tôi rằng: ‘Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Ta tự biết thời. Như Lai
nay chưa nhập Niết-bàn, vì còn đợi đệ tử Ta hội đủ đã, v.v... cho đến, chư
thiên và loài người thấy được sự thần thông biến hóa, khi ấy Ta mới nhập
Niết-bàn.’Nay chính là lúc ấy, sao Ngài không nhập Niết-bàn?”
Phật nói:
“Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Phật tự biết thời. Ta không trụ thế bao lâu
nữa. Sau ba tháng nữa, tại bản sanh địa Câu-thi-na-kiệt[80],
vườn sa-la, giữa đôi cây, Ta sẽ diệt độ.”
Lúc ấy, Ma Ba-tuần nghĩ rằng Phật tất không nói dối, nhất định sẽ diệt
độ, bèn vui mừng phấn khởi, hốt nhiên biến mất. Ma đi chưa bao lâu, Phật ở
nơi tháp Giá-bà-la, bằng định ý tam-muội, xả thọ hành. Ngay lúc đó, đại địa
chấn động. Nhân dân cả nước[81]
thảy đều kinh sợ, lông tóc dựng ngược. Phật phóng ánh sáng rọi suốt vô cùng,
nơi chỗ tối tăm cũng được soi sáng, thảy đều trông thấy nhau. Bấy giờ Thế
Tôn nói kệ tụng rằng:
Trong hai hành hữu vô,
Ta nay xả hữu vi.[82]
Nội chuyên tam-muội định
Như chim ra khỏi trứng.
Lúc bấy giờ hiền giả A-nan tâm kinh sợ, lông tóc dựng ngược, vội vàng đi
đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật rồi đứng sang một bên, bạch Phật:
“Lạ thay, Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà đất rung động?”
Phật bảo A-nan:
“Ở đời, có tám nguyên nhân khiến đất rung động. Những gì là tám? Đất y
trên nước. Nước y trên gió. Gió y trên hư không. Trong hư không có ngọn gió
lớn có khi tự nổi lên, khi ấy khối lớn nước bị khuấy động. Khối nước lớn bị
khấy động thì khắp cả đất rung động. Đó là một nguyên nhân.
“Lại nữa, này A-nan, có khi có Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni đắc đạo, hoặc tôn
thiên đại thần quán thể tánh nước nhiều, quán thể tánh đất ít, muốn tự thử
năng lực của mình, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ hai.
“Lại nữa, này A-nan, khi Bồ-tát từ trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ,
chuyên niệm không tán loạn, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân
thứ ba.
“Lại nữa, A-nan, khi Bồ-tát ra khỏi thai mẹ, sanh từ hông phải, chuyên
niệm không tán loạn, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ
tư.
“Lại nữa, A-nan, khi Bồ-tát vừa thành Vô thượng Chánh giác, ngay lúc ấy
khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ năm.
“Lại nữa, A-nan, khi Phật vừa thành đạo chuyển Vô thượng pháp luân mà Ma
hoặc Thiên Ma, Sa-môn, Bà-la-môn thảy đều không thể chuyển, khi ấy khắp cõi
đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ sáu.
“Lại nữa, A-nan, khi sự giáo giới của Phật gần hoàn tất, chuyên tâm không
tán loạn, Phật xả bỏ thọ hành, khi đó khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên
nhân thứ bảy.
“Lại nữa, này A-nan, khi Như Lai ở nơi vô dư Niết-bàn mà nhập Niết-bàn,
khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ tám.
“Do tám nguyên nhân ấy mà đất rung động.”
Rồi Thế Tôn nói bài kệ:
Đấng Lưỡng túc tối tôn,
Đại Sa-môn soi sáng đời,
Được A-nan thưa hỏi:
Nguyên nhân gì đất rung?
Như Lai diễn từ âm,
Tiếng như chim ca-lăng:
“Ta nói, hãy lắng nghe,
Nguyên do đất rung động.
Đất nhân y trên nước,
Nước nhân y trên gió.
Nếu gió trổi hư không,
Đất vì thế rung mạnh.
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
Muốn thử thần thông lực,
Núi, biển, trăm cây cỏ,
Cõi đất thảy rung động.
Thích, Phạm, các tôn thiên,
Ý muốn đất rung động,
Núi biển các quỷ thần,
Cõi đất thảy rung động.
Bồ tát, Lưỡng túc tôn,
Trăm phước tướng đã đủ,
Khi mới nhập thai mẹ,
Khi ấy đất rung động.
Mười tháng trong thai mẹ,
Như rồng nằm thảm đệm;
Từ hông hữu xuất sanh,
Khi ấy đất rung động.
Phật khi còn trai trẻ
Tiêu diệt dây kết sử,
Thành đạo thắng vô thượng;
Khi ấy đất rung động.
Thành Phật, chuyển pháp luân,
Ở trong vườn Lộc dã;
Đạo lực hàng phục ma,
Khi ấy đất rung động.
Thiên ma nhiều phen thỉnh,
Khuyên Phật nhập Niết-bàn;
Khi Phật xả thọ mạng,
Khi ấy đất rung động.
Đại đạo sư, Chí Tôn,
Thần Tiên, không tái sanh,
Vào tịch diệt, bất động;
Khi ấy đất rung động.
Tịnh nhãn, nói các duyên,
Đất rung vì tám sự.
Do đây và khác nữa,
Khi ấy đất rung động”.
Phật nói với A-nan:
“Này A-nan! Đời có tám chúng: một là chúng Sát-lỵ; hai là chúng
Bà-la-môn; ba là chúng cư sĩ; bốn là chúng Sa-môn; năm là chúng Tứ thiên
vương; sáu là chúng Đao-lỵ thiên; bảy là chúng Ma; tám là chúng Phạm thiên.
“Ta nhớ xưa kia, Ta từng qua lại trong chúng Sát-lỵ, cùng họ nói năng,
ngồi đứng, chẳng biết đã bao nhiêu lần. Nhờ sức thiền định tinh tấn mà nơi
nào Ta hiện đến, hễ họ có sắc đẹp thì sắc Ta đẹp hơn. Họ có tiếng hay thì
tiếng Ta hay hơn. Họ từ giã Ta mà đi, nhưng Ta không từ giã họ. Điều họ nói
được, Ta cũng nói được. Điều họ không thể nói được, Ta cũng nói được. Ta
thường thuyết pháp cho họ, chỉ bày, giáo huấn, khiến cho lợi ích, hoan hỷ[84],
rồi biến mất khỏi nơi đó, mà họ không biết Ta là trời hay là người. Như thế
cho đến, Ta từng qua lại trong chúng Phạm thiên không biết là bao nhiêu lần
để thuyết pháp cho họ, mà họ cũng đều chẳng biết Ta là ai.”
“A-nan bạch Phật:
“Thế Tôn, thật là kỳ diệu, chưa từng có, mới có thể thành tựu đuợc như
thế.”
Phật nói:
“Pháp vi diệu chưa từng có như vậy, này A-nan, thật là kỳ diệu, thật là
hy hữu, duy chỉ Như Lai mới thành tựu được.”
Phật lại bảo A-nan:
“Như Lai có thể biết rõ sự sanh khởi, tồn tại và biến mất của thọ; biết
rõ sự sanh khởi, tồn tại và biến mất của tưởng; sự sanh khởi, tồn tại và
biến mất của quán[85]. Đó mới thật là
pháp kỳ diệu chưa từng có của Như Lai, ngươi nên ghi nhớ.”
Bấy giờ đức Thế Tôn lại bảo A-nan cùng đi đến Hương tháp[86],
rồi tới một gốc cây trải tọa ngồi và bảo A-nan nhóm hết các Tỳ-kheo hiện có
mặt chung quanh Hương tháp lại giảng đường. A-nan vâng lời Phật dạy, tập họp
tất cả, rồi bạch Phật:
“Đại chúng đã tụ tập. Cúi xin đức Thánh biết thời.”
Thế Tôn bèn đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ dọn sẵn. Rồi Thế Tôn nói
với các Tỳ-kheo:
“Các ngươi nên biết, Ta do những pháp sau đây mà tự thân tác chứng, thành
Tối chánh giác. Đó là bốn niệm xứ, bốn ý đoạn[87],
bốn thần túc, bốn thiền định, năm căn, năm lực, bảy giác ý[88]
và tám thánh đạo. Các ngươi hãy nên cùng nhau tu tập ở trong pháp đó, cùng
nhau hòa đồng kính thuận, chớ sinh tranh tụng. Cùng đồng một thầy học hãy
cùng đồng hòa hợp như nước với sữa. Ở trong pháp Ta, hãy tinh cần tu học,
cùng soi sáng cho nhau, cùng nhau hoan hỷ.
“Này các Tỳ-kheo, các ngươi nên biết, Ta từ các pháp này mà tự mình chứng
ngộ, rồi công bố ra nơi đây. Tức là, Khế kinh, Kỳ dạ kinh, Thọ ký kinh, Kệ
kinh, Pháp cú kinh, Tương ưng kinh, Bản duyên kinh, Thiên bản kinh, Quảng
kinh, Vị tằng hữu kinh, Chứng dụ kinh, Đại giáo kinh. Các ngươi hãy ghi nhớ
kỹ, tùy khả năng mà phân tích, tùy sự mà tu hành. Vì sao vậy? Như Lai không
bao lâu nữa, sau ba tháng nữa, sẽ vào Niết-bàn.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe lời ấy, rất đỗi kinh ngạc, sửng sốt hoang mang,
vật mình xuống đất, cất tiếng kêu than:
“Nhanh chóng làm sao, Thế Tôn diệt độ! Đau đớn làm sao, con mắt của thế
gian sắp tắt! Chúng ta từ nay mãi mãi mất mát!” Hoặc có Tỳ-kheo vật vã buồn
khóc, lăn lộn kêu ca, không tự kềm chế được, khác nào như rắn bị đứt làm hai
khúc, lăn lộn ngắc ngoải, không biết đi về đâu.[89]
Phật bảo:
“Này các Tỳ-kheo, các ngươi chớ ôm lòng ưu bi như vậy. Từ trời đất đến
người vật, không có cái gì sanh ra mà không kết thúc. Muốn các pháp hữu vi
không bị biến dịch, thì không thể nào được. Trước đây Ta đã từng dạy ân ái
là vô thường, có hội hiệp tất có chia ly. Thân này không phải của mình, mạng
này không ở lâu được.”
Bấy giờ Thế Tôn nói bài kệ:
Ta nay tự tại
Đến chỗ an ổn;
Nói rõ nghĩa nầy
Cho chúng hòa hợp.
Ta nay già rồi,
Việc làm đã xong,
Nay nên xả thọ.
Niệm không buông lung,
Tỳ-kheo giới đủ;
Thâu nhiếp định ý,
Thủ hộ tâm mình.
Ở trong Pháp Ta,
Ai không buông lung,
Sẽ dứt gốc khổ,
Khỏi sanh già chết.
Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Ta nay sở dĩ khuyên dạy các ông như thế, vì Thiên ma Ba-tuần, vừa rồi
đến thỉnh cầu ta, nói: ‘Ý Phật[90]
chưa muốn vào Niết--bàn sớm. Nay đã phải thời rồi, xin ngài mau diệt độ.’ Ta
bảo Ma Ba-tuần: ‘Hãy thôi! Hãy thôi! Ta tự biết thời. Ta còn đợi chúng
Tỳ-kheo của Ta hội đủ… cho đến, khiến cho chư thiên và loài người thảy đều
thấy được sự thần diệu.’ Bấy giờ Ma Ba-tuần lại nói với Ta rằng: ‘Thuở xưa,
ở Uất-bệ-la, bên dòng sông Ni-liên-thuyền, dưới gốc cây a-du-ba ni-câu-luật,
Phật khi mới thành chánh giác, tôi đã thưa Ngài rằng: ‘Ý Phật không muốn
Niết-bàn sớm. Nay thật là đúng lúc. Ngài hãy nhanh chóng nhập Niết-bàn.’ Khi
ấy Như Lai trả lời tôi rằng: ‘Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Ta tự biết thời. Như
Lai nay chưa nhập Niết-bàn, vì còn đợi đệ tử Ta hội đủ đã,... cho đến, chư
thiên và loài người thấy được sự thần thông biến hóa, khi ấy Ta mới nhập
Niết-bàn.’ Nay đây, đệ tử của Như Lai đã hội đủ,… cho đến, chư thiên và loài
người đều thấy được sự thần thông biến hóa. Nay chính là lúc ấy, sao Ngài
không nhập Niết--bàn?’ Ta nói: ‘Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Phật tự biết thời.
Ta không trụ thế bao lâu nữa. Sau ba tháng nữa, Ta sẽ diệt độ.’ Lúc ấy Ma
Ba-tuần nghĩ rằng Phật tất không nói dối, bèn vui mừng phấn khởi, hốt nhiên
biến mất. Ma đi chưa bao lâu, ở nơi tháp Giá-bà-la, bằng định ý tam-muội, Ta
xả thọ hành. Ngay lúc đó, đại địa chấn động. Trời người thảy đều kinh sợ,
lông tóc dựng ngược. Phật phóng ánh sáng rọi suốt vô cùng, nơi chỗ tối tăm
cũng được soi sáng, thảy đều trông thấy nhau. Bấy giờ Ta nói kệ tụng rằng:
Trong hai hành hữu vô,
Ta nay xả hữu vi.
Nội chuyên tam-muội định
Như chim ra khỏi trứng.
Bấy giờ, hiền giả A-nan đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, quỳ gối phải sát
đất, chấp tay bạch Phật:
“Cúi mong đức Thế Tôn, lưu trú một kiếp, chớ vội diệt độ, vì lòng thương
tưởng chúng sanh, để làm ích lợi cho trời, người.”
Đức Thế Tôn yên lặng không đáp. A-nan thưa thỉnh đến ba lần. Phật bảo:
“A-nan! Ngươi có tin đạo chính giác của Như Lai không?”
A-nan đáp:
“Thưa vâng, con tin chắc thật lời Phật nói.”
Phật nói:
“Nếu ngươi có tin, sao ba lần quấy rầy Ta? Ngươi đã trực tiếp nghe từ
Phật, trực tiếp lãnh thọ từ Phật rằng, những ai đã tu tập bốn thần túc, tu
tập nhiều lần, chuyên niệm không quên, thì có thể tùy ý muốn mà kéo dài tuổi
thọ trong một kiếp hoặc một kiếp hơn. Phật đã tu tập bốn thần túc, tu tập
nhiều lần, chuyên niệm không quên, tùy theo ý muốn có thể sống hơn một kiếp,
để trừ sự tối tăm cho đời, làm lợi ích nhiều người, cho trời và người được
an lạc. Tại sao lúc đó ngươi không thỉnh cầu Như Lai chớ diệt độ? Nghe lần
thứ hai, còn khả thứ. Cho đến lần thứ ba, ngươi cũng không khuyến thỉnh Như
Lai sống thêm một kiếp hoặc một kiếp hơn, để trừ tối tăm cho đời, đem lại
lợi ích an lạc cho hàng thiên nhân. Nay ngươi mới nói, há chẳng muộn lắm ư?
Ta ba lần hiện tướng, ngươi ba lần im lặng. Sao lúc ấy ngươi không nói với
Ta rằng ‘Như Lai hãy sống thêm một kiếp hoặc một kiếp hơn, để trừ sự tối tăm
cho đời, vì lợi ích cho nhiều người, để cho trời người được an lạc’?
“Hãy thôi, A-nan, nay Ta đã xả tuổi thọ, đã bỏ, đã nhổ rồi. Muốn Như Lai
trái với lời đã nói ra, thì không bao giờ có trường hợp đó. Ví như một người
hào quí đã nhổ đồ ăn xuống đất, họ còn lấy ăn trở lại được không?”
A-nan đáp: “Không.”
“Nay Như Lai cũng vậy, đã bỏ, đã nhổ rồi đâu còn tự mình ăn lại nữa.”
Phật lại bảo A-nan cùng đi đến thôn Am-bà-la. A-nan xếp y ôm bát, cùng
với đại chúng đi theo Thế Tôn, do theo đường từ Bạt-kỳ đến Am-bà-la. Khi đến
thôn Am-bà-la, tới một đồi cây, Phật dạy các Tỳ-kheo về giới, định, tuệ; tu
giới đắc định, được quả báo[91]
lớn; tu định đắc trí, được quả báo lớn; tu trí tâm tịnh, được giải thoát
hoàn toàn[92], dứt hết ba thứ lậu
hoặc là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Sau khi đã giải thoát liền phát
sanh trí về sự giải thoát[93], sanh
tử dứt hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn phải tái
sinh nữa.”
Bấy giờ, sau khi tùy nghi an trú ở thôn Am-bà-la, đức Thế Tôn lại bảo
A-nan: “Hãy sửa sọan để đi thôn Chiêm-bà, thôn Kiền-đồ, thôn Ba-lê-ta và
thành Phụ-di[94]. A-nan đáp: “Thưa
vâng”. Rồi xếp y ôm bát, cùng đại chúng theo hầu Thế Tôn, theo con đường từ
Bạt-kỳ đi lần đến các thành khác, đến phía Bắc thành Phụ-di[95],
nghỉ lại trong rừng Thi-xá-bà[96].
Phật nói với các Tỳ-kheo:
“Ta sẽ nói cho các ngươi nghe bốn đại giáo pháp[97].
Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn! Chúng con muốn nghe.”
Phật nói:
“Bốn pháp ấy là gì? Nếu có vị Tỳ-kheo nào nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi
từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân theo Phật được nghe,
được lãnh thọ giáo pháp này.’ Nghe như vậy thì các ngươi cũng không nên vội
tin, cũng không nên bài bác. Hãy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương
theo luật, nương theo pháp mà xét rõ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không
trúng kinh, không trúng luật, không trúng pháp, thì các ngươi hãy nói lại
người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, ngươi đã nhớ lầm chăng? Bởi vì
chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói trái với
chánh pháp. Vậy này hiền sĩ, ngươi chớ có thọ trì và chớ đem nói cho người
khác. Hãy từ bỏ nó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia trúng kinh, trúng
luật, trúng pháp thì hãy nói với người kia rằng: ‘Lời ngươi vừa nói, đúng là
lời Phật nói. Vì chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi
vừa nói phù hợp với chánh pháp. Vậy hiền sĩ! Hãy cẩn thận thọ trì và rộng
nói cho người nghe, chớ có từ bỏ.’ Đó là đại pháp thứ nhất.
“Lại nữa, nếu có Tỳ-kheo nào nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi từng ở tại
thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân nghe từ chúng Tăng hoà hợp với các
vị kỳ cựu đa văn, được lãnh thọ pháp, luật này, giáo này.’ Nghe như vậy thì
các ngươi cũng không nên vội tin, cũng không nên bài bác. Hãy nương theo
kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rõ gốc
ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không trúng kinh, không trúng luật, không trúng
pháp, thì các ngươi hãy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế,
ngươi đã nghe, nhớ lầm chăng? Bởi vì chúng tôi nương kinh, nương luật, nương
pháp. Mà lời ngươi vừa nói trái với Chánh pháp. Vậy này hiền sĩ, ngươi chớ
có thọ trì và chớ đem nói cho người khác. Hãy từ bỏ nó đi.’ Trái lại nếu xét
thấy lời kia trúng kinh, trúng luật, trúng pháp thì hãy nói với người kia
rằng: ‘Lời ngươi vừa nói, đúng là lời Phật nói. Vì chúng tôi nương kinh,
nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói phù hợp với Chánh pháp. Vậy
hiền sĩ! Hãy cẩn thận thọ trì và rộng nói cho người nghe, chớ có từ bỏ.’ Đó
là đại pháp thứ hai.
“Lại nữa, nếu có Tỳ-kheo nào đến nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi từng ở
tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân nghe từ nhiều vị Tỳ-kheo, là
những người trì pháp, trì luật, trì luật nghi, được lãnh thọ pháp này, luật
này, giáo này.’Nghe như vậy thì các ngươi cũng không nên tin, cũng không nên
bài bác. Hãy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo
pháp mà xét rõ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không trúng kinh, không trúng
luật, không trúng pháp, thì các ngươi hãy nói lại người kia rằng: ‘Phật
không nói như thế, ngươi đã nghe, nhớ lầm chăng? Bởi vì chúng tôi nương
kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói trái với Chánh pháp. Vậy
này hiền sĩ, ngươi chớ có thọ trì và chớ đem nói cho người khác. Hãy từ bỏ
nó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia trúng kinh, trúng luật, trúng pháp thì
hãy nói với người kia rằng: ‘Lời ngươi vừa nói, đúng là lời Phật nói. Vì
chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói phù hợp
với Chánh pháp. Vậy hiền sĩ! Hãy cẩn thận thọ trì và rộng nói cho người
nghe, chớ có từ bỏ.’ Đó là đại pháp thứ ba.
“Lại nữa, nếu có Tỳ-kheo nào đến nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi từng ở
tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân từ một vị Tỳ-kheo kia, là người
trì pháp, trì luật, trì luật nghi, được lãnh thọ giáo pháp này.’ Nghe như
vậy thì các ngươi cũng không tin, cũng không nên bài bác. Hãy nương theo
kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rõ gốc
ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không trúng kinh, không trúng luật, không trúng
pháp, thì các ngươi hãy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế,
ngươi đã nhớ lầm chăng? Bởi vì chúng tôi nương kính, nương luật, nương pháp.
Mà lời ngươi vừa nói trái với Chánh pháp. Vậy này hiền sĩ, ngươi chớ có thọ
trì và chớ đem nói cho người khác. Hãy từ bỏ nó đi.’ Trái lại nếu xét thấy
lời kia trúng kinh, trúng luật, trúng pháp thì hãy nói với người kia rằng:
‘Lời ngươi vừa nói, đúng là lời Phật nói. Vì chúng tôi nương kinh, nương
luật, nương pháp. Màlời ngươi vừa nói phù hợp với chánh pháp. Vậy hiền sĩ!
Hãy cẩn thận thọ trì và rộng nói cho người nghe, chớ có từ bỏ.’ Đó là đại
pháp thứ tư.”
Bấy giờ đức Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở thành Phụ-di lại bảo A-nan
cùng đi đến thành Ba-bà[98]. A-nan
đáp: “Kính vâng”, rồi xếp y ôm bát, với đại chúng đi theo Thế Tôn, theo con
đường Mạt-la đi vườn Xà-đầu[99],
thành Ba-bà. Nơi đây có con trai của một người thợ tên là Châu-na[100]
nghe Phật từ Mạt-la kia đến thành này, liền y phục chỉnh tề tìm đến chỗ
Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi ngồi lại một bên. Phật theo thứ lớp thuyết
pháp cho Châu-na, chỉ bày, giáo huấn, khiến cho lợi ích hoan hỷ. Châu-na sau
khi nghe phát tín tâm hoan hỷ, bèn thỉnh Phật ngày mai đến nhà cúng dường.
Phật làm thinh nhận lời. Châu-na biết Phật đã nhận lời, liền đứng dậy lễ
Phật, rồi lui về. Ngay đêm đó ông sửa soạn thức ăn. Ngày mai, vào thời gian
thích hợp, ông trở lại thỉnh Phật.
Bấy giờ, Thế Tôn khoác y cầm bát cùng với đại chúng tùy tùng đến nhà ông,
ngồi lên chỗ ngồi dọn sẵn. Sau khi Phật và đại chúng đã an tọa, Châu-na đem
món ăn dâng Phật và chúng tăng. Ông lại nấu riêng một thứ nấm chiên-đàn[101]
là thức ăn trân quý kỳ lạ ít thấy, đem dâng riêng cho Phật. Phật bảo Châu-na
chớ đem thứ nấm ấy cho chúng tăng ăn. Châu-na vâng lời, không dám dọn cho
chúng Tăng.
Lúc bấy giờ, trong đại chúng Tỳ-kheo có một Tỳ-kheo già, xuất gia lúc
tuổi xế chiều, ngay trên mâm ăn, dùng đồ đựng dư để lấy.[102]
Châu-na, sau khi thấy chúng tăng thọ trai xong, cất bình bát, và dùng
nước rửa xong, liền đến trước Phật mà hỏi bằng bài kệ rằng:
Xin hỏi Đại Thánh Trí,
Đấng Chánh giác Chí Tôn:
Đời có mấy Sa-môn,
Khéo huấn luyện điều phục?
Phật đáp bằng bài kệ:
Theo như ngươi vừa hỏi,
Có bốn hạng Sa-môn,
Chí hướng không đồng nhau,
Ngươi hãy nhận thức rõ:
Một hành đạo thù thắng;
Hai khéo giảng đạo nghĩa;
Ba y đạo sinh sống;
Bốn làm ô uế đạo.
Sao gọi ‘đạo thù thắng’?
Sao ‘khéo nói đạo nghĩa’?
Sao ‘y đạo sanh hoạt’?
Sao ‘làm đạo ô uế’?
Bẻ gai nhọn ân ái,
Quyết chắc vào Niết-bàn;
Vượt khỏi đường Thiên nhân,
Là hành đạo thù thắng.
Khéo hiểu đệ nhất nghĩa
Giảng đạo không cấu uế,
Nhân từ giải nghi ngờ,
Là hạng khéo thuyết đạo.
Khéo trình bày pháp cú
Nương đạo mà nuôi sống,
Xa mong cõi vô cấu;
Là hạng sống y đạo.
Trong ơm lòng gian tà,
Ngoài như tuồng thanh bạch.
Hư dối không thành thật,
Là hạng làm nhơ đạo.
Sao gọi ‘gồm thiện ác’,
Tịnh, bất tịnh xen lẫn.
Mặt ngoài hiện tốt đẹp,
Như chất đồng mạ vàng,
Người tục thấy liền bảo:
“Đó là thánh đệ tử,
Các vị khác không bằng,
Ta chớ bỏ lòng tin”.
Người gìn giữ đại chúng,
Trong trược giả ngoài thanh.
Che dấu điều gian tà,
Kỳ thật lòng phóng đãng.
Chớ trông dáng bề ngoài,
Đã vội đến thân kính.
Che dấu điều gian tà,
Kỳ thật lòng phóng đãng.
Rồi Châu-na lấy một cái giường nhỏ đặt ngồi trước Phật. Phật lần lượt
thuyết pháp, chỉ bày, khuyến khích, khiến cho lợi ích, hoan hỷ. Sau đó, với
đại chúng theo hầu, Phật trở về. Vừa đến giữa đường, Phật dừng lại dưới một
gốc cây và bảo A-nan:
“Ta đau lưng, ngươi hãy trải chỗ ngồi.”
A-nan đáp vâng, rồi trải chỗ ngồi. Phật nghỉ ngơi. Bấy giờ, A-nan lại
trải một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi trước Phật. Phật hỏi A-nan:
“Vừa rồi ông thấy Châu-na có ý gì hối hận không? Nếu có hối hận là tự
đâu?” A-nan đáp:
“Châu-na vừa cúng dường Phật như vậy không được phúc lợi gì cả. Vì sao?
Tại vì sau khi đức Như Lai thọ trai ở nhà ông thì Ngài vào Niết-bàn!”.
Phật nói:
“A-nan chớ nói như vậy, chớ nói như vậy! Hiện nay Châu-na được nhiều lợi
lớn, được sống lâu, được sắc đẹp, được sức lực, được tiếng tốt, được nhiều
tài lợi, chết được lên trời, cầu điều gì đều được. Tại sao vậy? Vì người
cúng dường cho Phật lúc mới thành đạo với người cúng dường cho Phật lúc sắp
Niết-bàn, công đức hai bên ngang nhau không khác. Ngươi hãy đến nói với
Châu-na rằng: ‘Tôi trực tiếp nghe từ Phật, trực tiếp lãnh thọ từ Phật, rằng
Châu-na nhờ công đức cúng dường Phật mà được lợi lớn, quả báo lớn’.”
A-nan vâng lời, đi đến chỗ Châu-na, nói rằng:
“Tôi trực tiếp nghe từ Phật, trực tiếp lãnh thọ từ Phật, rằng ông Châu-na
nhờ công đức cúng dường Phật mà được lợi lớn, quả báo lớn. Tại sao vậy? Vì
người cúng dường Phật lúc mới thành đạo với người cúng dường Phật lúc sắp
Niết-bàn, công đức hai bên ngang nhau không khác.
Thọ trai nhà Châu-na,
Mới nghe lời nói này:
Bịnh Như Lai thêm nặng,
Thọ mệnh đã sắp tàn,
Tuy ăn nấm chiên-đàn,
Mà bịnh vẫn càng tăng.
Ôm bệnh mà lên đường,
Lần đến thành Câu-thi.
Bấy giờ, Thế Tôn đứng dậy, đi về phía trước được một quãng ngắn, đến dưới
một gốc cây, lại bảo A-nan:
“Ta đau lưng quá, hãy sửa chỗ ngồi.”
A-nan đáp: “Vâng”. Rồi dọn một chỗ ngồi. Như Lai nghỉ ngơi. A-nan lễ chân
Phật, rồi ngồi sang một bên. Lúc đó, có người đệ tử A-la-hán tên là Phúc-quý[103],
đi từ thành Câu-thi-na-kiệt[104]
nhắm đến thành Ba-bà, khi vừa đến giữa đường, trông thấy Phật tại bên gốc
cây, dung mạo đoan chính, các căn tịch tịnh, tâm ý nhu thuận trong cảnh tịch
diệt tuyệt đối, ví như con rồng lớn, như hồ nước đứng trong không chút cáu
bợn. Sau khi thấy, ông phát sinh thiện tâm hoan hỷ, đi đến gần Phật, đảnh lễ
rồi ngồi lại một bên và bạch Phật rằng:
“Bạch đức Thế Tôn, người xuất gia, ở tại chỗ thanh tịnh, ưa thích sự nhàn
cư, thật hy hữu thay, dẫu cả một đoàn xe có những năm trăm cỗ đi ngang qua
một bên mà vẫn không hay biết! Thầy tôi có lần ngồi tĩnh tọa dưới một gốc
cây bên đường thuộc địa phận giữa hai thành Câu-thi và Ba-ba. Lúc đó có đoàn
xe năm trăm cỗ đi ngang qua một bên. Tiếng xe cộ rần rần. Tuy thức tỉnh
nhưng không nghe thấy. Sau đó có người đến hỏi: ‘Có thấy đoàn xe vừa đi qua
đây không?’ Đáp: ‘Không thấy.’Lại hỏi: ‘Có nghe không?’ Đáp: ‘Không nghe.’
Lại hỏi: ‘Nãy giờ ông ở đây hay ở chỗ khác?’ Trả lời: ‘Ở đây.’ Lại hỏi: ‘Nãy
giờ ông tỉnh hay mê?’ Trả lời: ‘Tỉnh.’ Lại hỏi: ‘Nãy giờ ông thức hay ngủ?’
Trả lời: ‘Không ngủ.’ Người kia thầm nghĩ: ‘Đây thật là hy hữu. Người xuất
gia chuyên tinh mới như thế. Cho dẫu tiếng xe rần rộ, thức mà vẫn không
hay.’Rồi nói với thầy tôi rằng: - Vừa có năm trăm cỗ xe rần rộ đi qua con
đường này, tiếng xe chấn động mà còn không nghe thấy, có đâu lại nghe thấy
chuyện khác!” Rồi người kia làm lễ, hoan hỷ từ tạ.”
Phật nói:
“Này Phúc-quý! Nay Ta hỏi ngươi. Hãy tùy ý trả lời. Đoàn xe rần rộ đi
qua, tuy thức nhưng không nghe, và sấm sét vang động đất trời, tuy thức
nhưng không nghe. Trong hai điều đó, điều nào khó hơn?”
Phúc-quý thưa:
“Tiếng động của ngàn chiếc xe đâu sánh bằng tiếng sấm sét. Không nghe
tiếng xe còn dễ chứ không nghe sấm sét ấy mới thật là rất khó.”
Phật nói:
“Này Phúc-quý, Ta có một lần ở tại một thảo lư trong thôn A-việt[105],
lúc đó có đám mây lạ vụt nổi lên, rồi tiếng sấm sét vang rầm dữ dội làm chết
hết bốn con trâu và hai anh em người đi cày, thiên hạ xúm tới chật ních. Lúc
ấy Ta đang ra khỏi thảo lư, đi kinh hành thong thả. Một người từ đám đông
kia đi lại chỗ Ta, đầu mặt lễ sát chân, rồi theo sau Ta kinh hành. Dẫu biết
nhưng Ta vẫn hỏi: ‘Đám đông kia đang tụ tập để làm gì vậy?’ Người kia liền
hỏi lại Ta rằng: ‘Nãy giờ Ngài ở đâu, thức hay ngủ?’ Ta trả lời: ‘Ở đây,
không ngủ.’ Người kia tán thán cho là hy hữu, chưa thấy ai đắc định như
Phật; sấm chớp vang rền cả trời đất thế mà riêng mình tịch tịnh, thức mà
không hay. Rồi người ấy bạch Phật: ‘Vừa rồi có đám mây lạ vụt nổi lên, rồi
tiếng sấm sét vang rầm dữ dội làm chết hết bốn con trâu và hai người đi cày.
Đám đông tụ tập chính là vì chuyện ấy.’ Người ấy trong lòng vui vẻ, liền
được pháp hỷ, lễ Phật rồi lui.
Lúc đó Phúc-quý đang khoác hai tấm vải màu vàng[106],
trị giá cả trăm ngàn, rời chỗ ngồi đứng dậy, rồi quỳ xuống, chắp tay bạch
Phật:
“Nay con đem tấm vải này dâng Thế Tôn. Cúi mong Thế Tôn nạp thọ.”
Phật bảo Phúc-quý:
“Ngươi để một tấm cho Ta và một tấm cho A-nan.”
Phúc-quý vâng lời. Một tấm dâng Phật, một tấm cho A-nan. Phật thương
tưởng ông cho nên nhận. Phúc-quý đảnh lễ Phật và ngồi lại một bên. Phật lần
lượt thuyết pháp cho ông, chỉ bày, giáo huấn, khiến cho được ích lợi, hoan
hỷ. Ngài giảng về bố thí, trì giới, sinh thiên, dục là đại hoạn, bất tịnh, ô
uế, phiền não ô nhiễm[107]
là pháp chướng đạo, xuất yếu[108]
là tối thắng. Khi Phật biết tâm ý Phúc-quý đã hoan hỷ, nhu nhuyến, không bị
triền cái trùm lấp, rất dễ khai hóa; như thường pháp của chư Phật, Ngài
giảng cho Phúc-quý về khổ thánh đế, khổ tập, khổ diệt và khổ xuất yếu thánh
đế. Phúc-quý liền phát tín tâm thanh tịnh, ví như tấm vải sạch rất dễ nhuốm
màu, ngay trên chỗ ngồi mà xa lìa trần cấu, phát sinh pháp nhãn, thấy pháp,
chứng pháp, an trú quyết định chánh tánh, không còn bị sa đọa ác đạo, thành
tựu vô úy, bèn bạch Phật:
“Con nay quy y Phật, Pháp, Tăng. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm một
ưu-bà-tắc trong chánh pháp. Từ nay cho đến trọn đời con nguyện không sát,
không trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu. Cúi mong Thế Tôn nhận
con là ưu-bà-tắc ở trong chánh pháp.”
Lại bạch Phật:
“Lúc nào Phật đến giáo hóa tại thành Ba-bà xin Ngài hạ cố đến khóm nhà
nghèo của con. Bởi vì con muốn đem hết những vật thực sàng tọa, y phục,
thuốc thang sẵn có trong nhà để dâng cúng Thế Tôn. Thế Tôn lãnh thọ cho thì
nội gia con được an lạc.”
Phật nói:
“Ngươi nói rất phải.”
Rồi Thế Tôn lại nói pháp cho Phúc-quý; chỉ bày, giáo huấn, khiến cho được
lợi ích, hoan hỷ. Phúc-quý đảnh lễ Phật rồi đi.
Phúc-quý đi chưa bao lâu, A-nan liền đem tấm vải vàng của mình dâng Phật.
Phật do tâm từ mẫn nhận lãnh và khoác lên trên mình. Bấy giờ, đức Thế Tôn
hiện ra một dung mạo thung dung, oai quang hớn hở, các căn thanh tịnh, sắc
diện tươi vui.
A-nan trông thấy, âm thầm suy nghĩ: “Ta được hầu gần Phật hai mươi lăm
năm nay chưa khi nào thấy Phật có một sắc diện tươi sáng như ngày nay”. Bèn
đứng dậy, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hỏi Phật:
“Từ khi con được hầu Phật, đã hai mươi lăm năm nay, chưa từng thấy sắc
diện Phật như hôm nay. Chẳng hiểu do duyên gì? Con mong nghe được ý Phật.”
Phật bảo A-nan:
“Có hai duyên cớ mà sắc diện Như Lai tươi sáng khác lúc bình thường: một
là lúc Phật mới thành ngôi chánh giác, hai là lúc Phật xả bỏ thọ mệnh sắp
vào Niết-bàn. A-nan, do hai duyên ấy mà sắc diện khác thường.”
Rồi Thế Tôn nói bài tụng:
Y màu vàng sáng vui,
Mịn, mềm, rất tươi sạch,
Phúc-quý dâng Thế Tôn,
Hào quang trắng như tuyết.
Phật bảo:
“A-nan, ta đang khát. Ta muốn uống nước. Ngươi hãy đi lấy nước đem đến
đây.”
A-nan thưa:
“Vừa rồi có năm trăm cỗ xe lội qua khúc trên sông làm nước đục cả. Chỉ có
thể dùng rửa chân, không thể dùng uống được.”
Phật nói đến ba lần như thế. A-nan thưa:
“Hiện chỉ có sông Câu-tôn[109]
cách đây không xa, là có nước trong mát. Uống hay tắm rửa đều được.”
Lúc đó có một vị thần ở tại núi Tuyết, vốn dốc lòng tin Phật đạo, lấy bát
đựng nước quí tịnh đủ tám công đức đem đến dâng Phật. Phật thương xót lãnh
thọ, và đọc bài tụng:
Phật bằng tám thứ âm,
Bảo A-nan lấy nước:
Ta khát, nay muốn uống.
Uống xong đến Câu-thi.
Âm êm dịu, hòa nhã,
Ai nghe cũng vui lòng.
Hầu hạ hai bên Phật,
Liền bạch Thế Tôn rằng:
Vừa có năm trăm xe,
Lội sông sang bờ kia,
Đã làm đục dòng nước,
Uống chắc không thể được.
Sông Câu-lưu không xa,
Nước tốt, rất trong mát;
Có thể lấy nước uống,
Cũng có thể tắm rửa.
Tuyết sơn có quỷ thần,
Đem nước dâng Như Lai.
Uống xong, uy dũng mãnh.
Đấng Sư Tử bước đi.
Nước ấy có rồng ở,
Trong sạch không đục dơ.
Thánh nhan như Tuyết sơn
Thong thả qua Câu-tôn.
Rồi Thế Tôn đi đến sông Câu-tôn, lấy nước uống và rửa xong rồi, cùng đại
chúng lần đi nữa. Giữa đường, Phật dừng lại tại dưới một gốc cây và bảo
Châu-na[110]:
“Ngươi lấy y tăng-già-lê gấp làm tư rồi trải cho ta nằm. Ta đau lưng.
Muốn tạm nghỉ tại đây.”
Châu-na vâng lời, trải chỗ xong, Phật ngồi lên chỗ đó. Châu-na lễ Phật
rồi ngồi lại một bên mà thưa rằng:
“Con muốn nhập Niết-bàn. Con muốn nhập Niết-bàn.”
Phật dạy:
“Nên biết phải thời.”
Châu-na liền nhập Niết-bàn ở ngay trước Phật.
Phật bèn nói bài tụng:
Phật đến sông Câu-tôn,
Trong mát, không đục dơ.
Đấng Chí Tôn xuống nước,
Tắm rửa, sang bờ kia.
Vị đứng đầu đại chúng,
Sai khiến bảo Châu-na:
Ta nay thân mỏi mệt,
Ngươi trải ngọa cụ nhanh.
Châu-na liền vâng lời,
Gấp tư y mà trải.
Như Lai đã nghỉ ngơi
Châu-na ngồi phía trước
Tức thì bạch Thế Tôn:
Con muốn nhập Niết-bàn,
Vào chốn không yêu, ghét.
Con nay đến chỗ đó;
Biển công đức vô luợng.
Đấng Tối thắng trả lời:
Phận sự ngươi đã xong,
Nên biết thời thích hợp.
Được Phật hứa khả rồi,
Châu-na càng tinh tấn.
Diệt hành, vô hữu dư.
Như hết củi, lửa tắt.
Bấy giờ A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy bạch Phật:
“Sau khi Phật diệt độ, phép tẩn táng nên làm thế nào?”
Phật bảo A-nan:
“Ông hãy im lặng. Hãy lo nghĩ đến công việc của mình. Việc ấy đã có các
thanh tín sĩ vui vẻ lo liệu.”
A-nan hỏi đến ba lần:
“Sau khi Phật diệt độ, phép tẩn táng nên làm thế nào?
Phật dạy:
“Muốn biết phép tẩn táng thế nào thì nên làm theo cách tẩn táng Chuyển
luân Thánh vương.”
A-nan lại hỏi:
“Phép tẩn táng Chuyển luân Thánh vương như thế nào?
Phật nói:
“Về phép tẩn táng Chuyển luân Thánh vương, trước hết lấy nước thơm tắm
rửa thân thể; lấy vải bông mới quấn thân thể; dùng năm trăm tấm vải lần lượt
quấn vào, rồi đặt thân vào kim quan. Sau khi đã tẩm dầu mè, lại đặt kim quan
trong một cái quách thứ hai lớn, bằng sắt, bên ngoài là lớp quách bằng gỗ
hương chiên-đàn. Chất các thứ vải dày, hương thơm lên trên mà trà tỳ. Trà tỳ
xong lượm lấy xá-lợi, dựng tháp treo phan thờ tại ngã tư đường để dân chúng
đi ngang trông thấy tháp của Pháp vương mà tưởng nhớ lại chánh hóa của vua,
đã làm lợi ích cho nhiều người.
“A-nan, ngươi muốn táng Ta, trước hết lấy nước thơm tắm rửa thân thể; lấy
vải bông mới quấn thân thể; dùng năm trăm tấm vải lần lượt quấn vào, đặt
thân vào kim quan. Sau khi đã tẩm dầu mè, lại đặt kim quan trong một cái
quách thứ hai lớn bằng sắt, bên ngoài là lớp quách bằng gỗ hương chiên-đàn.
Chất các thứ vải dày, hương thơm lên trên mà trà tỳ. Trà tỳ xong lượm lấy
xá-lợi, dựng tháp treo phan thờ tại ngả tư đường để dân chúng đi ngang trông
thấy tháp của Phật mà tưởng nhớ lại đạo hóa của Pháp vương Như Lai, sống thì
được phước lợi, chết thì sanh Thiên.”
Rồi Thế Tôn muốn trùng tuyên lại ý nghĩa này, Ngài thuyết bằng bài kệ:
A-nan rời chỗ ngồi,
Quỳ chắp tay bạch Phật:
Như Lai diệt độ rồi,
Phép táng nên thế nào?
A-nan, hãy im lặng,
Hãy lo phận sự mình.
Các thanh tín trong nước
Sẽ vui vẻ lo liệu.
A-nan ba lần hỏi.
Phật giảng táng Luân vương.
Muốn táng thân Như Lai,
Quấn thân, đặt vào quách.
Dựng tháp ngã tư đường,
Vì lợi ích chúng sanh.
Những ai đến kính lễ
Đều được phước vô lượng.
Phật bảo A-nan:
“Trong thiên hạ có bốn hạng người nên dựng tháp và cúng dường hương hoa,
phướn lụa, âm nhạc. Đó là những ai? Là Như Lai, Bích-chi Phật, Thanh-văn và
Chuyển luân vương. Này A-nan, bốn hạng người này nên được dựng tháp và dùng
hương, hoa, phướn lụa, âm nhạc để cúng dường.
Bấy giờ Thế Tôn nói bài kệ:
Thứ nhất là tháp Phật,
Bích-chi Phật, Thanh-văn,
Và Chuyển luân Thánh vương,
Chủ tể trị bốn phương:
Bốn nơi đáng cúng này,
Được Như Lai chỉ dạy:
Phật, Bích-chi, Thanh-văn,
Và tháp Chuyển luân vương.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo A-nan hãy cùng đi đến thành Câu-thi, tới giữa đám
cây song thọ của dòng họ Mạt-la. A-nan đáp vâng. Rồi cùng với đại chúng đi
theo Thế Tôn mà lên đường. Có một người Phạm chí từ thành Câu-thi đi đến
thành Ba-bà, giữa đường, từ xa trông thấy Thế Tôn dung mạo đoan chính, các
căn tịch định. Thấy vậy, tự nhiên sanh tâm hoan hỷ, liền đi đến trước Phật,
thăm hỏi rồi đứng sang một bên, bạch Phật rằng:
“Thôn tôi ở cách đây không xa. Kính mong đức Cù-đàm đến đó nghỉ đêm. Sáng
mai thọ thực xong hãy đi.”
Phật nói:
“Thôi đủ rồi, Phạm chí. Ngươi nay đã cúng dường ta rồi đó.”
Phạm chí ân cần thưa thỉnh tới ba lần, Phật vẫn đáp như trước, lại bảo
Phạm chí:
“A-nan đàng sau kia, người đến đó tỏ ý.”
Phạm chí nghe Phật bảo, đến ông A-nan, thăm hỏi xong, đứng sang một bên,
thưa rằng:
“Thôn tôi ở cách đây không xa. Tôi muốn thỉnh đức Cù-đàm đến đó nghỉ đêm.
Sáng mai thọ thực xong hãy đi.”
A-nan đáp:
“Thôi đủ rồi, Phạm chí. Ngươi nay đã cúng dường rồi đó.
Phạm chí ân cần thưa thỉnh tới ba lần.
A-nan đáp:
“Trời đã nóng bức, thôn kia lại xa, mà đức Thế Tôn thì quá nhọc, không
thể đến được đâu.”
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi quán sát ý nghĩa này, bèn nói bài kệ:
Đấng Tịnh nhãn tiến bước,
Mệt nhọc, hướng song thọ.
Phạm chí xa thấy Phật,
Vội bước đến, cúi đầu:
Thôn tôi hiện gần đây,
Xin thương, lưu một đêm.
Sáng mai, cúng dường nhỏ,
Rồi hãy đến thành kia.
Phạm chí, thân Ta mệt,
Đường xa không thể qua.
Người hầu Ta đi sau.
Hãy đến mà hỏi ý.
Vâng lời Phật dạy thế,
Bèn đến chỗ A-nan:
Xin mời đến thôn tôi,
Sáng mai, ăn rồi đi.
A-nan ngăn: thôi, thôi.
Trời nóng, không đi được.
Ba lần mời không toại,
Vẻ buồn rầu không vui.
Quái thay, hữu vi này,
Đổi dời mãi không thôi,
Nay giữa cây song thọ,
Dứt Ta thân vô lậu.
Phật, Bích-chi, Thanh-văn
Hết thảy đều quy diệt,
Vô thường không chọn lựa,
Như lửa đốt núi rừng.
Bấy giờ, Thế Tôn vào thành Câu-thi, đi về phía Bản sanh xứ, giữa khu rừng
song thọ của dòng họ Mạt-la[111],
và bảo A-nan:
“Ngươi hãy sửa chỗ ở giữa cây song thọ cho Ta nằm, đầu xây hướng Bắc, mặt
xây hướng Tây. Sở dĩ như thế, vì giáo pháp của Ta sẽ lưu truyền lâu dài ở
phương Bắc.”
A-nan đáp: “Vâng.” Rồi dọn chỗ, cho đầu xây về phương Bắc. Rồi Thế Tôn tự
mình lấy y tăng-già-lê gấp làm tư, đắp lên mình, nằm nghiêng hông tay mặt
như sư tử chúa, hai chân chồng lên nhau. Lúc đó giữa đám cây song thọ có các
quỉ thần vốn dốc lòng tin Phật, lấy các thứ hoa sái mùa rải khắp mặt đất.
Phật bảo A-nan rằng:
“Vị thần cây song thọ ấy lấy hoa sái mùa cúng dường cho Ta như thế, chưa
phải cúng dường Như Lai.”
A-nan thưa:
“Sao mới là cúng dường Như Lai ?”
Phật dạy:
“Người nào biết lãnh thọ và thật hành đúng Chánh pháp, mới là người cúng
dường Như Lai.”
Quán sát ý nghĩa này, Phật nói bài kệ:
Phật ở giữa song thọ,
Nằm nghiêng, tâm không loạn.
Thần cây tâm thanh tịnh,
Rải hoa lên trên Phật.
A-nan hỏi Phật rằng:
Thế nào là cúng dường?
Nghe pháp và thực hành,
Cúng dường bằng hoa giác.
Hoa vàng như bánh xe,
Chưa phải cúng dường Phật.
Ấm, giới, nhập vô ngã,
Là cúng dường bậc nhất.
Lúc đó ông Phạm-ma-na[112]
cầm quạt đứng hầu quạt trước Phật, Phật bảo:
“Ngươi hãy tránh ra, chớ đứng ở trước Ta.”
A-nan nghe vậy thầm lặng suy nghĩ: “Phạm-ma-na thường hầu hạ Phật, cung
cấp mọi sự cần thiết, tôn kính Như Lai không hề chán nản. Nay vào ngày cuối
cùng, lẽ để cho ông chăm sóc, chứ sao Phật lại đuổi đi, là có ý gì?” Rồi
A-nan sửa lại y phục, đến trước Phật, bạch rằng:
“Phạm-ma-na thường hầu hạ Phật, cung cấp mọi sự cần thiết, tôn kính Như
Lai không hề chán nản. Nay vào ngày cuối cùng, lẽ để cho ông xem sóc, chứ
sao Phật lại đuổi đi, là có ý gì?”
Phật nói:
“Phía ngoài thành Câu-thi này mười hai do-tuần, thảy đều là chỗ[113]
các vị đại thiên thần, chật ních không có khoảng trống. Họ đều than phiền:
‘Vị Tỳ-kheo này sao đứng choán trước Phật. Nay giờ phút cuối cùng Phật sắp
vào Niết-bàn, chúng ta các thần muốn đến chiêm bái một lần, mà vị Tỳ-kheo đó
với oai đức lớn lao, ánh sáng chói che không cho chúng ta được gần Phật để
lễ bái cúng dường.’ Này A-nan, vì thế mà ta bảo tránh ra.”
A-nan bạch Phật:
“Chẳng hay vị Tỳ-kheo đó xưa kia chứa phúc đức gì, tu hạnh nghiệp gì mà
nay có oai đức như thế?”
Phật dạy: “Vào kiếp thứ chín mươi mốt trong đời quá khứ, có Đức Phật ra
đời hiệu là Tỳ-bà-thi. Vị Tỳ-kheo đó, lúc ấy đem tâm hoan hỷ cầm cây đuốc cỏ
soi sáng vào ngôi tháp của Phật, nhờ đó nay ông được có oai quang chiếu suốt
cả hai mươi tám từng trời, ánh sáng của chư thiên thần không thể sánh kịp”.
Rồi thì, A-nan rời khỏi chỗ ngồi, trịch áo bày vai hữu, quỳ xuống, chắp
tay bạch Phật:
“Xin Phật chớ diệt độ tại chỗ đất hoang vu trong thành chật hẹp thô lậu
này. Vì sao? Hiện có các nước lớn như Chiêm-bà, nước Tỳ-xá-ly, thành Vương
xá, nước Bạt-kỳ, nước Xá-vệ, nước Ca-tỳ-la-vệ, nước Ba-la-nại. Ở đó nhân dân
đông đúc, nhiều người tín mộ Phật pháp. Phật diệt độ tại các chỗ đó, ắt
nhiều người cung kính, cúng dường xá-lợi.”
Phật dạy: “Thôi, đủ rồi, chớ có nhận xét như thế. Chớ cho nơi này là bỉ
lậu. Vì sao thế? Khi xưa tại nước này, có vị vua tên Đại Thiện Kiến[114]
và thành này lúc đó tên là Câu-xá-bà-đề[115].
Đô thành của vua dài 480 dặm, rộng 280 dặm. Bấy giờ được mùa lúa rẻ, nhân
dân phồn thịnh. Thành này có bảy lớp, bao quanh cũng có bảy lớp lan can,
chạm trổ văn vẻ, linh báu treo xen. Móng thành bề sâu ba nhẫn, lên cao mười
hai nhẫn. Lâu đài trên thành cao mười nhẫn. Vòng cột ba nhẫn. Thành vàng thì
cửa bạc, thành bạc thì cửa vàng, thành lưu ly thì cửa thủy tinh, thành thủy
tinh thì cửa lưu ly. Quanh thành trang nghiêm bằng tứ bảo, xen kẽ lan can
bằng tứ bảo. Lầu vàng thì treo linh bạc, lầu bạc thì treo linh vàng. Có hào
bảy lớp, mọc đầy hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng. Đáy hào toàn lát bằng cát
vàng. Hai bên bờ hào có nhiều cây đa-lân.[116]
Cây vàng thì lá hoa trái bạc. Cây bạc thì lá hoa trái vàng. Cây thủy tinh
thì hoa trái lưu ly. Cây lưu ly thì hoa trái thủy tinh. Giữa đám cây đa-lân
có ao tắm. Dòng nước sâu, trong, thanh khiết không dơ. Hai bên bờ ao lát
bằêng gạch tứ bảo. Thang bằng vàng thì bậc thang bằng bạc. Thang lưu ly thì
bậc bằng vàng. Thềm cấp bằng lưu ly thì bậc thềm bằng thủy tinh. Thềm cấp
bằng thủy tinh thì lưu ly làm bậc. Chung quanh, lan can vây bọc liên tiếp
nhau. Trong thành ấy nơi nào cũng sanh cây đa-lân. Cây vàng thì lá hoa trái
bạc. Cây bạc thì lá hoa trái vàng. Cây thủy tinh thì hoa trái lưu ly. Cây
lưu ly thì hoa trái thủy tinh. Khoảng giữa các cây có các ao bằng tứ bảo,
sanh bốn loại hoa. Đường xá ngay ngắn, hàng ngũ tương đương. Gió thổi, hoa
rơi lá bay hai bên đường. Gió nhẹ thổi qua các cây báu, phát ra âm thanh dịu
dàng như thiên nhạc. Người trong nước, trai gái lớn nhỏ, dạo chơi vui vẻ
giữa các cây. Nước ấy thường có mười loại âm thanh: Tiếng vỏ sò, tiếng
trống, tiếng ba la, tiếng ca, tiếng múa, tiếng thổi, tiếng voi, tiếng ngựa,
tiếng xe cộ, tiếng ẩm thực, tiếng cười đùa.
“Vua Đại Thiện Kiến có đủ bảy báu. Vua cũng có đủ bốn đức. Bảy báu là:
bánh xe vàng báu, voi trắng báu, ngựa xanh báu, thần châu báu, ngọc nữ báu,
cư sĩ báu và quân binh báu.
“Thiện Kiến Đại vương thành tựu bánh xe vàng báu như thế nào?
“Thường vào ngày rằm trăng tròn, vua tắm gội nước hương, lên ngồi tại bảo
điện, có thể nữ bao quanh, tự nhiên có bánh xe báu hiện ra trước mặt; vành
xe có ngàn căm sáng chói, do thợ trời làm chớ không phải đời có được. Bánh
xe toàn bằng chân kim, đường kính bằng một trượng tư. Khi ấy vua Đại Thiện
Kiến thầm nghĩ: ‘Ta từng nghe các bậc tiên túc kỳ cựu nói: nếu vua Quán đảnh
dòng Sát-lỵ, đến ngày rằm trăng tròn, tắm gội nước hương, lên ngồi tại bảo
điện, có thể nữ bao quanh, thời tự nhiên có bánh xe vàng hiện đến trước mặt,
bánh xe có nghìn căm, ánh sáng rực rỡ, là tác phẩm của thợ nhà trời chứ
không phải do con người làm, được làm thành bằng vàng thiệt, đường kính
trượng tư, khi đó được gọi là Chuyển luân Thánh vương. Nay có bánh xe báu ấy
hiện đến há không là đây chăng? Ta hãy thử coi xe đó thế nào?’
“Vua Đại Thiện Kiến liền triệu bốn thứ binh, hướng về phía bánh xe vàng,
trịch áo bày vai phải, đầu gối phải quỳ sát đất, rồi lấy tay mặt vỗ lên bánh
xe và nói: ‘Ngươi hãy theo đúng phép mà vận chuyển về phương Đông, chớ trái
lệ thường.’ Bánh xe liền chuyển về phương Đông. Vua bèn dẫn bốn chủng quân
binh đi theo bánh xe vàng, trước bánh xe vàng có bốn vị thần dẫn đường. Đến
chỗ xe vàng ngừng thì vua cũng dừng xe. Bấy giờ, các tiểu quốc phương Đông
thấy đại vương đến, họ đem bát vàng đựng lúa bạc, bát bạc đựng lúa vàng đến
trước vua, cúi đầu tâu rằng: “Đại vương đến, thật lành thay! Nay phương Đông
này đất ruộng phì nhiêu, nhân dân sung túc, chí tánh nhân hòa, từ hiếu trung
thuận. Cúi mong Thánh vương lấy chánh pháp trị hóa chốn này, chúng tôi xin
cung cấp hầu hạ, vâng chịu mọi việc cần dùng.’ Vua Đại Thiện Kiến nói với
các tiểu vương: ‘Thôi thôi chư hiền! Thế là các ngươi đã cúng dường ta rồi
đó. Các ngươi nên lấy chánh pháp mà trị dân, chớ làm cho thiên lệch, không
để cho quốc nội có hành vi phi pháp. Đó tức là ta trị hóa.’ Các tiểu vương
vâng lệnh. Họ liền theo vua đi tuần khắp nước, đến tận mé biển Đông mới trở
về.
“Vua lần lượt đi về phương Nam, rồi phương Tây, phương Bắc. Hễ bánh xe
vàng đến ở đâu thì các quốc vương đều đến cống hiến như các tiểu quốc phương
Đông vậy.
“Bấy giờ, vua Đại Thiện Kiến sau khi đã theo bánh xe vàng đi khắp bốn
biển, đem chánh đạo khai hóa, an ủi dân chúng xong trở về thành Câu-xá-bà-đề
của bổn quốc, thì bánh xe vàng dừng lại trên không trung ngay cửa cung điện.
Vua Đại Thiện Kiến vui mừng phấn khởi nói: ‘Bánh xe vàng báu này thật là
điềm tốt của ta. Nay ta chính thật là Chuyển luân Thánh vương.’ Đó là sự
thành tựu bánh xe vàng báu.
“Vua Đại Thiện Kiến thành tựu voi trắng báu như thế nào?
“Lúc bấy giờ, vào buổi sáng sớm, Thiện Kiến Đại vương đang ngồi trên
chánh điện, tự nhiên voi báu hốt nhiên xuất hiện trước mặt. Lông nó thuần
trắng. Bảy chỗ đầy đặn. Có thể bay được. Đầu nó tạp sắc. Sáu ngà thon nhọn,
xen cẩn bằêng vàng ròng. Sau khi nhìn thấy, vua tự nghĩ: ‘Con voi này khôn.
Nếu khéo huấn luyện, có thể cưỡi.’ Bèn sai huấn luyện thử. Tập các khả năng
đều đủ. Khi ấy Thiện Kiến Đại vương muốn tự mình thử voi, bèn cưỡi lên, rồi
vào lúc sáng sớm, ra khỏi thành, chu du khắp bốn biển. Đến giờ cơm thì đã về
tới. Thấy thế, Thiện Kiến vương phấn khởi nói: ‘Con voi trắng báu này thật
sự là điềm lành cho ta. Nay ta thật sự là Chuyển luân Thánh vương’. Đó là sự
thành tựu voi trắng báu.
“Thiện Kiến Đại vương thành tựu ngựa báu như thế nào?
“Bấy giờ, vào lúc sáng sớm, Đại Thiện Kiến vương đang ngồi trên chánh
điện, tự nhiên ngựa báu hốt nhiên xuất hiện trước mắt. Lông nó màu xanh, bờm
đỏ. Đuôi, đầu và cổ, như voi. Nó có khả năng bay. Khi ấy Thiện Kiến vương tự
nghĩ: ‘Con ngựa này khôn. Nếu huấn luyện kỹ, có thể cưỡi.’ Rồi vua sai huấn
luyện thử. Tập đủ các khả năng. Khi vua Thiện Kiến muốn tự mình thí nghiệm
ngựa báu, bèn cưỡi lên, vào lúc sáng sớm, ra khỏi thành, chu du bốn biển.
Đến giờ ăn thì đã về tới. Thiện Kiến vương phấn khởi nói: ‘Con ngựa báu màu
xanh này thật sự là điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân Thánh
vương, đó là sự thành tựu ngựa trắng báu.
“Thiện Kiến Đại vương thành tựu thần châu báu như thế nào?
“Bấy giờ, vào lúc sáng sớm, Đại Thiện Kiến vương đang ngồi trên chánh
điện, tự nhiên thần châu báu hốt nhiên xuất hiện trước mắt. Màu sắc tinh
chất, trong suốt, không có tỳ vết. Thấy rồi, vua nói: ‘Hạt châu này đẹp quá.
Ánh sáng của nó có thể rọi sáng cả nội cung.’ Rồi vua muốn thử hạt châu ấy,
bèn gọi bốn chủng quân binh vào, đặt bảo châu này ở trên tràng phan. Vào lúc
nửa đêm trời tối, mang nó ra ngoài thành. Ánh sáng của hạt châu này rọi sáng
tất cả quân binh, chẳng khác gì ban ngày. Ở vòng ngoài quân binh, nó lại
chiếu sáng cả một do-tuần. Người trong thành đều thức dậy làm việc, vì cho
là ban ngày. Thiện Kiến Đại vương phấn khởi nói: ‘Nay hạt thần châu báu này
thật sự là điềm lành cho ta. Ta nay thật sự là Chuyển luân Thánh vương, đó
là sự thành tựu thần châu báu.
“Thiện Kiến Đại vương thành tựu ngọc nữ báu như thế nào?
“Khi ấy ngọc nữ báu hốt nhiên xuất hiện. Nhan sắc thung dung, diện mạo
đoan chánh, không cao, không thấp, không thô, không tế, không đen, không
trắng, không cương, không nhu. Đông thì thân ấm. Hè thì thân mát. Các lỗ
chân lông trên khắp thân thể toát ra mùi hương chiên-đàn. Miệng thở ra hương
hoa ưu bát la. Nói năng dịu dàng. Cử động khoan thai. Đứng dậy trước, ngồi
xuống sau, không hề mất nghi tắc. Vua Thiện Kiến lúc bấy giờ thanh tịnh
không nhiễm trước. Tâm không hề có chút ý niệm gì, huống hồ gần gũi. Bấy giờ
vua Thiện Kiến phấn khởi nói: ‘Ngọc nữ này thật là điềm lành của ta. Ta nay
thật sự là Chuyển luân Thánh vương.’ Đó là sự thành tựu về ngọc nữ báu.
“Thiện Kiến Đại vương thành tựu cư sĩ báu như thế nào?
“Khi ấy cư sĩ trượng phu hốt nhiên tự xuất hiện. Kho báu tự nhiên có. Tài
sản vô lượng. Cư sĩ có túc phước nên con mắt có thể nhìn suốt thấy mỏ báu
dưới lòng đất. Vật hữu chủ hay vô chủ, đều nhìn mà biết hết. Nếu có chủ, ông
có thể gìn giữ hộ. Nếu vô chủ, ông thu lấy đem hiến cho vua dùng. Cư sĩ báu
đi đến tâu vua: ‘Đại vương, có vật cống hiến, vua đừng lo buồn. Tôi có thể
tự giải quyết.’ Bấy giờ, vua Đại Thiện Kiến muốn thử cư sĩ báu, bèn ra lịnh
chuẩn bị thuyền để đi du hí. Vua bảo cư sĩ: ‘Ta cần vàng. Ngươi hãy kiếm
nhanh cho ta.’ Cư sĩ tâu: ‘Đại vương, xin hãy chờ giây lát. Đợi lên bờ đã.’
tìm cách thúc hối: ‘Ta dừng đây. Đang cần dùng. Ngươi đem đến ngay.’ Khi ấy
cư sĩ bị vua ra lịnh nghiêm, bèn quỳ ngay trên thuyền, dùng tay mặt thọc vào
trong nước. Bình báu từ trong nước cùng lên theo tay. Như con sâu leo cây,
cũng như thế, với cư sĩ báu, bảo vật từ trong nước duyên theo tay mà xuất
hiện đầy thuyền. Rồi ông tâu vu