長 阿 含 經
KINH TRƯỜNG A HÀM
Hán Dịch. Phật Ðà Da Xá
& Trúc Phật Niệm
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ
|
PHẦN II
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật du hành nước Ương-già, cùng chúng đại Tỳ-kheo một nghìn
hai trăm năm mươi người[2], đến thành
Chiêm-bà[3], nghĩ đêm bên bờ hồ Già-già[4].
Vào ngày mười lăm trăng tròn, Thế Tôn ngồi ở khoảng đất trống, với đại chúng
vây quanh, thuyết pháp cho đến hết đêm. Rồi ngài bảo Xá-lợi-phất:
“Nay các Tỳ-kheo bốn phương tập hợp về đây, thảy đều tinh cần, dẹp bỏ sự
ngủ nghỉ, muốn nghe thuyết pháp. Nhưng Ta đau lưng, muốn nghỉ ngơi một chút.
Thầy nay hãy thuyết pháp cho các Tỳ-kheo.”
Sau khi Xá-lợi-phấtvâng lời Phật dạy, Thế Tôn bèn gấp tư tăng-già-lê, nằm
nghiêng về hông phải như sư tử chồng hai chân lên nhau mà nằm.
Bấy giờ, trưởng lão Xá-lợi-phất[5]
nói với các Tỳ-kheo:
“Nay tôi nói pháp, khoảng đầu, khoảng giữa, khoảng cuối thảy đều chân
chánh, có đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Các thầy hãy lắng nghe,
hãy suy ngẫm kỹ. Tôi sẽ giảng thuyết.”
Các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Xá-lợi-phất nói:
“Có pháp thập thượng[6], trừ các kết
phược[7], dẫn đến Niết-bàn[8],
dứt sạch biên tế của khổ, lại có thể đầy đủ năm trăm năm mươi pháp. Nay tôi
sẽ phân biệt. Các thầy hãy lắng nghe.
“Này các Tỳ-kheo, có một thành pháp, một tu pháp, một giác pháp, một diệt
pháp, một thối pháp, một tăng pháp, một nan giải pháp, một sanh pháp, một
tri pháp, một chứng pháp.[9]
“Thế nào là một thành pháp? Đó là: đối với các pháp thiệân mà không buông
lung.
“Thế nào là một tu pháp? Đó là: thường tự niệm thân.
“Thế nào là một giác pháp? Đó là: xúc hữu lậu[10].
“Thế nào là một diệt pháp? Đó là: ngã mạn.
“Thế nào là một thối pháp? Đó là: bất ác lộ quán.[11]
“Thế nào là một tăng pháp? Đó là: ác lộ quán.
“Thế nào là một nan giải pháp? Đó là: vô gián định.[12]
“Thế nào là một sanh pháp? Đó là: hữu lậu giải thoát.[13]
“Thế nào là một tri pháp? Đó là: hết thảy chúng sanh đều do thức ăn mà
tồn tại.
“Thế nào là một chứng pháp? Đó là: vô ngại tâm giải thoát.[14]
“Lại nữa, có hai thành pháp, hai tu pháp, hai giác pháp, hai diệt pháp,
hai thối pháp, hai tăng pháp, hai nan giải pháp, hai sanh pháp, hai tri
pháp, hai chứùng pháp.
“Thế nào là hai thành pháp? Biết tàm và biết quí.
“Thế nào là hai tu pháp? Chỉ và quán.
“Thế nào là hai giác pháp? Danh và sắc.
“Thế nào là hai diệt pháp? Vô minh và ái.
“Thế nào là hai thối pháp? Hủy giới và phá kiến[15].
“Thế nào là hai tăng pháp? Có giới và có kiến.
“Thế nào là hai nan giải pháp? Có nhân, có duyên, khiến chúng sanh sanh
cáu bẩn. Có nhân, có duyên khiến chúng sanh đắc tịnh.
“Thế nào là hai sanh pháp? Tận trí và vô sanh trí.
“Thế nào là hai tri pháp? Thị xứ và phi xứ.[16]
“Thế nào là hai chứng pháp? Minh và giải thoát.
“Lại nữa, có ba thành pháp, ba tu pháp, ba giác pháp, ba diệt pháp, ba
thốùi pháp, ba tăng pháp, ba-nan giải pháp, ba sanh pháp, ba tri pháp, ba
chứng pháp.
“Thế nào là ba thành pháp? 1. Thân cận thiện hữu 2. Tai nghe pháp âm 3.
Thành tựu pháp và tùy pháp.[17]
“Thế nào là ba tu pháp? Đó là ba tam-muội: không tam-muội, vô tướng
tam-muội, vô tác tam-muội.[18]
“Thế nào là ba giác pháp? Đó là ba thọ: khổ thọ, lạc thọï, phi khổ phi
lạc thọ.
“Thế nào là ba diệt pháp? Đó là ba ái: dục ái, hữu ái, vô hữu ái.
“Thế nào là ba thối pháp? Đó là ba bất thiện căn: tham bất thiện căn,
nhuế bất thiện căn, si bất thiện căn.
“Thế nào là ba tăng pháp? Đó là ba thiện căn: vô tham thiện căn, vô nhuế
thiện căn, vô si thiện căn.
“Thế nào là ba nan giải pháp? Đó là ba điều khó hiểu: khó hiểu về các bậc
Hiền Thánh, khó hiểu về nghe Pháp, khó hiểu về Như Lai.[19]
“Thế nào là ba sanh pháp? Đó là ba tướng: tức chỉ tướng, tinh tấn tướng,
xả ly tướng[20].
“Thế nào là ba tri pháp? Đó là ba xuất yếu giới: 1. Thoát ly dục lên sắc
giới, 2. Thoát ly sắc giới lên vô sắc giới, 3. Xả ly hết thảy các pháp hữu
vi, đó được gọi là diệt tận.[21]
“Thế nào là ba chứng pháp? Đó là ba minh: túc mạng trí, thiên nhãn trí và
lậu tận trí.
“Các Tỳ-kheo, đó là ba mươi pháp như thật, không hư dối, Như Lai đã biết,
rồi thuyết pháp một cách xác thực.
Lại nữa, có bốn thành pháp, bốn tu pháp, bốn giác pháp, bốn diệt pháp,
bốn thối pháp, bốn tăng pháp, bốn nan giải pháp, bốn sanh pháp, bốn tri
pháp, bốn chứng pháp.
“Thế nào là bốn thành pháp? Đó là luân pháp[22]:
1. Sống ở giữa nước.[23] 2. Gần thiện
hữu. 3. Tự cẩn thận[24]. 4. Có gốc rễ
thiện đã được trồng từ đời trước.
“Thế nào là bốn tu pháp? Đó là bốn niệm xứ: 1. Tỳ-kheo quán thân trên nội
thân, tinh cần không biếng nhác, ức niệm không quên, trừ tham ưu ở đời.[25]
Quán thân trên ngoại thân, tinh cần không biếng nhác, ức niệm không quên,
trừ tham ưu ở đời. Quán thân trên nội ngoại thân, tinh cần không biếng nhác,
ức niệm không quên, trừ tham ưu ở đời; 2. Quán thọ; 3. Quán ý; 4. Quán pháp
cũng như vậy.
“Thế nào là bốn giác pháp? Đó là bốn thức ăn: thức ăn bằng vo nắm, thức
ăn bằng cảm xúc, thức ăn bằng tư niệm, thức ăn do thức.
“Thế nào là bốn diệt pháp? Đó là bốn thủ[26]:
dục thủ, ngã ngữ thủ, giới cấm thủ, và kiến thủ.
“Thế nào là bốn thối pháp? Đó là bốn ách[27]:
dục là ách, hữu là ách, kiến là ách, vô minh là ách.
“Thế nào là bốn tăng pháp? Đó là bốn vô ách: không có ách là dục, không
có ách là hữu, không có ách là kiến, không có ách là vô minh.
“Thế nào là bốn nan giải pháp? Đó là bốn thánh đế: khổ đế, tập đế, diệt
đế, đạo đế.[28]
“Thế nào là bốn sanh pháp: đó là bốn trí: pháp trí, vị tri trí, đẳng trí,
tha tâm trí[29].
“Thế nào là bốn tri pháp? Đó là bốn biện tài: pháp biện, nghĩa biện, từ
biện, vô ngại biện.[30]
“Thế nào là bốn chứng pháp? Đó là bốn Sa-môn quả: Tu-đà-hoàn quả,
Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm quả, A-la-hán quả.
“Các Tỳ-kheo, đó là bốn mươi pháp, như thật, không hư dối, Như Lai đã
biết, rồi thuyết pháp một cách xác thực.
“Lại nữa, có năm thành pháp, năm tu pháp, năm giác pháp, năm diệt pháp,
năm thối pháp, năm tăng pháp, năm nan giải pháp, năm sanh pháp, năm tri
pháp, năm chứng pháp.
“Thế nào là năm thành pháp? Đó là năm diệt tận chi[31]:
1. Tin Phật Như Lai, Chí chân, mười hiệu thành tựu 2. Không bệnh, thân
thường an ổn 3. Chất trực, không dua xiểm, hướng thẳng đến con đường dẫn đến
Niết-bàn của Như Lai[32]. 4. Chuyên
tâm không tán loạn, đọc tụng cũng không quên lãng 5. Khéo léo quán sát sự
sinh diệt của pháp, bằng thực hành của Hiền Thánh mà diệt tận gốc rễ khổ.
“Thế nào là năm tu pháp? Đó là năm căn[33]:
tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, và tuệ căn.
“Thế nào là năm giác pháp? Đó là năm thọ ấm[34]:
sắc thọ ấm, thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm.
“Thế nào là năm diệt pháp? Đó là năm cái: tham dục cái, sân nhuế cái,
thụy miên cái, trạo hối cái, và nghi cái.
“Thế nào là năm thối pháp? Đó là năm tâm ngại kết[35]:
1. Tỳ-kheo nghi Phật. Nghi Phật rồi thì không thân cận. Không thân cận rồi
thì không cung kính. Đó là tâm ngại kết thứ nhất. 2-4. Lại nữa, Tỳ-kheo, đối
với Pháp, đối với Chúng, đối với giới, có lọt, có rỉ, có hành vi không chân
chánh, có hành vi ô nhiễm, không thân cận giới, cũng không cung kính. Đó là
bốn tâm ngại kết. 5. Lại nữa, Tỳ-kheo đối với người đồng phạm hạnh sanh tâm
ác hại, tâm không hỷ lạc, mắng chửi bằng những lời thô lỗ. Đó là tâm ngại
kết thứ năm.
“Thế nào là năm tăng pháp? Đó là năm gốc rễ của hỷ: 1. Vui vẻ, 2. Niệm,
3. Khinh an, 4. Lạc, 5. Định[36].
“Thế nào là năm nan giải pháp? Đó là năm giải thoát xứ[37],
nếu Tỳ-kheo tinh cần không biếng nhác, ưa chỗ nhàn tĩnh, chuyên niệm nhất
tâm, chưa giải thì được giải, chưa diệt tận thì được diệt tận, chưa an thì
được an. Những gì là năm? Nếu Tỳ-kheo nghe Phật thuyết pháp hoặc nghe đồng
phạm hạnh thuyết, hoặc nghe sư trưởng thuyết, tư duy, quán sát, phân biệt
pháp nghĩa, tâm được hoan hỷ. Tâm được hoan hỷ rồi thì được pháp ái, được
pháp ái rồi thì thân tâm an ổn. Thân tâm an ổn rồi thì đắc thiền định. Đắc
thiền định rồi thì đắc như thật trí. Đó là giải thoát xứ thứ nhất. Ở đây,
Tỳ-kheo nghe pháp hoan hỷ, thọ trì đọc tụng cũng hoan hỷ, thuyết giảng cho
người khác cũng hoan hỷ, tư duy phân biệt cũng lại hoan hỷ, đối với pháp mà
đắc định cũng giống như vậy.
“Thế nào là năm sanh pháp?
“Đó là năm trí định của Hiền Thánh: 1. Tu tam-muội là, nay an lạc về sau
cũng an lạc, sanh nội ngoại trí[38].
2. Là Hiền Thánh vô ái[39], sanh nội
ngoại trí. 3. Là định mà chư Phật và các Hiền Thánh tu hành, sanh nội ngoại
trí. 4. Là êm dịu, tịch diệt tướng, độc nhất không gì sánh ngang,[40]
sanh nội ngoại trí. 5. Đối với tam-muội nhứt tâm nhập, nhứt tâm khởi, sanh
nội ngoại trí.
“Thế nào là năm tri pháp? Đó là năm xuất yếu giới: 1. Tỳ-kheo đối với dục
không lạc, không niệm tưởng, cũng không thân cận, mà chỉ niệm tưởng sự xuất
yếu, hoan lạc nơi sự viễn ly, thân cận không biếng nhác, tâm vị ấy nhu
nhuyến, xuất yếu, ly dục. Lậu khởi do bởi dục cũng bị diệt tận mà đắc giải
thoát. Đó là dục xuất yếu. 2. Sân nhuế xuất yếu. 3. Tật đốù xuất yếu. 4. Sắc
xuất yếu. 5. Thân kiến xuất yếu cũng giống như vậy.
“Thế nào là năm chứng pháp? Đó là năm tụ vô học[41]::
tụ vô học giới, tụ vô học định, tụ vô học tuệ, tụ vô học giải thoát, tụ vô
học giải thoát tri kiến.
“Các Tỳ-kheo, đó là năm mươi pháp, như thật, không hư dối. Như Lai đã
biết, rồi thuyết pháp một cách xác thực.
“Lại nữa, có sáu thành pháp, sáu tu pháp, sáu giác pháp, sáu diệt pháp,
sáu thối pháp, sáu tăng pháp, sáu nan giải pháp, sáu sanh pháp, sáu tri
pháp, sáu chứng pháp.
“Thế nào là sáu thành pháp? Đó là sáu trọng pháp[42]:
nếu có Tỳ-kheo tu sáu pháp tôn trọng, đáng kính đáng trọng, hòa hợp với
chúng không có tranh tụng, độc hành không hỗn tạp. Những gì là sáu? 1. Ở
đây, Tỳ-kheo thân thường hành từ[43],
kính đồng phạm hạnh, sống với tâm nhân ái. Đó gọi là trọng pháp, đáng kính,
đáng trọng, hòa hợp với chúng, không có tranh tụng, độc hành không hỗn tạp[44].
2-4. Lại nữa, Tỳ-kheo khẩu hành từ, ý hành từ; được vật lợi dưỡng đúng pháp
và những thức ăn ở trong bát cũng đều đem chia cho người khác dùng chung,
không phân biệt đây kia. 5. Lại nữa, Tỳ-kheo, đối với giới mà bậc Thánh hành
trì, không phạm, không hủy, không nhiễm ô, được bậc trí khen ngợi, khéo thọ
trì đầy đủ, thành tựu định ý. 6. Lại nữa, Tỳ-kheo chánh kiến về các phạm
hạnh để thành tựu sự xuất yếu của Hiền Thánh, để chân chánh diệt tận khổ, đó
gọi là trọng pháp, đáng kính đáng trọng, hòa hợp với chúng, không có tranh
tụng, độc hành không tạp.
“Thế nào là sáu tu pháp? Đó là sáu tu niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên.
“Thế nào là sáu giác pháp? Đó là sáu nội nhập: nhãn nhập, nhĩ nhập, tỷ
nhập, thiệt nhập, thân nhập, ý nhập.
“Thế nào là sáu diệt pháp? Đó là sáu ái: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị
ái, xúc ái, pháp ái.
“Thế nào là sáu thối pháp? Đó là sáu pháp bất kính: không kính Phật,
không kính Pháp, không kính Tăng, không kính giới, không kính định, không
kính cha mẹ.
“Thế nào là sáu tăng pháp? Đó là sáu pháp kính: kính Phật, kính Pháp,
kính Tăng, kính giới, kính định, kính cha mẹ.
“Thế nào sáu nan giải pháp? Đó là sáu vô thượng: kiến vô thượng, văn vô
thượng, lợi dưỡng vô thượng, giới vô thượng, cung kính vô thượng, niệm vô
thượng.
“Thế nào là sáu sanh pháp? Đó là sáu đẳng pháp[45]:
ở đây, Tỳ-kheo, mắt thấy sắc, không ưu, không hỷ, an trú xả, chuyên niệm.
Tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý tưởng pháp,
không ưu, không hỷ, an trú xả, chuyên niệm.
“Thế nào là sáu tri pháp? Đó là sáu xuất yếu giới. Nếu có Tỳ-kheo nói như
vầy: ‘Tôi tu từ tâm, lại còn sanh sân nhuế’, thì các Tỳ-kheo khác nói:
‘Ngươi đừng nói như thế. Chớ hủy báng Như Lai. Như Lai không nói như thế,
rằng muốn khiến tu từ giải thoát mà lại sanh sân nhuế, không có trường hợp
đó. Phật nói, trừ sân nhuế rồi sau đó mới đắc từ’. Nếu có Tỳ-kheo nói: ‘Tôi
thực hành bi giải thoát lại sanh tâm tật đố. Hành hỷ giải thoát, sanh tâm ưu
não. Hành xả giải thoát, sanh tâm yêu ghét. Hành vô ngã hành[46]
sanh tâm hồ nghi. Hành vô tưởng hành[47],
sanh các loạn tưởng’, thì cũng giống như vậy.
“Thế nào là sáu chứng pháp? Đó là sáu thần thông: 1. Thần túc thông, 2.
Thiên nhĩ thông, 3. Tri tha tâm thông, 4. Túc mạng thông, 5. Thiên nhãn
thông. 6. Lậu tận thông.
“Các Tỳ-kheo, đó là sáu mươi pháp, như thật không hư dối. Như Lai đã
biết, rồi thuyết pháp một cách xác thực.
“Lại nữa, có bảy thành pháp, bảy tu pháp, bảy giác pháp, bảy diệt pháp,
bảy thối pháp, bảy tăng pháp, bảy nan giải pháp, bảy sanh pháp, bảy tri
pháp, bảy chứng pháp.
“Thế nào là bảy thành pháp? Đó là bảy tài sản: tín là tài sản, giới là
tài sản, tàm là tài sản, quí là tài sản, đa văn là tài sản, huệ thí là tài
sản.
“Thế nào là bảy tu pháp? Đó là bảy giác ýù: ở đây, Tỳ-kheo tu niệm giác
ýù, y vô dục y tịch diệt, y viễn ly. Tu pháp, tu tinh tấn, tu hỷ, tu ỷ, tu
định, tu xả, y vô dục, y tịch diệt, y viễn ly.
“Thế nào là bảy giác pháp? Đó là bảy trú xứ của thức: nếu có chúng sanh
với nhiều tâm khác nhau, nhiều tưởng khác nhau, đó là trời và người vậy. Đó
là thức trú thứ nhất. Lại có chúng sanh, với nhiều thân khác nhau nhưng một
tưởng, đó là trời Phạm Quang âm lúc mới sanh đầu tiên. Đó là thức trú thứ
hai. Lại có chúng sanh với một thân nhưng nhiều tưởng khác nhau, đó là trời
Quang âm. Đó là thức trú thứ ba. Lại có chúng sanh với một thân và một tưởng
giống nhau, đó là trời Biến tịnh. Đó là thức trú thứ tư. Lại có chúng sanh
trú hư không xứ. Đó là thức trú thứ năm. Lại có chúng sanh trú ở thức xứ. Đó
là thức trú thứ sáu. Hoặc trú bất dụng xứ. Đó là thức trú thứ bảy.
“Thế nào là bảy diệt pháp? Đó là sáu sử[48]:
sai sử bởi dục ái, sai sử bởi hữu ái, sai sử bởi kiến, sai sử bởi mạn, sai
sử bởi sân nhuế, sai sử bởi vô minh, sai sử bởi nghi.
“Thế nào là bảy thối pháp? Đó là bảy phi pháp: ở đây, Tỳ-kheo không có
tín, không có tàm, không có quí, ít học, biếng nhác, hay quên, vô trí.
“Thế nào là bảy tăng pháp? Đó là bảy chánh pháp: ở đây Tỳ-kheo có tín, có
tàm, có quí, đa văn, không biếng nhác, nhớ dai, có trí.
“Thế nào là bảy nan giải pháp? Đó là bảy chánh thiện pháp: ở đây, Tỳ-kheo
ưa nghĩa, ưa pháp, ưa biết thời, ưa biết đủ, ưa tự nhiếp, ưa tập chúng, ưa
phân biệt người.
“Thế nào là bảy sanh pháp? Đó là bảy tưởng: tưởng về sự bất tịnh của
thân, tưởng về sự bất tịnh của thức ăn, tưởng về sự hết thảy thế gian không
đáng ưa thích, tưởng về sự chết, tưởng về vô thường, tưởng vô thường là khổ,
tưởng khổ là vô ngã.
“Thế nào là bảy tri pháp? Đó là bảy sự tinh cần: tinh cần nơi giới, tinh
cần diệt tham dục, tinh cần phá tà kiến, tinh cần nơi đa văn, tinh cần nơi
tinh tấn, tinh cần nơi chánh niệm, tinh cần nơi thiền định.
“Thế nào là bảy chứng pháp? Đó là bảy năng lực diệt tậnlậu hoặc[49]:
ở đây, Tỳ-kheo dứt tận lậu đối với hết thảy sự tập khởi của khổ, sự diệt
trừ, vị ngọt, sự tai hại, và sự xuất ly mà biết như thật, thấy như thật.
Quán sát dục như hầm lửa, và cũng như đao kiếm, biết dục, thấy dục, không
tham nơi dục, tâm không trụ nơi dục. Tỳ-kheo lậu tận, quán sát thuận và
nghịch, sau khi đã như thật giác tri, như thật thấy; tham, tật, ác bất thiện
pháp của thế gian, không rò rỉ, không sinh khởi. Tu tứ niệm xứ, tu tập nhiều
lần, thực hành nhiều lần. Tu năm căn, năm lực, bảy giác ýù, tám Hiền Thánh
đạo, tu tập nhiều lần.
“Các Tỳ-kheo, đó là bảy mươi pháp như thật không hư dối. Như Lai đã biết,
rồi thuyết pháp một cách xác thực.
“Lại nữa, có tám thành pháp, tám tu pháp, tám giác pháp, tám diệt pháp,
tám thối pháp, tám tăng pháp, tám nan giải pháp, tám sanh pháp, tám tri
pháp, tám chứng pháp.
“Thế nào là tám thành pháp? Đó lá tám nhân duyên khiến cho chưa sở đắc
phạm hạnh nhưng có thể sở đắc trí[50],
và nếu đã sở đắc phạm hạnh thì trí tăng trưởng. Những gì là tám? Ở đây,
Tỳ-kheo sống nương tựa Thế Tôn, hoặc nương tựa sư trưởng, hoặc nương tựa
người phạm hạnh có trí tuệ, sanh tâm tàm quý, có ái, có kính. Đó là nhân
duyên thứ nhất, chưa chứng đắùc phạm hạnh nhưng chứng đắc trí; đã chứng đắc
phạm hạnh thì trí tăng gia. Lại nữa, sống nương tựa Thế Tôn, tùy thời mà
thưa hỏi: ‘Pháp này có ý nghĩa gì? Dẫn đến đâu?’ Khi ấy các tôn trưởng liền
mở bày cho nghĩa lý thậm thâm. Đó là nhân duyên thứ hai. Sau khi nghe pháp
thân tâm an lạc, an tĩnh. Đó là nhân duyên thứ ba. Sau khi đã được an lạc,
an tĩnh, sẽ không luận bàn những tạp luận làm chướng ngại đạo. Vị ấy đến
giữa đại chúng hoặc tự mình thuyết pháp, hoặc thỉnh người khác thuyết, mà
vẫn không bỏ sự im lặng của Hiền Thánh. Đó là nhân duyên thứ tư. Đa văn,
quảng bác, ghi nhớ không quên các pháp thâm áo, hay khéo ở khoảng đầu,
khoảng giữa và khoảng cuối, có nghĩa có vị, chân thật, đầy đủ phạm hạnh. Sau
khi nghe thì ghi nhớ trong lòng, kiến giải không lay động.[51]
Đó là nhân duyên thứ năm. Tu tập tinh cần, diệt ác tăng thiện, gắng sức thực
hành không bỏ pháp ấy. Đó là nhân duyên thứ sáu. Bằng trí tuệ mà nhận thức
pháp sanh diệt, chỗ thú hướng của Hiền Thánh, tận cùng biên tế của khổ. Đó
là nhân duyên thứ bảy. Quán tướng sanh và tướng diệt của năm thọ ấm: Đây là
sắc, đây là sự tập khởi của sắc, đây là sự diệt tận của sắc. Đây là thọ
tưởng, hành, thức. Đây là sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức, sự diệt
tận của thọ, tưởng, hành, thức. Đó là nhân duyên thứ tám, khiến cho chưa sở
đắc phạm hạnh mà sở đắc trí, nếu đã sở đắc phạm hạnh thì trí tuệ tăng
trưởng.
“Thế nào là tám tu pháp? Đó là tám con đường của Hiền Thánh: chánh kiến,
chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh
niệm, chánh định.
“Thế nào là tám giác pháp? Đó là tám pháp ở đời: lợi, suy, vinh, nhục,
khen, chê, khổ, lạc.
“Thế nào là tám diệt pháp? Đó là tám tà: tà kiến, tà tư, tà ngữ, tà
nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định.
“Thế nào là tám thối pháp? Đó là tám pháp giải đãi. Tám pháp giải đãi là
những gì? Tỳ-kheo lười biếng, khất thực nhưng không được thực, bèn suy nghĩ:
‘Hôm nay ta khất thực dưới xóm nhưng không được thực, thân thể mệt mỏi không
đủ sức tọa thiền kinh hành. Ta nên nghỉ ngơi.’ Tỳ-kheo lười biếng suy nghĩ
như vậy và nằm nghỉ, không chịu siêng năng để sở đắc những điều chưa sở đắc,
thu hoạch những điều chưa thu hoạch, chứng những điều chưa chứng. Đó là sự
giải đãi thứ nhất.
“Tỳ-kheo lười biếng nhận được thức ăn đầy đủ, lại suy nghĩ: ‘Sáng nay ta
vào xóm khất thực, nhận được thức ăn và ăn quá no, thân thể nặng nề không
thể tọa thiền kinh hành. Ta nên ngủ nghỉ.’ Tỳ-kheo lười biếng liền ngủ nghỉ,
không chịu siêng năng để sở đắc những điều chưa sở đắc, thu hoạch những điều
chưa thu hoạch, chứng những điều chưa chứng. Đó là sự giải đãi thứ hai.
“Tỳ-kheo lười biếng, giả sử có làm chút công việc, bèn suy nghĩ: ‘Ngày
nay ta làm việc, thân thể mệt mỏi không thể tọa thiền kinh hành. Ta nên ngủ
nghỉ.’ Tỳ-kheo lười biếng liền ngủ nghỉ, không chịu siêng năng để sở đắc
những điều chưa sở đắc, thu hoạch những điều chưa thu hoạch, chứng những
điều chưa chứng. Đó là sự giải đãi thứ ba.
“Tỳ-kheo lười biếng, giả sử có chút việc sẽ phải làm, bèn suy nghĩ: ‘Ngày
mai ta sẽ làm việc, thân thể sẽ mệt mỏi, vậy hôm nay không thể tọa thiền
kinh hành. Ta nên nghỉ ngơi trước.’ Tỳ-kheo lười biếng liền ngủ nghỉ. Đó là
sự giải đãi thứ tư.
“Tỳ-kheo lười biếng, giả sử có đi lại chút ít bèn suy nghĩ: ‘Sáng nay ta
đi lại, thân thể mệt mỏi, không thể tọa thiền kinh hành. Ta nên ngủ nghỉ.’
Tỳ-kheo lười biếng liền ngủ nghỉ. Đó là sự giải đãi thứ năm.
“Tỳ-kheo lười biếng, giả sử sẽ phải đi lại chút ít, bèn suy nghĩ: ‘Ngày
mai ta sẽ phải đi lại, thân thể sẽ mệt mỏi, vậy hôm nay không thể tọa thiền
kinh hành. Ta nên nghỉ ngơi trước.’ Tỳ-kheo lười biếng liền ngủ nghỉ, không
chịu siêng năng để sở đắc những điều chưa sở đắc, thu hoạch những điều chưa
thu hoạch, chứng những điều chưa chứng. Đó là sự giải đãi thứ sáu.
“Tỳ-kheo lười biếng, giả sử gặp chút bịnh hoạn, bèn suy nghĩ: ‘Nay ta
bịnh nặng, mệt nhọc gầy yếu, không thể tọa thiền kinh hành. Ta nên ngủ
nghỉ.’ Tỳ-kheo lười biếng liền ngủ nghỉ, không chịu siêng năng để sở đắc
những điều chưa sở đắc, thu hoạch những điều chưa thu hoạch, chứng những
điều chưa chứng. Đó là sự giải đãi thứ bảy.
“Tỳ-kheo lười biếng, khi bịnh đã bớt, bèn suy nghĩ: ‘Ta khỏi bịnh chưa
lâu, thân thể gầy yếu, không thể tọa thiền kinh hành. Ta nên ngủ nghỉ.’
Tỳ-kheo lười biếng liền ngủ nghỉ, không chịu siêng năng để sở đắc những điều
chưa sở đắc, thu hoạch những điều chưa thu hoạch, chứng những điều chưa
chứng. Đó là sự giải đãi thứ tám.
“Thế nào là tám tăng pháp? Đó là tám sự không biếng nhác. Tỳ-kheo vào xóm
khất thực nhưng không được thức ăn, bèn suy nghĩ: ‘Ta thân thể nhẹ nhàng, ít
buồn ngủ, vậy ta hãy tinh tấn tọa thiền, kinh hành, để sở đắc những điều
chưa sở đắc, thu hoạch những điều chưa thu hoạch, chứng những điều chưa
chứng.’ Rồi Tỳ-kheo ấy liền siêng năng. Đó là sự tinh tấn thứ nhất.
“Tỳ-kheo khất thực được đủ, bèn suy nghĩ: ‘Nay ta vào xóm khất thực được
no đủ, khí lực sung túc, ta hãy tinh tấn tọa thiền, kinh hành, để sở đắc
những điều chưa sở đắc, thu hoạch những điều chưa thu hoạch, chứng những
điều chưa chứng.’ Rồi Tỳ-kheo ấy liền siêng năng. Đó là sự tinh tấn thứ hai.
“Tỳ-kheo siêng năng giả sử có chút công việc phải làm, bèn suy nghĩ: ‘Ta
vừa làm công việc mà bỏ phế sự hành đạo. Nay ta hãy tinh tấn tọa thiền, kinh
hành, để sở đắc những điều chưa sở đắc, thu hoạch những điều chưa thu hoạch,
chứng những điều chưa chứng.’ Rồi Tỳ-kheo ấy liền siêng năng. Đó là sự tinh
tấn thứ ba.
“Tỳ-kheo siêng năng giả sử có công việc sẽ phải làm, bèn suy nghĩ: ‘Ngày
mai ta sẽ làm công việc mà bỏ phế sự hành đạo. Nay ta hãy tinh tấn tọa
thiền, kinh hành, để sở đắc những điều chưa sở đắc, thu hoạch những điều
chưa thu hoạch, chứng những điều chưa chứng.’ Rồi Tỳ-kheo ấy liền siêng
năng. Đó là sự tinh tấn thứ tư.
“Tỳ-kheo siêng năng giả sử có chút đi lại, bèn suy nghĩ: ‘Ta sáng nay đi
lại mà bỏ phế sự hành đạo. Nay ta hãy tinh tấn tọa thiền, kinh hành, để sở
đắc những điều chưa sở đắc, thu hoạch những điều chưa thu hoạch, chứng những
điều chưa chứng.’ Rồi Tỳ-kheo ấy liền siêng năng. Đó là sự tinh tấn thứ năm.
“Tỳ-kheo siêng năng giả sử sẽ phải đi lại, bèn suy nghĩ: ‘Ngày mai ta sẽ
phải đi lại mà bỏ phế sự hành đạo. Nay ta hãy tinh tấn tọa thiền, kinh hành,
để sở đắc những điều chưa sở đắc, thu hoạch những điều chưa thu hoạch, chứng
những điều chưa chứng.’ Rồi Tỳ-kheo ấy liền siêng năng. Đó là sự tinh tấn
thứ sáu.
“Tỳ-kheo siêng năng giả sử bị bịnh hoạn, bèn suy nghĩ: ‘Ta nay bịnh nặng,
có thể mạng chung. Nay ta hãy tọa thiền kinh hành, để sở đắc những điều chưa
sở đắc, thu hoạch những điều chưa thu hoạch, chứng những điều chưa chứng.’
Rồi Tỳ-kheo ấy liền siêng năng. Đó là sự tinh tấn thứ bảy.
“Tỳ-kheo siêng năng khi bịnh có chút thuyên giảm bèn suy nghĩ: ‘Ta bịnh
mới khỏi, biết đâu nó tăng trở lại mà phế bỏ sự hành đạo. Nay ta hãy tinh
tấn tọa thiền, kinh hành, để sở đắc những điều chưa sở đắc, thu hoạch những
điều chưa thu hoạch, chứng những điều chưa chứng.’ Rồi Tỳ-kheo ấy liền siêng
năng. Đó là sự tinh tấn thứ tám.
“Thế nào là tám nan giải pháp? Đó là tám sự không thuận lợi, cản trở sự
tu tập phạm hạnh[52]. Những gì là
tám? Như Lai, Chí chân xuất hiện ở đời, nói pháp vi diệu, tịch diệt, vô vi,
hướng về đạo giác ngộ, mà có người sanh vào địa ngục. Đó là trường hợp không
thuận lợi, không thể tu tập phạm hạnh. Như Lai, Chí chân xuất hiện ở đời,
nói pháp vi diệu, tịch diệt, vô vi, hướng về đạo giác ngộ, mà có người sanh
vào súc sanh ngạ quỷ, cõi trời trường thọ, biên địa vô thức, chỗ không có
Phật pháp. Đó là trường hợp không thuận lợi, không thể tu tập phạm hạnh. Như
Lai, Chí chân xuất hiện ở đời, nói pháp vi diệu, tịch diệt, vô vi, hướng về
đạo giác ngộ, hoặc có người sanh ở trung ương, nhưng có tà kiến, mang tâm
điên đảo, thành tựu ác hành chắc chắn vào địa ngục. Đó là trường hợp không
thuận lợi, không thể tu tập phạm hạnh. Như Lai, Chí chân xuất hiện ở đời,
nói pháp vi diệu, tịch diệt, vô vi, hướng về đạo giác ngộ, hoặc có chúng
sanh sanh ở trung ương nhưng mù, điếc, câm, ngọng, không thể nghe pháp, tu
hành phạm hạnh. Đó là trường hợp không thuận lợi, không thể tu tập phạm
hạnh. Như Lai, Chí chân xuất hiện ở đời, nói pháp vi diệu, tịch diệt, vô vi,
hướng về đạo giác ngộ, hoặc có chúng sanh sanh ở trung ương, các căn đầy đủ
để lãnh thọ Thánh giáo nhưng không gặp Phật, không được tu hành phạm hạnh.
Đó là tám pháp không thuận lợi.
“Thế nào là tám sanh pháp? Đó là tám sự tỉnh giác của bậc đại nhân.[53]
Đạo phải là ít dục; nhiều dục không phải là đạo. Đạo phải là tri túc; không
biết nhàm đủ không phải là đạo. Đạo cần phải nhàn tĩnh; ưa đám đông không
phải là đạo. Đạo cần phải tự giữ; cười giỡn không phải là đạo. Đạo cần phải
tinh tấn; biếng nhác không phải là đạo. Đạo cần phải chuyên niệm; hay quên
lãng không phải là đạo. Đạo cần phải định ý; loạn ý không phải là đạo. Đạo
cần phải có trí tuệ; ngu si không phải là đạo.
“Thế nào là tám tri pháp? Đó là tám trừ nhập[54]:
1. Bên trong có sắc tưởng, quán ngoại sắc ít, hoặc đẹp hoặc xấu, thường quán
thường niệm. Đó là trừ nhập thứ nhất. 2. Bên trong có sắc tưởng, quán ngoại
sắc vô lượng, hoặc đẹp hoặc xấu, thường quán thường niệm. Đó là trừ nhập thứ
hai. 3. Bên trong không có sắc tưởng, quán ngoại sắc ít, hoặc xấu hoặc đẹp,
thường quán thường niệm. Đó là trừ nhập thứ ba. 4. Bên trong không có sắùc
tưởng, quán ngoại sắc vô lượng, hoặc đẹp hoặc xấu, thường quán thường niệm.
Đó là trừ nhập thứ tư. 5. Bên trong không sắc tưởng, quán ngoại sắc xanh,
màu xanh, ánh sáng xanh, cái nhìn xanh[55].
Ví như màu xanh của sen xanh. Cũng như vải ba-la-nại màu xanh, thuần nhất.
Màu xanh, ánh sáng xanh, cái nhìn xanh cũng được tưởng như vậy, thường quán
thường niệm. Đó là trừ nhập thứ năm. 6. Bên trong không sắc tưởng, quán
ngoại sắc vàng; màu vàng, ánh sáng vàng, cái nhìn vàng. Ví như màu vàng của
hoa vàng; vải ba-la-nại vàng. Màu vàng, ánh sáng vàng, cái nhìn vàng cũng
được tưởng như vậy, thường quán, thường niệm. Đó là trừ nhập thứ sáu. 7. Bên
trong không sắc tưởng quán ngoại sắc đỏ. Màu đỏ, ánh sáng đỏ, cái nhìn đỏ.
Ví như ba màu đỏ, vải ba-la-nại đỏ, thuần nhất màu đỏ, ánh sáng đỏ, cái nhìn
đỏ, cũng được tưởng như vậy thường quán, thường niệm. Đó là trừ nhập thứ
bảy. 8. Bên trong không sắc tưởng quán ngoại sắc trắng. Màu trắng, ánh sáng
trắng, cái nhìn trắng. Cũng như màu trắng của hoa trắng, vải ba-la-nại
trắng, thuần nhất. Cũng tưởng như vậy, màu trắng, ánh sáng trắng, cái nhìn
trắng, thường quán, thường niệm. Đó là trừ nhập thứ tám.
“Thế nào là tám chứng pháp? Đó là tám giải thoát. Bên trong có sắc tưởng,
quán sắc: giải thoát thứ nhất. Bên trong có sắc tưởng, quán ngoại sắc: giải
thoát thứ hai. Tịnh giải thoát: giải thoát thứ ba. Vượt sắc tưởng, diệt sân
nhuế tưởng, an trú không xứ: giải thoát thứ tư[56].
Vượt qua không xứ, an trú thức xứ: giải thoát thứ năm. Vượt qua thức xứ, an
trú bất dụng xứ: giải thoát thứ sáu. Vượt qua bất dụng xứ, an trú hữu tưởng
vô tưởng xứ: giải thoát thứ bảy. Vượt hữu tưởng vô tưởng xứ, an trú tưởng
tri diệt: giải thoát thứ tám.
“Các Tỳ-kheo, đó là tám mươi pháp như thật không hư dối. Như Lai đã biết,
rồi thuyết pháp một cách xác thực.
“Lại nữa, có chín thành pháp, chín tu pháp, chín giác pháp, chín diệt
pháp, chín thối pháp, chín tăng pháp, chín nan giải pháp, chín sanh pháp,
chín tri pháp, chín chứng pháp.
“Thế nào là chín thành pháp? Đó là chín tịnh diệt chi[57]:
giới[58] tịnh diệt chi, tâm tịnh diệt
chi, kiến tịnh diệt chi, độ nghi tịnh diệt chi, phân biệt tịnh diệt chi, đạo
tịnh diệt chi, trừ tịnh diệt chi, vô dụctịnh diệt chi, giải thoát tịnh diệt
chi.[59]
“Thế nào là chín tu pháp? Đó là chín gốc rễ của hỷ: 1. Hỷ, 2. Ái, 3.
Duyệt, 4. Lạc, 5. Định, 6. Như thật tri, 7. Trừ xả, 8. Vô dục, 9. Giải
thoát.[60]
“Thế nào chín giác pháp? Đó là chín nơi cư trú của chúng sanh. 1. Hoặc có
chúng sanh có nhiều thân khác nhau, với nhiều tưởng khác nhau, tức là chư
thiên và loài người. Đó là nơi cư trú thứ nhất của chúng sanh. 2. Lại có
chúng sanh có nhiều thân khác nhau, nhưng với một tưởng giống nhau, tức là
trời Phạm Quang âm lúc mới sanh. Đó là nơi cư trú thứ hai của chúng sinh. 3.
Lại có chúng sanh với một thân giống nhau, nhưng với nhiều tưởng khác nhau,
tức là trời Quang âm. Đó là nơi cư trú thứ ba của chúng sanh. 4. Lại có
chúng sanh với một thân một tưởng giống nhau, tức là trời Biến tịnh. Đó là
nơi cư trú thứ tư của chúng sanh. 5. Lại có chúng sanh không có tưởng và
không có giác tri, tức là trời Vô tưởng
[61]. Đó là nơi cư trú thứ năm của chúng sanh. 6. Lại có chúng sanh an
trú hư không xứ. Đó là nơi cư trú thứ sáu của chúng sanh. 7. Lại có chúng
sanh an trú thức xứ. Đó là an trú thứ bảy của chúng sanh. 8. Lại có chúng
sanh an trú vô sở hữu xứ. Đó là nơi cư trú thứ tám của chúng sanh. 9. Lại có
chúng sanh an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là nơi cư trú thứ chín của
chúng sanh.
“Thế nào là chín diệt pháp? Đó là chín gốc rễ của ái. Nhân ái có tìm cầu.
Nhân tìm cầu có lợi. Nhân lợi có dụng. Nhân dụng có dục. Nhân dục có dính
trước. Nhân dính trước có tật đố. Nhân tật đố có bảo thủ. Nhân bảo thủ có
hộ.
“Thế nào là chín thối pháp? Đó là chín não pháp. Có người đã não hại ta.
Nó đang não hại ta. Nó sẽ não hại ta. Nó đã xâm hại cái ta thương yêu. Nó
đang xâm hại cái ta thương yêu. Nó sẽ xâm hại cái ta thương yêu. Nó đã yêu
kính cái ta ghét. Nó đang yêu kính cái ta ghét. Nó sẽ yêu kính cái ta ghét.
“Thế nào là chín tăng pháp? Đó là chín vô não. Người kia đã xâm hại ta;
nghĩ vậy chẳng có ích gì: đã không sanh não, đang không sanh não, sẽ không
sanh não. Nó xâm não cái ta yêu thương; nghĩ như vậy chẳng có ích gì: đã
không sanh não, đang không sanh não, sẽ không sanh não. Nó yêu thương cái ta
ghét; nghĩ như vậy chẳng có ích gì: đã không sanh não, đang không sanh não,
sẽ không sanh não.
“Thế nào là chín nan giải pháp? Đó là chín phạm hạnh. Nếu Tỳ-kheo có tín
nhưng không trì giới, thì phạm hạnh không đầy đủ. Tỳ-kheo có tín và có giới
thì phạm hạnh đầy đủ. Nếu Tỳ-kheo có tín, có giới, nhưng không có đa văn,
thì phạm hạnh không đầy đủ. Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn thì phạm hạnh
đầy đủ. Nếu Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn, nhưng không thể thuyết pháp,
thì phạm hạnh không đầy đủ. Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn, có thể
thuyết pháp, thì phạm hạnh đầy đủ. Nếu Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn,
có thể thuyết pháp, nhưng không thể nuôi chúng, thì phạm hạnh không đầy đủ.
Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn, có thể thuyết pháp, có thể nuôi chúng,
thì phạm hạnh đầy đủ. Nếu Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn, có thể thuyết
pháp, có thể nuôi chúng, nhưng giữa đại chúng không thể quảng diễn pháp
ngôn, thì phạm hạnh không đầy đủ. Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn, có thể
thuyết pháp, có thể nuôi chúng, có thể quảng diễn pháp ngôn giữa đại chúng
thì phạm hạnh đầy đủ. Nếu Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn, có thể thuyết
pháp, có thể nuôi chúng, giữa đại chúng có thể quảng diễn pháp ngôn, nhưng
không chứng đắc tứ thiền, thì phạm hạnh không đầy đủ. Tỳ-kheo có tín, có
giới, có đa văn, có thể thuyết pháp, có thể nuôi chúng, có thể quảng diễn
pháp ngôn giữa đại chúng, lại đắc tứ thiền, thì phạm hạnh đầy đủ. Nếu
Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn, có thể thuyết pháp, có thể nuôi chúng,
giữa đại chúng có thể quảng diễn pháp ngôn, lại chứng đắc tứ thiền, nhưng
đối với tám giải thoát không thể thuận nghịch du hành, thì phạm hạnh không
đầy đủ. Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn, có thể thuyết pháp, có thể nuôi
chúng, có thể quảng diễn pháp ngôn giữa đại chúng, lại đắc tứ thiền, đối với
tám giải thoát có thể thuận nghịch du hành, thì phạm hạnh đầy đủ. Nếu
Tỳ-kheo có tín, có giới, có đa văn, có thể thuyết pháp, có thể nuôi chúng,
giữa đại chúng có thể quảng diễn pháp ngôn, lại chứng đắc tứ thiền, đối với
tám giải thoát có thể thuận nghịch du hành, nhưng không thể diệt tận các
lậu, thành vô lậu tâm giải thoát, trí tuệ giải thoát, ngay trong hiện tại mà
tự thân tác chứng, sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa, thì phạm hạnh không đầy đủ. Tỳ-kheo có tín, có
giới, có đa văn, có thể thuyết pháp, có thể nuôi chúng, có thể quảng diễn
pháp ngôn giữa đại chúng, lại đắc tứ thiền, đối với tám giải thoát có thể
thuận nghịch du hành, có thể diệt tận các lậu, thành vô lậu tâm giải thoát,
trí tuệ giải thoát, ngay trong hiện tại mà tự thân tác chứng, sanh tử đã
dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa,
thì phạm hạnh đầy đủ.
“Thế nào là chín sanh pháp? Đó là chín tưởng. Tưởng về sự bất tịnh, tưởng
về sự bất tịnh của thức ăn, tưởng về hết thảy thế gian không đáng ưa thích,
tưởng về sự chết, tưởng về vô thường, tưởng vô thường là khổ, tưởng khổ là
vô ngã, tưởng về sự diệt tận, tưởng về vô dục.
“Thế nào là chín tri pháp? Đó là chín dị pháp. Sanh quả dị nhân quả dị,
sanh xúc dị nhân xúc dị, sanh thọ dị nhân thọ dị, sanh tưởng dị nhân tưởng
dị, sanh tập dị nhân tập dị, sanh dục dị nhân dục dị, sanh lợi dị nhân lợi
dị, sanh cầu dị nhân cầu dị, sanh phiền não dị nhân phiền não dị.
“Thế nào là chín chứng pháp? Đó là chín tận.[62]
Nếu nhập sơ thiền, thì gai nhọn là âm thanh bị diệt trừ. Nhập đệ nhị thiền,
thì gai nhọn là giác và quán bị diệt trừ. Nhập đệ tam thiền, thì gai nhọn là
hỷ bị diệt trừ. Nhập đệ tứ thiền, thì gai nhọn là hơi thở ra vào bị diệt
trừ. Nhập không xứ thì gai nhọn là sắc tưởng bị diệt trừ. Nhập thúc xứ thì
gai nhọn là không tưởng bị diệt trừ. Nhập bất dụng xứ thì gai nhọn là thức
tưởng bị diệt trừ. Nhập hữu tưởng vô tưởng xứ thì gai nhọn là bất dụng tưởng
bị diệt trừ. Nhập diệt tận định thì gai nhọn là tưởng và thọ bị diệt trừ.
“Các Tỳ-kheo, đó là chín mươi pháp như thật không hư dối. Như Lai đã
biết, rồi thuyết pháp một cách xác thực.
“Lại nữa, có mười thành pháp, mười tu pháp, mười giác pháp, mười diệt
pháp, mười thối pháp, mười tăng pháp, mười nan giải pháp, mười sanh pháp,
mười tri pháp, mười chứng pháp.
“Thế nào là mười thành pháp? Đó là mười cứu pháp.[63]
1. Tỳ-kheo đầy đủ hai trăm năm mươi giới, đầy đủ oai nghi, thấy lỗi nhỏ nhặt
sanh tâm lo sợ lớn, chân chánh học giới[64],
tâm không nghiêng lệch. 2. Có được thiện tri thức. 3. Ngôn ngữ trung chánh,
nhẫn nhịn được nhiều điều[65]. 4. Ưa
cầu thiện pháp, phân bố không tiếc lẫn. 5. Các đồng phạm hạnh có việc phải
làm liền đến giúp đỡ không lấy làm mệt nhọc, làm được những việc khó làm và
cũng dạy người khác làm. 6. Nghe nhiều; nghe xong thì ghi nhớ không hề quên
7. Tinh tấn, diệt trừ bất thiện pháp, tăng trưởng thiện pháp. 8. Thường tự
chuyên niệm, không có tưởng khác, nhớ những hành vi thiện từ trước như thấy
trước mắt. 9. Trí tuệ thành tựu, quán sự sanh diệt của các pháp, bằng pháp
luật Hiền Thánh mà đoạn trừ gốc khổ. 10. Vui với sự nhàn cư, chuyên niệm tư
duy, ở trung gian thiền, không có đùa giỡn.
“Thế nào là mười tu pháp? Đó là mười chánh hành. Chánh kiến, chánh tư
duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định, chánh giải thoát, chánh tri.
“Thế nào là mười giác pháp? Đó là mười sắc nhập.[66]
Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân nhập, sắc, thanh, hương, vị, xúc nhập.
“Thế nào là mười diệt pháp? Đó là mười tà hạnh. Tà kiến, tà tư duy, tà
ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định, tà giải thoát, tà
trí.
“Thế nào là mười thối pháp. Đó là mười bất thiện hành tích.[67]
Thân có sát, đạo, dâm, khẩu có hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt, ý
có tham lam, tật đố, tà kiến.
“Thế nào là mười tăng pháp? Đó là mười thiện hành. Thân không sát, đạo,
dâm; khẩu không hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt; ý không tham lam,
tật đố, tà kiến.
“Thế nào là mười nan giải pháp? Đó là mười Hiền Thánh cư[68].
1. Tỳ-kheo trừ diệt năm chi[69]. 2.
thành tựu sáu chi[70]. 3. xả một chi[71].
4. y trên bốn[72]. 5. diệt dị đế[73].
6. thắng diệu cầu.[74] 7. không trược
tưởng[75]. 8. thân hành đã lập[76].
9. tâm giải thoát. 10. tuệ giải thoát.
“Thế nào là mười sanh pháp? Đó là mười trường hợp khen ngợi. Nếu Tỳ-kheo
tự mình đã có được tín tâm rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi
những người có được tín tâm. Tự mình đã trì giới rồi lại nói cho người khác,
và cũng khen ngợi những người trì giới. Tự mình thiểu dục rồi lại nói cho
người khác, và cũng khen ngợi những người thiểu dục. Tự mình tri túc rồi lại
nói cho người khác và cũng khen ngợi những người tri túc. Tự mình ưa nhàn
tĩnh rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người ưa nhàn tĩnh.
Tự mình đa văn rồi lại nói cho người khác và cũng khen ngợi những người đa
văn. Tự mình tinh tấn rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những
người tinh tấn. Tự mình chuyên niệm rồi lại nói cho người khác, và cũng khen
ngợi những người chuyên niệm. Tự mình đắc thiền định rồi lại nói cho người
khác, và cũng khen ngợi những người đắc thiền định. Tự mình đắc trí tuệ rồi
lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người đắc trí tuệ.
“Thế nào là mười tri pháp? Đó là mười diệt pháp[77].
Người chánh kiến có thể diệt trừ tà kiến. Và cũng diệt trừ sạch những gì là
vô số ác duyên tà kiến mà khởi lên. Và cũng thành tựu những gì là vô số
thiện nhân chánh kiến mà sanh khởi. Chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định, chánh giải thoát,
chánh trí. Người có chánh trí có thể diệt trừ tà trí, và vô số ác nhân tà
trí sanh khởi cũng hoàn toàn bị diệt tận. Và vô số thiện pháp, nhân chánh
trí sanh khởi, thảy đều được thành tựu.
“Thế nào là mười vô học pháp? Vô học chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định, chánh
giải thoát, chánh trí.
“Các Tỳ-kheo, đó là trăm pháp như thật không hư dối. Như Lai đã biết, rồi
thuyết pháp một cách xác thực.”
Bấy giờ, Xá-lợi-phất được Phật ấn khả. Các Tỳ-kheo sau khi nghe những
điều Xá-lợi-phất thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Bản Hán, Phật thuyết Trường
A-hàm kinh, quyển 9, “Đệ nhị phần Thập thượng kinh đệ lục”, Đại I tr.
52c-57b. Tham chiếu, Trường A-hàm Thập báo pháp kinh, Hậu Hán An Thế Cao
dịch (Đại I tr 233); số 9, “kinh Chúng tập” ở trên.-Tương đương Pāli, D.
3, Deva Dig iii. 11, Dasuttara-suttanta, Trường II tr. 653, “kinh Thập
Thượng.”
[2] Bản Pāli: cùng với năm trăm
tỳ kheo.
[3] Chiêm-bà 瞻 婆; (Pāli:
Campā), thủ phủ của nước Ương-già 伽 (Pāli: Aṅga)
[4] Già-già trì 伽 伽 池, Pāli:
Gaggarā-pokkharai, hồ sen Gaggarā.
[5] Hán: kỳ niên Xá-lợi-phất 耆
年 舍 利 弗; Pāli: āyasmā Sariputto.
[6] Thập thượng pháp 十 上 法, tức
pháp thập tiến; Pāli: dasuttara-dhamma.
[7] Hán: trừ chúng kết phược 除
眾 結 縳: Pāli: sabbaganthappamocanaṃ, cởi mở tất cả mọi sự trói buộc.
[8] Trong bản: nê-hoàn 泥 洹.
[9] Đối chiếu Pāli (D. 34,
sđd.: tr 211, Trường II tr. 653): thành pháp 成 法, dhammo bahukāro, pháp
đem lại nhiều lợi ích; tu pháp修 法, bhāvitabbo, cần phải tu tập; giác
pháp覺 法, pariññeyyo, cần được nhận thức toàn diện; diệt pháp 滅 法,
pahātabbo, cần phải loại trừ; thối pháp 退 法, hānabhāgiyo, dẫn đến thoái
hóa; tăng pháp 增 法, visesabhāgiyo, dẫn đến sự thăng tiến; nan giải pháp難
解 法, duppativijjho, khó hiểu; sanh pháp 生 法, uppādetabbo, cần phải làm
cho phát sanh; tri pháp知 法, abhiññeyyo, cần được chứng tri; chứng pháp證
法, sacchikātabbo, cần được chứng nghiệm.
[10] Hữu lậu xúc 有 漏 觸; Pāli:
phasso sāsavo upādāniyo, xúc có tính chất hữu lậu dẫn đến chấp thủ.
[11] Bất ác lộ quán不 惡 露 觀 (?
Không hiểu nghĩa). Pāli: ayoniso manasikāro, không như lý tác ý. Có lẽ
bản Hán hiểu yoniso phái xuất từ yoni (Skt. id): tử cung, hay âm hộ,
thay vì nghĩa triệt để hay căn bản.
[12] Vô gián định 無 間 定;
Pāli: ānantariko cetosāmadhi, vô gián tâm định.
[13] Hữu lậu giải thoát 有 漏 解
脫; Pāli: akuppam ñānam: bất động trí.
[14] Vô ngại tâm giải thoát 無
礙 心 解 脫; Pāli: akuppā cetovimutti, bất động tâm giải thoát.
[15] Pāli: dovocassatā ca
pāpa-mittatā, ác ngôn và ác hữu.
[16] Thị xứ phi xứ 是 處 非 處, 1
trong 10 trí lực của Phật (ṭhānāṭhānaṃ-yathābhūta-ñāṇnaṃ: nhận thức như
thực về những gì là hiện thực và không hiện thực). -Trong bản Pāli, D
34. sđd.: katame dve dhammā abhiññeyyā ?… saṅkhatā dhātu ca asaṇkhatā
dhātu ca, hai pháp cần được nhận thức toàn diện là gì ?… Hữu vi giới và
vô vi giới.
[17] Pháp pháp thành tựu 法 法
成 就; Pāli: dhammānudhammappatipatti, thực hành, hay hướng đến, pháp và
những tùy thuộc pháp.
[18] Không, vô tướng, vô tác
空 無 相 無 作, các bản TNM: hữu giác hữu quán tam muội 有 覺 有 觀 三 昧, vô giác
hữu quán tam-muội 無 覺 有 觀 三 昧, vô giác vô quán tam-muội 無 覺 無 觀 三 昧;
Pāli: savitakko savicāro samādhi, avitakko savicāro samādhi, avitakko
avicāro samādhi.
[19] Hiền Thánh nan giải 賢 聖
難 解, văn pháp nan giải 聞 法 難 解, Như Lai nan giải 如 來 難 解; các bản TNM:
tam-ma-đề tướng nan giải 三 摩 提 相 難 解, khó hiểu về dấu hiệu của sự nhập
định, tam-ma-đề trú tướng nan giải 三 摩 提 住 相 難 解, khó hiểu về dấu hiệu
an trú trong định, tam-ma-đề khởi tướng nan giải 三 摩 提 起 相 難 解, khó hiểu
về dấu hiệu xuất định; Pāli: katame tayo dhammā duppaṭivijjhā? Tisso
nissaraṇiyā dhātuyo: kāmānam etaṃ nissaraṇaṃ yad idaṃ nekkhammaṃ,
rūpānam etaṃ nissaraṇaṃ yad iadaṃ arūpaṃ, yaṃ kho pana kiñca bhūtaṃ
saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ nirodho tassa nissaraṇaṃ: ba pháp khó thể
nhập là gì ? Đó là ba xuất ly giới: viễn ly tức thoát ly dục vọng; vô
sắc tức thoát ly khỏi sắc; diệt tức thoát ly những gì là tồn tại, hữu
vi, duyên khởi.
[20] Tam tướng 三 相: chỉ tức
tướng 止 息 相, tinh tấn tướng 精 進 相, xả ly tướng 捨 離 相; các bản TNM:
không, vô tướng, vô tác 空 無 相 無 作; Pāli: tīṇi ñāṇāni: atītaṃse ñāṇaṃ,
anāgataṃse ñāṇaṃ, paccuppannaṃse ñāṇaṃ: ba nhận thức: nhận thức về quá
khứ, về vị lai, về hiện tại.
[21] D 34, sđd.: tr 212 đặt 3
xuất ly giới này vào loại pháp khó hiểu khó thể nhập; xem cht. 19 treân.
Pāli: katame tayo dhammā abhiññeyyā ? Tisso dhātuyo: kāmadhātu,
rūpadhātu, arūpadhātu, ba pháp cần nhận thức toàn diện là gì ? Đó là ba
giới: Dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
[22] Tứ luân 四 輪; Pāli:
cattāri cakkāni, bốn bánh xe.
[23] Pāli: paṭirūpadesavāso:
sống ở địa phương thích hợp.
[24] Tự cẩn thận 自 謹 慎; các
bản TNM: túc tằng phát tinh nguyện 宿 曾 發 精 願, ước nguyện đã phát từ đời
trước. Pāli: attasammāpaṇidhi, tự chánh nguyện.
[25] Pāli: kāye kāyānupassī
viharati ātāpī sampajā no satimā, vineyya loke abhijjhādo manassaṃ, sống
quán thân trên thân, nhiệt tâm, chánh trí, chánh niệm, để chế ngự ham
muốn và ưu phiền ở đời.
[26] Tứ thọ, đây chỉ 4 chấp
thủ; trong bản Pāli: cattāro oghā, 4 bộc lưu hay dòng thác.
[27] Tứ ách四 扼; Pāli: cattāro
yogā.
[28] Bốn Thánh đế, trong bản
Pāli thuộc 4 pháp cần nhận thức toàn diện. Bốn nan giải, trong bản Pāli:
cattāro samādhi: hānabhāgiyo samādi, ṭhitibhāgiyo samādhi, visesabhāgiyo
samādhi nibbedhabhāgiyo samādhi: bốn định: thuận thối phần hay xả phần
định, thuận trú phần hay chỉ phần định, thuận thắng tiến phần hay thắng
phần định, thuận quyết trạch phần định.
[29] Tứ trí 四 智: pháp trí法 智,
vị tri trí未 知 智, đẳng trí等 智, tha tâm trí他 心 智; Pāli: cattāri ñāṇāni:
dhamme ñāṇaṃ, anvaye ñāṇaṃ, pariye ñāṇaṃ, sammutiyā ñāṇaṃ, pháp trí,
loại trí, tha tâm trí, thế tục trí.
[30] Các bản TNM: tri tiểu,
tri đại, tri vô lượng, tri vô biên pháp 知 小 知 大 知 無 量 知 無 邊 法.-Bản Pāli:
katame cattāro dhammā abhiññeyyā? Cattāri ariyasaccāni, bốn pháp cần
nhận thức toàn diện là gì? Đó là bốn Thánh đế.
[31] Diệt tận chi 滅 盡 支:
Pāli: padhāniyaṅga (padhānaṅga), tinh cần chi. Xem cht. 94 tr 227, kinh
số 9 “Chúng tập.”
[32] Văn đoạn này so với mục
năm pháp trong kinh Chúng tập có hơi khác. Có những chữ thừa trong kinh
Chúng tập.
[33] Pāli: katame pañca
dhammā bhāvetabbā? Pañcaṅgiyo sammā samādhi, chánh định có 5 thành phần.
[34] Thọ ấm受 陰, thường gọi là
thủ uẩn取 蘊; Pāli: upādanakkhanda
[35] Tâm ngại kết: tâm xơ
cứng. Pāli: cetokhīla; khīla vừa có nghĩa cứng, vừa có nghĩa hoang vu.
Trường II tr. 662: tâm hoang vu.
[36] Ngũ hỷ bổn 五 喜 本: duyệt
悅, niệm念, ỷ猗, lạc樂, định 定; Pāli: pañcindriyāni: saddhindriyaṃ,
viriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ, năm căn: tín
căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.
[37] Giải thoát nhập 解 脫 入;
kinh số 9, “Chúng tập”, hỷ giải thoát nhập 喜 解 脫 入; xem cht. 100 tr
trên. Trong bản Pāli: 5 giải thoát xứ (pañca vimuttāyatāni) thuộc pháp
cần nhận thức toàn diện (abhiññeyya); thuộc năm nan giải pháp là xuất ly
giới (duppaṭivijjha) tức 5 tri pháp trong bản Hán.
[38] Sanh nội ngoại trí 生 內 外
智. Pāli: paccattam ñānam upajjato: “Nội tâm khởi lên nhận thức như thế.”
[39] Hiền thánh vô ái 賢 聖 無
愛. Pāli: ariyo nirāmiso, ( loại tam muội đang được tu này) là Thánh, là
phi vật dục.
[40] Nguyên văn: ỷ, tịch diệt
tướng, độc nhi vô lữ, nhi sanh nội ngoại trí 猗 滅 相 獨 而 無 侶 而 生 內 外 智.
Pāli: ayaṃ samādhi santo paṇīto paṭippassaddhaladdho ekodhibhāvādhigato,
định này tịch tĩnh, vi diệu, đưa đến chỗ an ổn, đạt đến trạng thái
chuyên nhất.
[41] Ngũ vô học tụ 五 無 學 聚;
Pāli: pañca dhammakkhandhā, 5 pháp uẩn, hay pháp tụ.
[42] Lục trọng pháp 六 重 法,
thường gọi là pháp lục hòa; Pāli: cha sārāṇīyā dhammā, sáu pháp khả
niệm, hay hòa kính.
[43] Thân thường hành từ 身 常
行 慈; Pāli: mettaṃ kāyakammaṃ, thân nghiệp từ ái.
[44] Danh viết trọng pháp,
khả kính khả trọng, hòa hiệp ư chúng, vô hữu tranh tụng, độc hành vô tạp
名 曰 重 法 可 敬 可 重 和 合 於 眾 無 有 諍 訟 獨 行 無 雜. Pāli: ayaṃ pi dhammo sāraṇīyo
piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekobhāvāya
saṃvattati, pháp hòa kính này tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng,
đưa đến sự đoàn kết, không tranh chấp, hòa hợp, nhất trí.
[45] Lục đẳng pháp; Pāli: cha
satata-vihārā, sáu hằng trú.
[46] Hành vô ngã hành行 無 我 行;
Pāli: asmī ti kho me vigataṃ, ayam aham asmī ti na samanupassāmi, không
có quan niệm ‘Tôi hiện hữu’, không quán sát ‘Tôi là cái này’.
[47] Hành vô tưởng hành行 無 想
行; Pāli: animittā… cetovimutti bhāvitā, tu tập vô tưởng tâm định.
[48] Pāli: sattānusayā, tùy
miên.
[49] Thất lậu tận lực七 漏 盡 力;
Pāli: satta khiṇāsava-balāni. Bảy lậu tận lực theo Pāli: 1. Aniccato
sabbe saṅkhārā yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, với chánh tuệ,
thấy một cách chân thật về hết thảy hành vô thường; 2. Aṅgārakāsūpamā
kāmā (…), thấy dục như than lửa hừng hừng; 3. Vivekaninnaṃ cittaṃ (…)
tâm hướng đến ly dục; 4. Cattaāro satipaṭṭhānā bhāvitā, tu tập bốn niệm
xứ; 5. Pañcindriyāni bhāvitāni, tu tập năm căn; 6. satta bojjhaṅgā
bhāvitā, tu tập bảy giác chi; 7. Ariyo aṭṭhaṅiko maggo bhāvito, tu tập
thánh đạo tám chi.
[50] Pāli:
ādibrahmacariyikāya paññāya appaṭiladdhāya paṭilābhāya… nếu chưa chứng
đắc trí tuệ thuộc căn bản phạm hạnh, thì sẽ đưa đến chứng đắc.
[51] Kiến bất lưu động 見 不 流
動. Pāli: diṭṭhiyā suppaæividdhā, kiến giải thông đạt.
[52] Bát bất nhàn phương tu
phạm hạnh 八 不 閑 妨 修 梵 行; Pāli: aṭṭha akkhanā asamayā
brahmacariya-vāsāya: tám trường hợp trái thời trái tiết đối với đời sống
phạm hạnh.
[53] Bát đại nhân giác 八 大 人
覺; Pāli: aṭṭha mahāpurisavitakkā, tám suy niệm của bậc đại nhân.
[54] Bát trừ nhập 八 除 入, tức
bát bội xả 八 背 捨 hay bát thắng xứ 八 勝 處. Tham chiếu, No. 1536 (Đại XXVI,
tr. 445b). Pāli: attha abhibhāyatanāni.
[55] Thanh sắc, thanh quang,
thanh kiến 青 色 青 光 青 見. No. 1536: thanh hiển, thanh hiện, thanh quang 青
顯 青 現 青 光. Pāli: nīlavannāni nīladassanāni nīlabhāsāni.
[56] Xem kinh Chúng tập, mục
tám pháp.
[57] Tịnh diệt chi 淨 滅 支;
Pāli: parisuddhipadhāniyaṅga, thành phần cần nỗ lực để thanh tịnh: biến
tịnh tinh cần chi. Chín pháp này, trong D. 34 thuộc về các pháp cần tu
tập.
[58] Giới 戒; Pāli: sīla,
giới.
[59] Liệt kê của D 34: sīla
(giới), citta (tâm), diṭṭhi (kiến), kaṅkhāvitaraṇa (đoạn nghi),
maggāmaggañānadassana (đạo phi đạo tri kiến), paṭipadāñānadassana (đạo
tích tri kiến), ñāṇadassana (tri kiến), paññā (tuệ), vimutti (giải
thoát).
[60] Không thấy tương đương
trong D. 34
[61] Vô tưởng vô sở giác tri
無 想 無 所 覺 知; No. 1536: vô tưởng vô biệt tưởng 無 想 無 別 想. Pāli: asaññino
appaṭīsamvedino
[62] Cửu tận 九 盡; Pāli: nava
anupubbanirodhā, chín sự diệt trừ theo thứ tự.
[63] Cứu pháp; Pāli:
nāthakaraṇa: tác nhân che chở.
[64] Nguyên văn: bình đẳng
học giới 平 等 學 戒; Pāli: samādāya sikkhati sikkhapa-desu, sau khi thọ
lãnh, tu học trong các học xứ.
[65] Đa sở hàm thọ 多 所 含 受;
Trường II tr. 646: nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính.
[66] Sắc nhập, hay sắc xứ.
[67] Thập bất thiện hành tích
十 不 善 行 跡, hay Thập bất thiện nghiệp đạo 十 不 善 業 道. Pāli: dasa
akusalakammapathā.
[68] Mười thánh cư; Pāli:
dasa ariyavāsā.
[69] Tức diệt năm triền cái.
[70] Tức thành tựu sự chế ngự
sáu căn môn.
[71] Pāli: ekārakho (…)
satārakkhena cetasā samannāgato, một hộ trì, thành tựu sự hộ trì, tức
chuyên niệm không xao lãng. Eka (một) + ārakkha (thủ hộ), bản Hán: eka+
arakkha: không thủ hộ= xả.
[72] Tứ y 四 依, xem Tập dị môn
túc, No. 1536: tư trạch một pháp cần viễn ly, một pháp cần thọ dụng, một
pháp cần trừ khử, một pháp cần nhẫn thọ. Pāli: caturāpasseno:
sankhāyekam paṭisevati, adhivāseti, parivajjeti, vinodeti, sau khi tư
duy, thọ dụng một pháp, nhẫn thọ (một pháp), viễn ly (một pháp), trừ khử
(một pháp). Xem Trường II tr. 649.
[73] Diệt dị đế 滅 異 諦; Pāli:
paṇunnapaccekasacco, loại trừ thiên kiến, tức giáo điều cố chấp của
ngoại đạo.
[74] Thắng diệu cầu 勝 妙 求;
Pāli: samavayasaṭṭhesana: đoạn tận các dục cầu.
[75] Vô trược tưởng; Pāli:
anāvilasankappo, tư duy không ô trược.
[76] Thân hành dĩ lập 身 行 已
立; Pāli; passaddhakāyasaṅkhāro, thân hành khinh an.
[77] Thập diệt pháp十 滅 法;
dasa nijjaravatthūni, mười cơ sở diệt trừ.