長 阿 含 經
KINH TRƯỜNG A HÀM
Hán Dịch. Phật Ðà Da Xá
& Trúc Phật Niệm
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ
|
PHẦN II
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại thành Na-nan-đà[2],
trong rừng Ba-ba-lị am-bà[3], cùng với
chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ trưởng lão Xá-lợi-phất đang ở nơi nhàn tĩnh, thầm tự suy nghĩ
rằng:
“Ta biết với tâm quyết định[4] rằng
các Sa-môn, Bà-la-môn trong quá khứ, vị lai và hiện tại, không ai có trí
tuệ, thần túc, công đức, đạo lực sánh bằng Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng
chánh giác.[5]"
Rồi Xá-lợi-phất rời khỏi tịnh thất, đi đến chỗ Phật; cúi đầu lễ chân
Phật, rồi ngồi sang một bên, bạch Phật rằng:
“Vừa rồi ở tịnh thất, con thầm tự nghĩ rằng: ‘Các Sa-môn, Bà-la-môn trong
quá khứ, vị lai và hiện tại, không ai có trí tuệ, thần túc, công đức, đạo
lực sánh bằng Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh giác.’.”
Phật bảo Xá-lợi-phất:
“Lành thay, lành thay, ngươi có thể trước Phật mà nói lời như vậy. Với
tin tưởng xác quyết[6], ngươi thật sự
cất tiếng rống sư tử. Các Sa-môn, Bà-la-môn không ai bằng ngươi được. Thế
nào, Xá-lợi-phất, ngươi có thể biết những điều được nhớ nghĩ trong tâm của
chư Phật quá khứ chăng? Biết Đức Phật ấy có giới như vậy, pháp như vậy, trí
tuệ như vậy, giải thoát như vậy, giải thoát đường[7]
như vậy chăng?”
Đáp rằng: “Không biết”.
“Thế nào, Xá-lợi-phất, ngươi có thể biết những điều được nhớ nghĩ trong
tâm của chư Phật đương lai chăng? Biết Đức Phật ấy có giới như vậy, pháp như
vậy, trí tuệ như vậy, giải thoát như vậy, giải thoát đường như vậy chăng?”
Đáp rằng: “Không biết”.
“Thế nào, Xá-lợi-phất, nay, như Ta, Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh giác,
những gì được nhớ nghĩ trong tâm, có giới như vậy, pháp như vậy, trí tuệ như
vậy, giải thoát như vậy, giải thoát đường như vậy, ngươi có thể biết được
chăng?”
Đáp rằng: “Không biết”.
Phật lại bảo Xá-lợi-phất:
“Ngươi không thể biết những điều được nhớ nghĩ[8]
trong tâm của Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh giác trong quá khứ, vị lai, hiện
tại, vì sao ngươi lại suy nghĩ một cách xác quyết như thế? Nhân bởi sự kiện
gì mà ngươi phát sanh ý nghĩ như vậy, với tin tưởng xác quyết, cất tiếng
rống sư tử? Nhưng các Sa-môn, Bà-la-môn khác nghe ngươi nói: ‘Ta biết với
tâm quyết định rằng các Sa-môn, Bà-la-môn trong quá khứ, vị lai và hiện tại,
không ai có trí tuệ, thần túc, công đức, đạo lực sanh bằng Như Lai ’, họ sẽ
không tin lời ngươi.”
Xá-lợi-phất bạch Phất rằng:
“Con tuy không thể biết những điều suy nghĩ trong tâm của Chư Phật quá
khứ, vị lai, hiện tại; nhưng con có thể biết pháp tổng tướng[9]
của Phật. Như Lai thuyết pháp cho con, càng lúc càng cao, càng lúc càng vi
diệu[10]; nói về pháp đen, pháp
trắng, pháp duyên, không duyên; pháp chiếu, không chiếu[11].
Những điều Như Lai dạy, càng cao, càng vi diệu. Con sau khi nghe, biết từng
pháp một[12]; đạt đến chỗ rốt ráo của
pháp,[13] con tin Như Lai là đấng Chí
chân, Đẳng chánh giác; tin pháp của Như Lai được khéo phân biệt; tin Chúng
của Như Lai thành tựu sự diệt khổ. Trong các pháp thiện[14],
đây là tối thượng. Thế Tôn có trí tuệ vô dư, thần thông vô dư[15].
Các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh bằng Như Lai, huống hồ
muốn vượt lên trên.
“Pháp mà Thế Tôn đã dạy, lại có pháp cao hơn nữa; đó là các chế pháp[16].
Các chế pháp đó là, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, bốn thiền, năm
căn, năm lực, bảy giác ý, tám Hiền Thánh đạo. Đó là các chế pháp vô thượng,
trí tuệ vô dư[17], thần thông vô dư.
Các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh bằng Như Lai, huống hồ
muốn vượt lên trên.
“Pháp mà Thế Tôn đã dạy, lại có pháp cao hơn nữa, đó là chế các nhập[18].
Các nhập là mắt và sắc, tai và thanh, mũi và hương, lưỡi và vị, xúc và thân,
ý và pháp. Cũng như Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh giác quá khứ đã chế nhập
này, tức là mắt và sắc,... cho đến, ý và pháp. Giả sử Như Lai, Chí chân.
Đẳng chánh giác vị lai cũng chế nhập ấy, tức là, mắt và sắc,... cho đến, ý
và pháp. Nay Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh giác, cũng chế nhập ấy, tức là,
mắt và sắc,... cho đến, ý và pháp. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt
qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không
ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Thế Tôn đã dạy, lại có pháp trên nữa; đó là thức nhập thai.[19]
Nhập thai là, một, loạn nhập thai[20],
loạn trú và loạn xuất; hai, không loạn nhập, loạn trú, loạn xuất; ba, không
loạn nhập, không loạn trú nhưng loạn xuất; bốn, không loạn nhập, không loạn
trú, không loạn xuất. Kia không loạn nhập, không loạn trú, không loạn xuất,
là sự nhập thai bậc trên. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí
tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể
sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai thuyết, lại có pháp trên nữa, đó là đạo[21].
Nói là đạo, tức là, các Sa-môn, Bà-la-môn bằng đủ các phương tiện nhập định
ý tam-muội[22]; rồi tùy tam-muội tâm[23]
mà tu niệm giác ý, y dục, y viễn ly, y diệt tận, y pháp xuất yếu; tinh tấn,
hỷ, khinh an[24], định, xả giác ý, y
dục, y viễn ly y diệt tận, y pháp xuất yếu[25].
Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô
dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai,
huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai thuyết lại còn có pháp trên nữa; đó là diệt[26].
Diệt, tức là, diệt bằng khổ hành nhưng chậm chứng đắc[27],
cả hai[28] đều thấp kém. Diệt bằng
khổ hành, chóng chứng đắc[29], duy
chỉ khổ hành là thấp kém. Diệt bằng lạc, chậm chứng đắc, duy chỉ sự chậm là
thấp kém. Diệt bằng lạc[30], chóng
chứng đắc[31], nhưng không phổ rộng;
vì không phổ rộng nên nói là thấp kém[32].
Như nay Như Lai diệt bằng lạc, chóng chứng đắc, mà lại phổ rộng, cho đến
trời và người đều thấy biến hóa thần diệu.”
Xá-lợi-phất bạch Phật:
“Những điều Thế Tôn dạy vi diệu bậc nhất, cho đến nữ nhân cũng có thể thọ
trì, dứt sạch lậu, thành vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự thân tác
chứng ngay trong đời này: sanh tử đã tận, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã
làm xong, không còn hậu hữu. Đó là sự diệt vô thượng được Như Lai dạy. Pháp
ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các
Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ
vượt lên trên.
“Pháp Như Lai dạy còn có trên nữa; đó là ngôn thanh tịnh[33].
Ngôn thanh tịnh, tức là, Thế Tôn đối với các Sa-môn, Bà-la-môn không nói lời
hư dối vô ích; nói không cốt để hơn, không vì phe đảng, lời nói nhu hòa,
không sai thời tiết, lời nói không phát suông. Đó gọi là ngôn thanh tịnh.
Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô
dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai,
huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai dạy còn có trên nữa, đó là kiến định[34].
Nói kiến định, là nói rằng, có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện nhập
định ý tam-muội. Tùy tam-muội tâm, quán từ đầu đến chân, từ chân đến đầu,
trong ngoài lớp da, chỉ có những thứ bất tịnh như tóc, lông, móng, gan,
phổi, ruột, dạ dày, lá lách, thận tức là năm tạng, mồ hôi, mỡ, tuỷ, não,
phân, nước tiểu, nước mũi, nước mắt, chỗ hôi thối bất tịnh, không một cái gì
đáng tham. Đó là kiến định thứ nhất.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện, nhập định ý tam-muội, tùy
tam-muội tâm, loại bỏ các thứ bất tịnh bên trong và ngoài da, chỉ quán xương
trắng và răng. Đó là kiến định thứ hai.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện, nhập định ý tam-muội, tuỳ
tam-muội tâm, loại bỏ xương trắng và các thứ bất tịnh trong ngoài da, chỉ
quán tâm thức[35] trú ở chỗ nào, ở
đời này hay đời sau? Đời này không gián đoạn, đời sau không gián đoạn; đời
này không giải thoát, đời sau không giải thoát. Đó là kiến định thứ ba.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện, nhập định ý tam-muội, tùy
tam-muội tâm, loại bỏ các thứ bất tịnh trong ngoài da và xương trắng, lại
trùng quán thức. Thức ở đời sau, không ở đời này; đời nay gián đoạn, đời sau
không đoạn; đời nay giải thoát, đời sau không giải thoát. Đó là kiến định
thứ tư.[36]
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện, nhập định ý tam-muội, tùy
tam-muội tâm, loại bỏ các thứ bất tịnh trong ngoài da và xương trắng, lại
trùng quán thức; không ở đời này, không ở đời sau, cả hai đều gián đoạn, cả
hai đều giải thoát. Đó là kiến định thứ năm. Pháp ấy vô thượng, không gì có
thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong
đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là thường pháp[37].
Thường pháp là, các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện, nhập định ý
tam-muội[38], tùy tam-muội tâm[39],
nhớ lại hai mươi thành kiếp và hoại kiếp[40]
của thế gian, vị ấy nói: ‘Thế gian thường tồn, đây là thật, ngoài ra là dối.
Vì sao? Vì do tôi nhớ lại, cho nên biết có thành kiếp và hoại kiếp ấy. Quá
khứ còn lại thì tôi không biết. Thành kiếp, hoại kiếp vị lai, tôi cũng không
biết.’ Người ấy sáng và chiều do vô trí mà nói rằng: ‘Thế gian thường tồn,
duy chỉ đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là thường pháp thứ nhất.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện, nhập định ý tam-muội, tùy
tam-muội tâm, nhớ lại bốn mươi kiếp thành và kiếp hoại, vị ấy nói: ‘Thế gian
này thường, duy chỉ đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Vì tôi nhớ lại nên
biết có thành kiếp, hoại kiếp. Tôi còn biết hơn thế nữa, biết thành kiếp,
hoại kiếp. Nhưng tôi không biết sự thành và hoại của vị lai.’ Điều đó nói,
biết khởi thuỷ mà không biết chung cuộc. Người ấy sáng mai, chiều tối, do vô
trí mà nói rằng: ‘Thế gian thường tồn, duy chỉ đây là thật, ngoài ra là
dối.’ Đó là thường pháp thứ hai.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ phương tiện, nhập định ý tam-muội, tùy
tam-muội tâm, nhớ lại tám mươi thành kiếp, hoại kiếp, vị ấy nói rằng: ‘Thế
gian này thường, ngoài ra là dối. Vì sao? Tôi nhớ lại mà biết có thành kiếp,
hoại kiếp; lại còn biết thành kiếp, hoại kiếp quá khứù hơn thế nữa. Thành
kiếp, hoại kiếp vị lai tôi cũng biết cả.’ Người ấy sớm chiều do vô trí mà
nói lời này: ‘Thế gian thường còn, chỉ đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đây là
pháp thường tồn thứ ba. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ
vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể
sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Như Lai thuyết còn có trên nữa, đó là quán sát[41].
Quán sát là, có Sa-môn, Bà-la-môn, do tưởng mà quán sát[42],
‘tâm kia thú hướng như thế, tâm này thú hướng như thế.’ Tâm ấy khi phát
tưởng như vậy, hoặc hư hoặc thật.[43]
Đó là quán sát thứ nhất.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, không do tưởng mà quán sát, nhưng hoặc nghe lời
của chư thiên và phi nhân, mà nói với người kia rằng: ‘Tâm ngươi như vậy,
tâm ngươi như vậy.’ Điều này cũng hoặc thật, hoặc hư. Đó là quán sát thứ
hai.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn, không do tưởng mà quán sát, cũng không nghe lời
của chư thiên hay phi nhân, mà tự quán sát thân mình, lại nghe lời người
khác, mà nói với người kia[44] rằng:
‘Tâm của ngươi như vậy, tâm của ngươi như vậy.’ Điều này cũng có thật, cũng
có hư. Đó là quán sát thứ ba.
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, không do tưởng quán sát, cũng không nghe lời
chư thiên và phi nhân nói, lại không tự quán sát, hay quán sát người khác;
nhưng, trừ giác quán rồi, đắc định ý tam-muội, quán sát tâm người khác, mà
nói với người ấy rằng[45]: ‘tâm của
ngươi như vậy, tâm của ngươi như vậy.’ Quán sát như thế là chân thật. Đó là
quán sát thứ tư. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư,
thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang
Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là giáo giới[46].
Giáo giới là, hoặc có trường hợp có người không trái với giáo giới, dứt sạch
hữu lậu thành vô lậu, tâm giải thoát, trí tuệ giải thoát, ngay trong đời này
tự thân tác chứng[47]: sanh tử đã
hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn hậu hữu. Đó là
giáo giới thứ nhất.
“Có người không trái với giáo giới, dứt sạch năm hạ phần kết, sau khi
diệt độ chốn này sẽ không trở lại cõi này nữa. Đó là giáo giới thứ hai.
“Hoặc có người không trái giáo giới, ba kết đã hết, dâm nộ si mỏng, đắc
Tư-đà-hoàn, sẽ trở lại đời này mà diệt độ. Đó là giáo giớithứ ba.
“Hoặc có người không trái giáo giới, ba kết đã hết, đắc Tu-đà-hoàn, tối
đa bảy lần trở lại, ắt sẽ thành đạo quả, không đọa ác thú. Đó là giáo giới
thứ tư. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần
thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như
Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, là thuyết pháp cho người
khác, khiến cho giới thanh tịnh[48].
Giới thanh tịnh là, có Sa-môn, Bà-la-môn, có lời nói chí thành, không hề hai
lưỡi, thường tự kính cẩn, dẹp bỏ ngủ nghỉ, không mang lòng tà siểm, miệng
không nói dối, không dự đoán cát hung cho người, không tự mình xưng thuyết,
đem sở đắc của người này tỏ cho người khác để cầu thêm lợi từ người khác[49],
tọa thiền tu trí, biện tài vô ngại, chuyên niệm không loạn, tinh cần không
biếng nhác. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần
thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như
Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là giải thoát trí[50].
Nói là giải thoát trí, đó là, Thế Tôn do nhân duyên của người khác mà nội
tâm tư duy rằng: Người này là Tu-đà-hoàn; người này là Tư-đà-hoàn; người này
là a na hàm, người này là A-la-hán. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt
qua; trí tuệ vô dư, thần thôngvô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không
ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là tự thức túc mạng trí
chứng[51]. Các Sa-môn, Bà-la-môn,
bằng đủ các phương tiện, nhập định ý tam-muội, tùy tam-muội tâm, tự mình nhớ
lại vô số việc đời từ trước, một đời, hai đời, ... cho đến trăm nghìn thành
kiếp, hoại kiếp, vô số như vậy, ta sanh ở chỗ kia, có tên như vậy, chủng tộc
như vậy, họ như vậy, thọ mạng như vậy, ẩm thực như vậy, khổ lạc như vậy; từ
chỗ này sanh nơi kia; từ nơi kia sanh đến chỗ này, với nhiều tướng dạng khác
nhau, tự nhớ vô số kiếp sự đời xưa, ngày đêm thường nghĩ nhớ những nơi đã
trải qua. Đây là sắc. Đây là vô sắc. Đây là tưởng. Đây là vô tưởng. Đây là
phi vô tưởng, thảy đều nhớ biết hết. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt
qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không
ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên.
“Pháp Như Lai thuyết còn có pháp trên nữa, đó là thiên nhãn trí[52].
Thiên nhãn trí là, các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ các phương tiện, nhập định
ý tam-muội, từ tam-muội tâm, quán chúng sanh, hoặc sống, hoặc chết, có sắc
tốt, sắc xấu, định mệnh lành, định mệnh dữ[53],
hoặc đẹp, hoặc xấu, tùy theo chỗ làm, thảy đều thấy hết, biết hết. Hoặc có
chúng sanh thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng Hiền
Thánh, tin theo tà kiến điên đảo, khi thân hoại mạng chung đọa ba đường dữ.
Hoặc có chúng sanh có thân hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện, không
báng bổ Hiền Thánh, chánh kiến, tín hành, khi thân hoại mạng chung sanh lên
trời người. Bằng thiên nhãn thanh tịnh, quán chúng sanh, thấy biết như thật.
Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô
dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai,
huống hồ vượt lên trên.
“Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là thần túc chứng[54].
Thần túc chứng là, các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng đủ các phương tiện, nhập định
ý tam-muội, tùy tam-muội tâm, thực hiện vô số thần lực; có thể biến một thân
thành vô số thân; từ vô số thân hiệp làm một thân; vách đá không trở ngại;
ngồi kiết già giữa hư không; cũng như chim bay; vào ra lòng đất như ở trong
nước; đi trên nước như đi trên đất; thân mình bốc khói, bốc lửa, như đống
lửa cháy rực; lấy tay sờ mặt trời, mặt trăng; đứng cao đến trời Phạm thiên.
Nếu Sa-môn, Bà-la-môn gọi đó là thần túc, thì nên bảo họ rằng: có thần túc
như vậy, không phải không có. Nhưng loại thần túc ấy thấp kém, hèn hạ, là
việc làm của phàm phu, không phải điều mà Hiền Thánh tu tập. Nếu Tỳ-kheo đối
với sắc thế gian yêu thích mà không nhiễm[55],
sau khi xả ly sắc ấy, làm việc đáng làm, ấy mới gọi là thần túc của Hiền
Thánh. Đối với sắc không đáng ưa cũng không ghét, sau khi xả ly sắc ấy, làm
việc nên làm, ấy mới gọi là thần túc của Hiền Thánh. Đối với sắc mà thế gian
yêu, sắc mà thế gian không yêu, lìa bỏ cả hai, tu bình đẳng xả[56],
chuyên niệm không quên[57], ấy mới
gọi là thần túc của Hiền Thánh[58].
“Cũng như đức Thế Tôn tinh tấn dũng mãnh, có đại trí tuệ, có tri có giác,
đắc đệ nhất giác, cho nên gọi là Đẳng giác. Thế Tôn nay cũng không hoan lạc
nơi dục[59]; không hoan lạc nơi điều
tu tập của phàm phu thấp kém[60],
cũng không nhọc nhằn siêng năng để chịu các thứ khổ não. Thế Tôn nếu muốn
loại trừ pháp xấu ác, có giác có quán, có hỷ lạc do định sanh, chứng nhập sơ
thiền, thì như thế Ngài liền có thể loại trừ pháp xấu ác, có giác có quán,
có hỷ lạc do định sanh, chứng nhập sơ thiền. Nhị thiền, tam thiền, tứ thiền,
cũng vậy. Ngài tinh tấn, dũng mãnh, có đại trí tuệ, có tri, có giác, đắc đệ
nhất giác, nên gọi là Đẳng giác.”
Phật bảo Xá-lợi-phất:
“Nếu có dị học ngoại đạo đến hỏi ngươi rằng’[61]:
‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn quá khứ có ai sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’
ngươi sẽ trả lời như thế nào? Người ấy lại hỏi: ‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn
vị lai có ai sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’ ngươi sẽ trả lời như thế nào?
Kia lại hỏi: ‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn hiện tại có ai sánh bằng Sa-môn
Cù-đàm chăng?’ ngươi sẽ trả lời như thế nào?’”
Xá-lợi-phất liền trả lời:
“Giả sử được hỏi rằng: ‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn quá khứ có ai sánh
bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’ con sẽ trả lời rằng: ‘Có.’ Giả sử được hỏi:
‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn vị lai có ai sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’
con sẽ trả lời rằng: ‘Có.’ Giả sư được hỏi: ‘Trong các Sa-môn, Bà-la-môn
hiện tại có ai sánh bằng Sa-môn Cù-đàm chăng?’ con sẽ trả lời rằng:
‘Không.’”
Phật bảo Xá-lợi-phất:
“Dị học ngoại đạo kia lại hỏi: ‘Vì sao nói là có? Và vì sao nói là
không?’ ngươi sẽ trả lời như thế nào?”
Xá-lợi-phất đáp:
“Con sẽ trả lời người ấy rằng: ‘Các bậc Tam-da-tam-phật quá khứ cùng sánh
bằng Như Lai. Các Tam-da-tam-phật vị lai cùng sánh bằng Như Lai. Nhưng con
tự thân nghe từ Phật, rằng không có trường hợp có thể nói có vị
Tam-da-tam-phật hiện tại nào khác cùng sánh với Như Lai.’ Bạch Thế Tôn, con
theo chỗ được nghe, y pháp, thuận pháp, mà trả lời như vậy, có phải là trả
lời đúng chăng?”
Phật nói:
“Trả lời như vậy là y pháp, thuận pháp, không trái. Sở dĩ như vậy là vì,
có các đức Tam-da-tam-phật quá khứ sánh bằng Ta. Có những vị Tam-da-tam-phật
vị lai sánh bằng Ta. Nhưng không có trường hợp để nói rằng có hai Đức Phật
cùng xuất hiện thế gian cùng một lần.”
Lúc bấy giờ tôn giả Uất-đà-di đứng sau Phật, đang cầm quạt quạt Phật.
Phật nói với Uất-đà-di:
“Uất-đà-di, ngươi hãy quán sát sự ít dục, biết đủ của Thế Tôn. Nay Ta có
thần lực lớn, có uy đức lớn, mà ít dục, biết đủ, không hoan lạc trong các
dục[62]. Uất-đà-di, nếu các Sa-môn,
Bà-la-môn khác ở trong pháp này mà có thể tinh cần khó nhọc, chứng đắc một
pháp, vị ấy sẽ dựng phướn mà bố cáo bốn phương xa rằng: ‘Nay Như Lai[63]
này ít dục, biết đủ. Nay hãy quán sát sự ít dục, biết đủ của Như Lai. Như
Lai có thần lực lớn, có uy đức lớn, không cần đến các dục.’”
Rồi thì, tôn giả Uất-đà-di sửa y phục ngay ngắn, trịch áo bày vai hữu,
qùy gối phải xuống đất, chắp tay bạch Phật rằng:
“Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, ít dục, biết đủ như Thế Tôn. Thế Tôn có thần
lực lớn, có uy đức lớn, không cần đến các dục. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn
khác, ở trong pháp này mà tinh cần khó nhọc chứng đắc một pháp, vị ấy sẽ
dựng phướn tuyên cáo bốn phương xa rằng: ‘Thế Tôn[64]
hiện nay là bậc ít dục, biết đủ.’ Xá-lợi-phất, ngài hãy thuyết pháp này cho
các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Những người ấy nếu có điều
nghi ngờ đối với Phật, Pháp, Tăng, thì sau khi nghe pháp này sẽ không còn ở
trong lưới nghi nữa.”
Bấy giờ Thế Tôn nói với Xá-lợi-phất:
“Ngươi hãy nhiều lần giảng thuyết pháp này cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni,
ưu bà tắc, ưu bà di. Vì sao? Vì những người ấy nếu có nghi ngờ đối với Phật,
Pháp, Tăng, đối với Đạo, thì sau khi nghe ngươi giảng thuyết sẽ được thông
tỏ.”
Xá-lợi-phất đáp:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn.”
Rồi thì, Xá-lợi-phất nhiều lần giảng thuyết pháp này cho các Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, vì để khiến họ được tự mình thanh tịnh, do
đó được gọi là “Thanh tịnh kinh”.
Lúc bấy giờ, Xá-lợi-phất nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Bản Hán: Phật thuyết
Trường A-hàm, “Đệ nhị phần Tự hoan hỉ kinh đệ thập tứ.” Tương đương
Pāli; D. 28, Deva Dig iii. 5, Sampadānīya-suttanta. Tham chiếu, Phật
thuyết tín Phật công đức kinh, Đại I, tr. 225; tham chiếu, Tống Pháp
Hiền dịch; Tạp A-hàm quyển 18
[2] Na-nan-đà 那 難 陀, cũng âm là
Na-lan-đà 那 闌 陀; Pāli: Naḷandā, ở Ma kiệt đà (Magadha), phía Đông Bồ đề
đạo tràng. Xem Tây vực ký, Q. 9 (Đại LI, tr. 919).
[3] Ba-ba-lị-am-bà lâm 波 波 利 菴
婆 林, Pāli: Pāvārikambavana; khu vườn xoài trong chùa Nalanda.
[4] Hán: tâm quyết định 心 決 定,
có lẽ tương đương Pāli: pasanno, tin tưởng sáng suốt.
[5] Pāli: na... Bhagavatā biyyo
‘bhiññnatari yadidam sambodhiyan ti: không ai có thắng trí hơn Thế Tôn,
tức giác ngộ.
[6] Hán: nhất hướng thọ trì 一
向 受 持; Pāli: ekaṃso gahito, nắm vững (vấn đề) một cách xác quyết.
[7] Pāli: evaṃ sīlā...
evaṃ-dhammā... evaṃ-paññā... evaṃ-vihārī... evaṃ-vimuttā... Bản Hán:
giải thoát đường, có thể tương đương Pāli: vimutta-vihārī; an trú trong
giải thoát. Pāli: vihāra, có nghĩa trú xứ, tinh xá, tự viện, tăng phòng;
sự an trú; vihārī: người an trú; Hán thường dịch tinh xá, trú hay đường,
thí dụ, Brahmavihāra, dịch là Phạm trú, cũng dịch là Phạm đường.
[8] Hán: tâm trung sở niệm 心 中
所 念; Pāli: ceto-pariya-ñāṇa, tâm sai biệt trí, nhận thức về các trạng
thái sai biệt của tâm tư.
[9] Tổng tướng pháp總 相 法. Pāli:
dhamm’anvaya, pháp loại cú, pháp thứ đệ, sự diễn dịch, loại suy theo
pháp; chỉ giáo nghĩa tổng quát hay tinh yếu của giáo nghĩa.
[10] Hán: chuyểân cao chuyển
diệu 轉 高 轉 妙, nghĩa là pháp nói sau càng cao siêu vi diệu hơn pháp
trước; pháp được giảng theo thứ tự từ thấp lên cao. Pāli: uttaruttariṃ
paṇītapaṇītaṃ.
[11] Pāli:
kaṇha-sukka-sappaṭibhāga, có sự đối chiếu giữa pháp đen và pháp trắng.
[12] Hán: nhất nhất pháp一 一
法, pháp cá biệt, đối với pháp tông tướng nói trên.
[13] Hán: ư pháp cứu cánh 於 法
究 竟. Pāli: idh’ ekaccaṃ dhammaṃ dhammesu niṭṭham agamaṃ, đạt đến chỗ rốt
ráo từng pháp một trong các pháp này.
[14] Thiện pháp, chỉ giáo
pháp được thiết lập hoàn hảo. Pāli: etad ānuttariyam bhantekusalesu
dhammesu.
[15] Trí tuệ vô dư 智 慧 無 餘,
Pāli: asesam abhijānāti, (Ngài) hiểu biết một cách toàn diện, không còn
sót điều gì. Bản Pāli không có “thần thông vô dư.” Pāli: abhiññā, dịch
thần thông hay thắng tri, cùng gốc với động từ abhijānāti.
[16] Chế pháp 制 法, pháp được
chế định, thiết định; tức thiện pháp nói trên. Có lẽ Pāli:
paññatti-dhamma. Xem cht. 14.
[17] Văn dịch thiếu chủ từ.
Nên hiểu: các pháp ấy đã được Thế Tôn hiểu biết một cách toàn diện. Xem
cht. 15
[18] Chế chư nhập 制 諸 入;
Pāli: āyatana-paññatti, sự chế định, thiết lập về (sáu) xú.
[19] Nhập thai, hay thác
thai, tức vào thai mẹ; Pāli: gabbhāvakkanti.
[20] Hán: loạn nhập thai亂 入
胎, Pāli: asampajāno.. mātu kucchim okkamati, vào thai mẹ mà không biết.
[21] Đạo, đây chỉ Bồ đề, tức
gồm bảy giác chi.
[22] Định ý tam muội定 意 三 昧,
coù leõ Pāli: ceto-samādhi, sư tập trung tư tưởng.
[23] Tam muội tâm三 昧 心, Pāli:
samādhicitta, định tâm.
[24] Trong bản Hán: ỷ猗. Đây
theo thuật ngữ quen dùng, sửa lại là khinh an輕 安.
[25] Trong đoạn này chỉ kể 6
giác chi, không có trạch pháp. Pāli: satta bhojjaṅgā.
[26] Hán: diệt 滅. Đây đề cập
bốn hành, tức quá trình tu tập bao gồm hai khía cạnh khổ và lạc, chậm và
nhanh: khổ trì thông hành, khổ tốc thông hành, lạc trì thông hành, lạc
tốc thông hành. Xem Tập dị môn túc luận q. 7 (Đại XXVI tr. 393b). Pāli:
paṭipada.
[27] Khổ diệt trì đắc 苦 滅 遲
得, tức khổ tr thông hành 苦 遲 通 行, thực hành kho mà chứng đắc lại chậm.
Pāli: dukkhā paṭipadādandhābhiññā.
[28] Cả hai, chỉ thực hành và
chứng đắc.
[29] Khổ diệt tốc đắc 苦 滅 速
得, tức khổ tốc thông hành 苦 速 通 行. Pāli: dukkhā paṭipadākhippābhññnā.
[30] Lạc diệt trì đắc 樂 滅 遲
得, tức lạc trì thông hành 樂 遲 通 行. Pāli: sukhā paṭipadā dandhābhññnā.
[31] Lạc diệt tốc đắc 樂 滅 速
得, tức lạc tốc thông hành 樂 速 通 行. Pāli: sukhā paṭipadā khīppābhiññnā.
[32] Pāli nói khác: ayaṃ...
paṭipadāubhayen’ eva paṇitā akkhāyati sukhattā ca khippattā ca, cả hai
thông hành nay đều vi diệu, tức là lạc và nhanh.
[33] Pāli: bhassa-samācara,
ngôn thuyết chánh hành hay sự chân chánh của ngôn ngữ.
[34] Kiến định 見 定, trạng
thái tập trung đạt được do thấy, tức do quán sát. Pāli:
dassana-samāpatti.
[35] Hán: tâm thức 心 識; Pāli;
viññnā-sota, thức lưu, dòng chảy của thức.
[36] Pāli không nói đến kiến
định này.
[37] Thường pháp 常 法; Pāli:
sassata-vāda, thường luận hay thường trú luận, chủ trương thế giới
thường tồn, vĩnh hằng.
[38] Pāli: ceto-samādhim
phusati, vị ấy đạt đến trạng thái tập trung của tâm.
[39] Pāli: yathā samāhite
citte, trong khi tâm được tập trung như vậy.
[40] Hán: thành kiếp bại kiếp
成 劫 敗 劫. Pāli: saṃvatti vā loko vivaṭṭi vā, thế giới chuyển thành hay
thế giới chuyển hoại.
[41] Pāli: ādesana-vidhā, ký
tâm sai biệt, các trường hợp khác nhau về sự đọc được ý nghĩ của người
khác.
[42] Hán: dĩ tưởng quán sát 以
想 觀 察. Pāli: nimmittena ādesati, nói ý nghĩ của người khác bằng cách dựa
vào các hình tướng.
[43] Pāli: so bahuṃ ce pi
ādasati, tath’eva taṃ hoti, no aññathā, vị ấy quán sát nhiều lần như
vậy, biết xác thật là như thế, không sai lầm.
[44] Pāli: vitakkayato
vicārayato vitakka-vipphāra-saddaṃ sutvā ādati, y nơi tầm, y nơi tứ, vị
ấy sau khi nghe âm thanh khuếch đại của tầm (suy nghiệm), bèn dự đoán
rằng... (Đây chỉ trường hợp người đã chứng sơ thiền).
[45] Pāli: avitakkaṃ avicāraṃ
samādhiṃ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti, vị ấy, do thành tựu
chánh định không tầm không tứ, bằng vào tâm của mình mà biết rằng... Chỉ
trường hợp một vị đã chứng nhị thiền hay cao hơn.
[46] Pāli: anusāsana.
[47] Tự thân tác chứng自 身 作
證 Pāli: sayaṃ abhiññā sacchikatvā, bằng nhận thức siêu việt, tự mình
thể nghiệm.
[48] Pāli: Bhagavā dhammaṃ
deseti purisa-sīla-samācāre, Thế Tôn thuyết pháp liên quan đến chánh
hạnh về giới của con người.
[49] Hán: bất tự xưng thuyết,
tùng tha sở đắc dĩ thị ư nhân, cánh cầu tha lợi 不 自 稱 說 從 他 所 得 以 示 於 人
更 求 他 利. Tham chiếu Pāli: na ca nippe-siko na ca lābhena lābhaṃ
nijiṃsitā, không phải là kẻ lường gạt (người tung hứng), tham lam lấy
lợi cầu lợi.
[50] Pāli:
para-puggala-vimutti-ñāṇa, nhận thức về sự giải thoát của người khác; ấn
chứng sự giải thoát cho người khác.
[51] Pāli:
pubbenivāsānussati-ñāṇa, túc trú tùy niệm trí 宿 住 隨 念 智, nhận thức nhớ
lại các tiền kiếp.
[52] Pāli: sattānamṃ
cutūpapāta-ñāṇa, hữu tình sanh tử trí 有 情 生 死 智, nhận thức về sự sống và
sự chết của chúng sanh.
[53] Hán: thiện thú ác thú 善
趣 惡 趣. Pāli: sugata, duggata.
[54] Pāli: iddhi-vidhā.
[55] Pāli: appaṭikkūe
paṭikkūla-saññīvihareyyan, tôi có thể an trú với ý tưởng kinh tởm đối
với cái kinh tởm. Hán: ái sắc 愛 色, Pāli: appaṭikkūla; bất ái sắc 不 愛 色,
Pāli: paṭikkūla; chỉ tính chất đáng nhàm tởm và không đáng nhàm tởm nơi
vật chất.
[56] Nguyên Hán dịch: tu bình
đẳng hộ 修 平 等 護; Pāli: upekkhako tattha viharati, ở đây vị ấy an trú xả.
Từ Pāli: upekkha, Skt. upekṣa, thay vì dịch là xả 捨, đây dịch là hộ 護.
Nay sửa theo dịch ngữ thông dụng nhất là xả. Xem cht. 124 tr 107, kinh
số 2 “Du hành (iii).”
[57] Hán: chuyên niệm bất
vong 專 念 不 忘, Pāli: sato sampajano, chánh niệm, chánh tri (tỉnh giác).
[58] Pāli: ayam... iddhi
anāsavā anupadhikā ariyā vuccati, thần thông vô lậu, vô y này được gọi
là Thánh.
[59] Hán: bất lạc ư dục 不 樂 於
欲; Pāli: na ca... kāmesu kāmasukhallikānuyoga-yutto, không đam mê hưởng
thụ nơi các dục lạc.
[60] Pāli: na ca
atta-kilamatthānuyogam anuyutto, cũng không mê say tu tập khổ hạnh.
[61] Trước đoạn này, Pāli còn
có một đoạn: “trong quá khứ,... vị lai,... hiện tại,... có ai hơn...” và
được Xá-lợi-phất trả lời “không” cho cả ba trường hợp.
[62] Hán: bất lạc tại dục 不 樂
在 欲; Pāli: atha ca pana na attānaṃ pātukarissati, nhưng Ngài không làm
hiển lộ tự kỷ. Nghĩa là, không tự khoe khoang.
[63] Chỉ ngoại đạo tự xưng;
không phải Phật tự nói.
[64] Xem cht. 63.