長 阿 含 經
KINH TRƯỜNG A HÀM
Hán Dịch. Phật Ðà Da Xá
& Trúc Phật Niệm
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ
|
PHẦN III
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật du hành nước Câu-tát-la[2],
cùng chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người[3],
rồi đến Y-xa-năng-già-la[4], thôn của
một người Bà-la-môn ở Câu-tát-la. Ngài nghỉ đêm tại rừng Y-xa[5].
Lúc ấy, có một người Bà-la-môn tên Phất-già-la-sa-la[6],
đang dừng chân ở thôn Úc-già-la[7].
Thôn ấy sung túc, nhân dân đông đúc, là một thôn được vua Ba-tư-nặc[8]
phong cho Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la làm phạm phần[9].
Người Bà-la-môn này, từ bảy đời nay cha mẹ đều chơn chánh, không bị người
khác khinh thường[10]; đọc tụng thông
suốt ba bộ cựu điển[11], có thể phân
tích các loại kinh thư, lại giỏi phép xem tướng đại nhơn, nghi lễ tế tự; có
năm trăm đệ tử, dạy dỗ không bỏ phế. Ông có một đệ tử Ma-nạp[12]
tên là A-ma-trú[13], từ bảy đời nay
cha mẹ đều chơn chánh, không bị người khác khinh thường, đọc tụng thông suốt
ba bộ cựu điển, có thể phân tích các loại kinh thư, và cũng giỏi phép xem
tướng đại nhơn, nghi lễ tế tự, và cũng có năm trăm đệ tử Ma-nạp, dạy dỗ
không bỏ phế, không khác với thầy mình.
Lúc ấy, Bà-la-môn Phất-già-la-sa-langhe đồn Sa-môn Cù-đàm Thích tử[14],
xuất gia, thành đạo, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi
người, đến Y-xa-năng-già-la, thôn của Bà-la-môn, đang nghỉ trong rừng Y-xa;
có tiếng tăm lớn lưu truyền trong thiên hạ, là Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh
giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa chư Thiên, người đời, Ma, hoặc Ma thiên,
Sa-môn, Bà-la-môn, đã tự mình chứng nghiệm[15],
rồi thuyết pháp cho người khác, khéo léo khoảng đầu, khoảng giữa, khoảng
cuối, có đủ nghĩa và vị[16], phạm
hạnh thanh tịnh. Với bậc chơn nhơn như vậy[17],
ta nên đến thăm viếng. Ta nay nên đến xem Sa-môn Cù-đàm để xác định có ba
mươi hai tướng, tiếng tăm đồn khắp, có đúng sự thật chăng? Nên bằng duyên cớ
nào để có thể thấy tướng của Phật? Rồi lại nghĩ: Nay đệ tử ta A-ma-trú, từ
bảy đời trở lại cha mẹ đều chơn chánh, không bị người khác khinh thường, đọc
tụng thông suốt ba bộ cựu điển, có thể phân tích các loại kinh thư, lại giỏi
phép xem tướng đại nhơn, nghi lễ tế tự; duy chỉ người này có thể sai đi xem
Phật, để biết có các tướng ấy không.
Rồi Bà-la-môn liền sai đệ tử A-ma-trú, bảo rằng:
“Ngươi hãy đến xem Sa-môn Cù-đàm kia có thật có ba mươi hai tướng hay
không, hay là dối?”
A-ma-trú liền thưa thầy ngay rằng:
“Con làm thế nào để nghiệm xét tướng của Cù-đàm, để biết thật hay dối?”
Người thầy trả lời:
“Nay ta bảo cho ngươi biết, nếu thật có ba mươi hai tướng đại nhân, chắc
chắn có hai đường, không nghi ngờ gì nữa. Nếu tại gia, sẽ làm Chuyển luân
Thánh vương, cai trị bốn thiên hạ, bằng pháp trị, giáo hóa, thống lãnh nhân
dân, đầy đủ bảy báu: 1. báu bánh xe vàng, 2. báu voi trắng, 3. báu ngựa
xanh, 4. báu thần châu, 5. báu ngọc nữ, 6. báu cư sĩ, 7. báu điển binh. Vua
có một nghìn người con, dũng mãnh, đa trí, hàng phục kẻ thù, không cần dùng
vũ khí mà thiên hạ thái bình, nhân dân trong nước không có điều kinh sợ. Còn
nếu không ham thích thế gian, vị ấy xuất gia cầu đạo, sẽ thành Như Lai, Chí
nhân, Đẳng chánh giác đầy đủ mười hiệu. Theo đó mà có thể biết thực hư của
Cù-đàm.”
A-ma-trú vâng lời thầy sai bảo, bèn thắng cỗ xe báu, dẫn theo năm trăm đệ
tử Ma-nạp, vào lúc sáng sớm, ra khỏi thôn, đi đến rừng Y-xa. Đến nơi, xuống
xe, đi bộ đến chỗ Thế Tôn. Trong lúc cùng đàm luận nghĩa lý, nếu Thế Tôn
đang ngồi thì Ma-nạp này đứng; nếu Thế Tôn đứng thì Ma-nạp này ngồi. Phật
nói với Ma-nạp rằng:
“Phải chăng ngươi đã từng đàm luận với các Bà-la-môn trưởng thượng, kỳ
cựu như thế?”
Ma-nạp bạch Phật:
“Nói như vậy nghĩa là sao?”
Phật bảo Ma-nạp:
“Trong lúc cùng đàm luận, Ta ngồi thì ngươi đứng; Ta đứng thì ngươi ngồi.
Phép đàm luận của thầy ngươi phải là như vậy chăng?”
Ma-nạp bạch Phật:
“Theo phép Bà-la-môn của tôi, ngồi thì cùng ngồi, đứng thì cùng đứng, nằm
thì cùng nằm. Nay với hạng Sa-môn hủy hình, góa vợ, hèn hạ, thấp kém, tập
theo pháp đen tối,[18], thì khi tôi
cùng bọn người ấy luận nghĩa, không theo phép ngồi đứng.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói với Ma-nạp ấy rằng:
“Khanh, Ma-nạp, chưa được dạy kỹ[19].”
Khi Ma-nạp nghe Thế Tôn gọi mình là khanh, lại nghe bị chê là chưa được
dạy kỹ, tức thì nổi giận, kích bác Phật rằng:
“Con nhà họ Thích[20] này hay có
lòng độc ác, không có phép tắc.”
Phật bảo Ma-nạp:
“Những người họ Thích có lỗi gì với khanh?”
Ma-nạp nói:
“Xưa, một lần, tôi có chút duyên sự của thầy tôi với họ Thích ở nước
Ca-duy-việt[21]. Khi ấy có nhiều
người họ Thích có chút nhân duyên nên tập họp tại giảng đường. Thấy tôi từ
xa đến, họ khinh mạn, đùa cợt, không thuận nghi pháp, không biết kính trọng
nhau.”
Phật bảo Ma-nạp:
“Các người họ Thích kia khi ở trong nước mình có thể vui đùa thỏa thích.
Cũng như chim bay, đối với khu rừng có tổ của nó, ra vào tự tại. Cũng vậy,
các người họ Thích khi ở trong nước mình có thể vui đùa tự tại.”
Ma-nạp bạch Phật:
“Đời có bốn chủng tánh[22]:
Sát-lỵ, Bà-la-môn, cư sĩ, thủ-đà-la. Ba chủng tánh kia thường tôn trọng,
cung kính, cúng dường Bà-la-môn. Những người họ Thích kia không nên như vậy.
Họ Thích tôi tơ[23] kia, hèn mọn,
thấp kém, mà không cung kính Bà-la-môn như ta.”
Bấy giờ, Thế Tôn nghĩ thầm rằng: “Gã Ma-nạp này nhiều lần mắng nhiếc, và
nói đến từ tôi tớ. Vậy Ta có nên nói duyên do của nó để nó khuất phục
chăng?” Rồi Phật bảo Ma-nạp:
“Chủng tánh[24] ngươi là gì?”
Ma-nạp trả lời:
“Tôi chủng tánh Thanh vương[25].”
Phật bảo Ma-nạp:
“Chủng tánh ngươi như thế là thuộc dòng dõi tôi tớ[26]
của dòng họ Thích.”
Lúc ấy, năm trăm đệ tử Ma-nạp kia thảy đều lớn tiếng nói với Phật rằng:
“Chớ nói như vậy. Chớ nói Ma-nạp này thuộc dòng dõi tôi tớ của dòng họ
Thích. Vì sao? Đại Ma-nạp này thật sự là con nhà tông tộc, nhan mạo đoan
chánh, tài biện luận đúng lúc, nghe nhiều, học rộng, đủ để cùng đàm luận
trao đổi với Cù-đàm.”
Thế Tôn nói với năm trăm Ma-nạp:
“Nếu thầy của các ngươi không đúng như lời các ngươi nói, Ta sẽ bỏ qua
thầy ngươi mà luận nghĩa với các ngươi. Nếu thầy ngươi có đúng như lời các
ngươi nói, các ngươi nên im lặng để Ta luận với thầy các ngươi.”
Năm trăm Ma-nạp bấy giờ bạch Phật rằng:
“Chúng tôi tất cả sẽ im lặng. Xin Ngài luận với thầy của tôi.”
Bấy giờ Thế Tôn nói với A-ma-trú:
“Trong thời quá khứ lâu dài xa xưa, có vị vua tên Thanh Ma[27].
Vua có bốn người con trai, Thứ nhất tên Diện Quang. Thứ hai tên Tượng Thực.
Thứ ba tên Lộ Chỉ. Thứ tư tên Trang Nghiêm[28].
Bốn người con của vua có chút vi phạm bị vua đuổi khỏi nước[29],
đến phía nam Tuyết sơn, sống trong rừng cây thẳng[30].
Mẹ của bốn người con cùng với các gia thuộc đều nghĩ nhớ họ, cùng nhau nhóm
họp bàn, rồi đi đến chỗ Thanh Ma vương, tâu rằng:
“Đại vương, nên biết, bốn người của chúng ta xa cách đã lâu, nay tôi muốn
đi thăm.”
Vua nói:
“Muốn đi thì tùy ý.”
“Người mẹ và các quyến thuộc nghe vua dạy, liền đi đến phía Nam Tuyết
sơn, trong rừng cây thẳng, đến chỗ bốn người con. Các bà mẹ nói:
“Con gái của ta gả cho con trai ngươi. Con trai ngươi gả cho con gái ta.[31].
“Rồi họ phối nhau thành vợ chồng. Sau sinh con trai[32],
dung mạo đoan chánh.
“Lúc ấy, vua Thanh Ma nghe bốn người con mình được các bà mẹ gã cho các
con gái làm vợ, sanh con trai đoan chánh. Vua rất vui mừng, thốt lên lời
này: ‘Đúng là con nhà họ Thích. Đúng là con trai họ Thích.’[33]
Vì có thể tự lập, nhân đó đặt tên là Thích. Thanh Ma vương chính là tiên tổ
họ Thích vậy. Vương có một người áo xanh[34],
tên gọi Phương Diện, nhan mạo đoan chánh, cùng thông giao với một người
Bà-la-môn bèn có thai, sanh một Ma-nạp[35],
vừa rớt xuống đất là biết nói. Nó nói với cha mẹ rằng: ‘Hãy tắm cho con, trừ
sạch dơ bẩn. Sau này lớn lên, con sẽ báo ơn.’ Vì mới sanh đã biết nói nên
đặt tên Thanh vương. Như nay kẻ mới sanh mà biết nói thì ai cũng sợ, đặt tên
là Đáng Sợ[36]. Kia cũng vậy. Vừa
sanh đã biết nói nên được đặt tên là Thanh vương. Từ đó đến nay, Bà-la-môn
lấy Thanh vương làm họ.”
Lại bảo Ma-nạp:
“Ngươi có bao giờ nghe các Bà-la-môn kỳ cựu, trưởng thượng, nói về nguồn
gốc chủng tánh này chưa?”
Lúc ấy Ma-nạp im lặng không trả lời. Hỏi lần nữa. Lại cũng không trả lời,
Phật hỏi đến ba lần, bảo Ma-nạp rằng:
“Ta hỏi đến ba lần. Ngươi hãy nhanh chóng trả lời. Nếu ngươi không trả
lời, Mật Tích lực sĩ[37], tay cầm
chày vàng đứng hai bên Ta sẽ đánh cho đầu ngươi vỡ thành bảy mảnh.”
Lúc ấy Mật Tích lực sĩ tay cầm chày vàng, đang đứng giữa hư không, ngay
trên đầu Ma-nạp. Nếu Ma-nạp không trả lời câu hỏi đúng lúc, sẽ hạ chày vàng
đánh vỡ đầu Ma-nạp. Phật bảo Ma- nạp:
“Ngươi hãy ngước nhìn xem.”
Ma-nạp ngước nhìn, thấy Mật Tích lực sĩ tay cầm chày vàng đứng giữa hư
không. Thấy vậy, rất đỗi kinh hãi, toàn thân lông dựng đứng, liền rời chỗ
ngồi, đến gần Thế Tôn, nương nơi Thế Tôn để được cứu hộ. Ma-nạp bạch Phật:
“Thế Tôn hãy hỏi. Con sẽ trả lời.”
Phật hỏi Ma-nạp:
“Ngươi có bao giờ nghe các Bà-la-môn kỳ cựu, trưởng thượng, nói về nguồn
gốc chủng tánh này chưa?”
Ma-nạpđáp:
“Tôi tin là đã từng nghe. Thật có sự kiện ấy.”
Khi ấy năm trăm Ma-nạp thảy cùng cất tiếng bảo nhau rằng:
“A-ma-trú này thật sự thuộc dòng họ tôi tớ của Thích-ca. Sa-môn Cù-đàm
nói sự thật, chúng ta vô cớ ôm lòng khinh mạn.”
Bấy giờ Thế Tôn nghĩ thầm: “Năm trăm Ma-nạp này về sau tất có lòng khinh
mạn, gọi Ma-nạp này là đày tớ. Nay hãy phương tiện diệt cái tên đày tớ ấy.”
Ngài liền nói với năm trăm Ma-nạp:
“Các ngươi cẩn thận, chớ gọi người này là đày tớ. Vì sao? Tiên tổ
Bà-la-môn của người này là một đại tiên nhân[38],
có oai lực lớn, chinh phạt Thanh Ma vương, đòi lấy con gái. Vì sợ, vua bèn
gã con gái cho.”
Do lời này của Phật, Ma-nạp tránh được tên đày tớ.
Rồi Thế Tôn bảo A-ma-trú:
“Thế nào, Ma-nạp? Nếu con gái Sát-lỵ có bảy đời cha mẹ chơn chánh không
bị khinh khi, nhưng được gã cho một người Bà-la-môn làm vợ, sanh một người
con trai, là Ma-nạp, dung mạo đoan chánh. Người con trai này khi vào giữa
những người Sát-lỵ có đuợc mời ngồi, nhận nước, tụng đọc pháp sát-lị
không?””
Đáp: “Không được”.
“Có được sự nghiệp tài sản của cha không?”
Đáp: “Không được”.
“Có được kế thừa chức của cha không?””
Đáp: “Không được”.
“Thế nào, Ma-nạp? Nếu con gái Bà-la-môn, có cha mẹ bảy đời chơn chánh
không bị người khinh khi, được gã cho người Sát-lỵ làm vợ, sanh một người
con, dung mạo đoan chánh. Người này khi vào giữa chúng Bà-la-môn, có được
mời ngồi, được nhận nước không?”
Đáp: “Được”.
“Được tụng đọc pháp Bà-la-môn, được hưởng gia tài của cha, thừa kế chức
vụ của cha không?”
Đáp: “Được”.
“Thế nào, Ma-nạp? Nếu người Bà-la-môn bị Bà-la-môn tẩn xuất, chạy vào
chủng tánh Sát-lỵ, có được chỗ ngồi, được nước, được tụng đọc pháp Sát-lợi
không?”
Đáp: “Không được”.
“Được hưởng di sản của cha, kế thừa chức vụ của cha không?”
Đáp: “Không”.
“Nếu chủng tánh Sát-lỵ bị Sát-lợi tẩn xuất sang Bà-la-môn, có được chỗ
ngồi, được mời nước, tụng đọc pháp Bà-la-môn chăng?”
Đáp: “Được”.
“Vậy thì, này Ma-nạp, giữa người nữ, nữ Sát-lỵ trỗi hơn. Giữa người nam,
nam Sát-lợi trỗi hơn. Không phải là Bà-la-môn vậy.”
Phạm thiên [39] tự mình nói bài kệ
rằng:
Sanh[40],
Sát lỵ tối thắng,
Chủng tánh cũng thuần chơn.
Minh, Hạnh thảy đầy đủ,
Tối thắng giữa trời người.[41]
Phật bảo Ma-nạp:
“Phạm thiên nói bài kệ này, thật là nói khéo chớ không phải không khéo.
Ta công nhận như vậy, là vì sao? Nay, như Ta, Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh
giác, cũng nói nghĩa đó:
Sanh, Sát lỵ tối thắng,
Chủng tánh cũng thuần chơn.
Minh, Hạnh thảy đầy đủ,
Tối thắng giữa Trời Người.
Ma-nạp bạch Phật:
“Cù-đàm, thế nào là Vô thượng sĩ, đầy đủ minh và hạnh[42]?”
Phật bảo Ma-nạp:
“Hãy nghe kỹ, hãy nghe kỹ, hãy suy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói cho.”
Đáp: “Kính vâng. Rất muốn được nghe”.
Phật bảo Ma-nạp:
“Nếu đức Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh
hạnh túc, là đấng Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng
phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn; ở giữa chư Thiên, người đời, Sa-môn,
Bà-la-môn, Thiên ma, Phạm vương, tự mình chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho
người. Lời nói khoảng đầu thiện[43],
khoảng giữa thiện, khoảng cuối cũng thiện, đầy đủ nghĩa và vị, khai mở hạnh
thanh tịnh[44]. Nếu cư sĩ, con trai
cư sĩ, và các chủng tánh khác, nghe chánh pháp mà sanh lòng tín ngưỡng, do
tâm tín ngưỡng mà nghĩ như vầy: ‘Ta nay tại gia, vợ con ràng buộc, không thể
thanh tịnh thuần tu phạm hạnh. Ta hãy cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y[45],
xuất gia tu đạo.’ Người ấy, sau đó từ bỏ gia đình tài sản, từ giã thân tộc,
cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo. Cũng đồng với những người
xuất gia, xả bỏ các thứ trang sức, đầy đủ các giới hạnh, không làm hại chúng
sanh.
“Xả bỏ dao gậy, tâm hằng tàm quý, từ niệm đối với hết thảy. Đó là không
giết.
“Xả bỏ tâm trộm cắp, không lấy vật không cho, tâm hằng thanh tịnh, không
có ý lén lút lấy cắp. Đó là không trộm cắp.
“Xả ly dâm dục, tịnh tu phạm hạnh, ân cần tinh tấn, không bị nhiễm dục,
sống trong sạch. Đó là không dâm.
“Xả ly vọng ngữ, chí thành không lừa dối, không gạt người. Đó là không
nói dối.
“Xả ly nói hai lưỡi; nếu nghe lời người này, không truyền lại người kia;
nếu nghe lời người kia, không truyền lại người này. Những người chia rẽ thì
làm cho hòa hiệp, khiến cho thân kính lẫn nhau. Những lời nói ra, hoà thuận,
đúng thời. Đó là không nói hai lưỡi.
“Xả ly ác khẩu. Những lời thô lỗ, thích gây não người khác, khiến sanh
phẫn kết; xả những lời như vậy. Lời nói dịu dàng, không gây oán hại, đem
nhiều lợi ích, được mọi người yêu kính, thích nghe những lời như vậy. Đó là
không ác khẩu.
“Xả ly ỷ ngữ; lời nói hợp thời, thành thật như pháp, y luật diệt trừ
tranh chấp; có duyên cớ mới nói; lời nói không phát suông. Đó là xả ly ỷ
ngữ.
“Xả ly uống rượu, xa lìa chỗ buông lung.
“Không đeo hương hoa, anh lạc.
“Không đi xem và nghe các thứ ca múa xướng hát.
“Không ngồi giường cao
“Không ăn phi thời.
“Không cất chứa, sử dụng vàng bạc, bảy báu.
“Không cưới thê thiếp; không nuôi nô tỳ, voi ngựa, trâu bò, gà, chó, heo,
dê; không tích chứa ruộng nhà, vườn tược. Không gạt người bằng cân đấu dối
trá. Không lôi kéo nhau bằng bàn tay, nắm tay. Cũng không cầm đồ. Không vu
dối người, không làm điều ngụy trá. Xả bỏ những thứ xấu ác như vậy; diệt trừ
các tranh tụng, các điều bất thiện. Đi thì biết thời. Không phải thời thì
không đi. Lường dạ mà ăn, không tích chứa dư thừa. Che thân bằng y phục, vừa
đủ thì thôi. Pháp phục, ứng khí[46],
thường mang theo mình. Như chim bay mang theo mình hai cánh. Cũng vậy,
Tỳ-kheo không chứa dư thừa.
“Này Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, nhận sự tín thí của người mà
vẫn tìm cách tích chứa; y phục, ẩm thực, không hề biết đủ. Ai vào trong pháp
Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của do người tín thí, vẫn
tự mình kinh doanh buôn bán, gieo trồng cây cối, sở y của quỷ thần[47].
Ai vào trong pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, vẫn
tìm phương tiện cầu các lợi dưỡng, các thứ ngà voi, tạp bảo, giường lớn cao
rộng, với các loại chăn nệm thêu thùa sặc sỡ. Ai vào trong pháp ta, không có
việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy nhận của người tín thí, vẫn
tìm phương tiện, tìm cách trang điểm mình, bôi dầu[48]
vào thân, tắm gội bằng nước thơm, thoa các thứ bột thơm, chải đầu thơm láng,
đeo tràng hoa đẹp, nhuộm mắt xanh biếc, bôi mặt cho đẹp đẽ, đeo vòng xuyến
sáng chói, dùng gương soi mặt, giày da đủ màu, áo trên thuần trắng, dao gậy,
người hầu, lọng báu, quạt báu, xe báu trang nghiêm. Ai vào trong pháp Ta,
không có những việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí mà
chuyên việc đũa dỡn, chơi bài, chơi cờ loại tám đường, mười đường[49],
trăm đường, cho đến đủ hết mọi đường[50],
với các loại đùa cười khác nhau. Ai vào trong pháp Ta, không có những việc
ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí vẫn nói
những lời vô ích, chướng ngại đạo: bàn các việc vương giả, việc chiến đấu,
quân mã; việc quần liêu, đại thần, cưỡi ngựa, đánh xe ra vào, dạo chơi vườn
quán; bàn luận việc nằm, việc đứng, việc đi bộ, việc nữ nhân, việc y phục,
ẩm thực, thân lý; lại nói chuyện vào biển tìm ngọc. Ai vào pháp Ta, không có
việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, bằng
vô số phương tiện, chỉ sinh hoạt tà mạng: mỹ từ dua siểm, hiện tướng khen
chê, lấy lợi cầu lợi. Ai vào pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, lại chỉ
tranh cãi nhau, hoặc nơi vườn quán, hoặc nơi ao tắm, hoặc ở sảnh đường, chỉ
trích lẫn nhau, rằng: ‘Ta biết kinh luật. Ngươi không biết gì. Ta đi đường
chánh. Ngươi đi lối tà. Ngươi đặt cái trước ra sau, đặt cái sau ra trước. Ta
nhịn ngươi được. Ngươi không biết nhịn. Những điều ngươi nói đều không chân
chánh. Nếu có điều gì nghi ngờ, cứ đến hỏi ta, ta giải đáp được hết.’ Ai vào
pháp Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn tuy ăn của người tín thí, lại làm các
phương tiện, cầu làm sứ giả; hoặc làm sứ giả thông tin cho vua, đại thần của
vua, Bà-la-môn, cư sĩ; từ người này đến người kia, từ người kia đến người
này; đem lời người này trao cho người kia, đem lời người kia trao cho người
này; hoặc tự mình làm, hoặc sai người khác làm. Ai vào trong pháp Ta, không
có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, lại
chỉ luyện tập các việc chiến trận, tỷ đấu; hoặc luyện tập dao, gậy, cung
tên; hoặc nuôi gà chọi, chó, heo, dê, voi, ngựa, bò, lạc đà; hoặc đấu nam
nữ; hoặc tấu các thứ tiếng: tiếng loa, tiếng trống, tiếng ca, tiếng múa, leo
cột phướn, leo xuôi, leo ngược, đủ các thứ trò chơi. Ai vào pháp Ta, không
có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, lại
hành pháp chướng ngại đạo, sinh hoạt bằng tà mạng, xem tướng trai gái, cát
hung, đẹp xấu, và tướng súc sanh, lấy lợi cầu lợi. Ai vào pháp Ta, không có
việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí vẫn hành
pháp chướng ngại đạo, sinh sống tà mạng, kêu gọi quỷ thần, hoặc đuổi đi,
hoặc bảo dừng, các thứ ếm đảo, vô số phương thuật, khiến người sợ hãi, có
thể tụ có thể tán, có thể khổ có thể vui, lại có thể an thai trục thai, cũng
có thể chú ếm người khiến làm lừa ngựa, cũng có thể khiến người đui mù câm
ngọng, hiện bày các mánh khóe, chấp tay hướng về mặt trời mặt trăng, làm các
khổ hạnh để cầu lợi. Ai vào trong pháp Ta, không có những việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, mà
hành các pháp chướng ngại đạo, sinh sống bằng tà mạng: chú bịnh cho người,
hoặc tụng ma thuật ác, hoặc tụng chú thuật lành, hoặc làm thầy thuốc, châm
cứu, thuốc thang, liệu trị các thứù bịnh. Ai vào pháp Ta, không có những
việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, nhưng
hành các pháp chướng ngại đạo, sinh sống bằng tà mạng: hoặc chú nước chú
lửa, hoặc chú ma quỷ, hoặc tụng chú Sát-lợi, hoặc tụng chú chim, hoặc tụng
chú chi tiết, hoặc bùa chú trấn nhà trấn cửa, hoặc bùa chú giải trừ lửa
cháy, chuột gặm, hoặc tụng kinh thư ly biệt sanh tử, hoặc đọc sách đoán
mộng, hoặc xem tướng tay tướng mặt, hoặc đọc sách tất cả âm. Ai vào pháp Ta,
không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác, tuy ăn của người tín thí, mà
hành pháp chướng ngại đạo, sinh sống bằng tà mạng: xem tướng thiên thời,
đoán mưa hay không mưa, thóc cao hay thóc kém, bịnh nhiều hay bịnh ít, kinh
sợ hay an ổn, hoặc nói động đất, sao chổi, nhật thực, nguyệt thực, tinh
thực, hoặc nói không thực, điềm lành như vậy, điềm xấu như vậy. Ai vào pháp
Ta, không có việc ấy.
“Ma-nạp, như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, mà hành
pháp chướng ngại đạo, sinh sống bằng tà mạng: hoặc nói nước này hơn nước
kia, nước kia không bằng; hoặc nói nước kia hơn nước này, nước này không
bằng; xem tướng tốt xấu, đoán việc thịnh suy. Ai vào pháp Ta, không có việc
ấy. Nhưng tu Thánh giới, không nhiễm trước tâm, trong lòng hỷ lạc[51].
“Mắt tuy nhìn thấy sắc nhưng không nắm bắt các tướng, mắt không bị sắc
trói buộc, kiên cố tịch nhiên, không điều tham đắm, cũng không buồn lo,
không rò rỉ các ác, kiên trì giới phẩm, khéo thủ hộ nhãn căn. Tai, mũi,
lưỡi, thân và ý, cũng như vậy. Khéo chế ngự sáu xúc, hộ trì điều phục, khiến
cho được an ổn, cũng như đi xe bốn ngựa trên đường bằng phẳng, người đánh xe
khéo cầm roi khống chế không để trật lối. Tỳ-kheo cũng vậy, chế ngự con ngựa
sáu căn, an ổn không mất.
“Vị ấy có Thánh giới như vậy, khéo hộ trì các căn theo Thánh pháp, ăn
biết đủ[52], cũng không tham vị, chỉ
với mục đích nuôi thân để không bị khổ hoạn mà không cống cao, điều hòa thân
mình khiến cho cái khổ cũ diệt, cái khổ mới không sanh, có sức, vô sự, khiến
thân an lạc. Cũng như người dùng thuốc bôi ghẻ, cốt để ghẻ lành chứù không
phải để trang sức, không vì tự cao.
“Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy, ăn đủ để duy trì thân, không có lòng kiêu mạn
phóng túng. Cũng như xe được bôi mỡ, cốt để trơn tru khiến vận hành thông
suốt, đi đến đích. Tỳ-kheo cũng vậy, ăn uống cốt đủ duy trì thân để mà hành
đạo.
“Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy thành tựu Thánh giới, được các căn của Thánh, ăn
biết vừa đủ; đầu hôm cuối hôm, tinh tấn tỉnh giác. Lại lúc ban ngày, hoặc đi
hoặc dừng, thường niệm nhất tâm, trừ các ấm cái[53].
Vị ấy, vào khoảng đầu hôm, hoặc đi hoặc ngồi, thường niệm nhất tâm, trừ các
ấm cái. Cho đến giữa đêm, nằm nghiêng hông phải, tưởng niệm sẽ trỗi dậy, đặt
ý tưởng vào ánh sáng, tâm không loạn tưởng. Đến lúc cuối đêm, liền dậy tư
duy, hoặc đi hoặc ngồi, trừ các ấm cái. Tỳ-kheo có Thánh giới như vậy đầy
đủ, được các căn bậc Thánh, ăn uống biết đủ, đầu hôm cuối hôm, tinh cần tỉnh
giác, thường niệm nhất tâm, không có loạn tưởng.
“Thế nào là Tỳ-kheo niệm không thác loạn? Tỳ-kheo như vậy, quán thân trên
nội thân, tinh cần không biếng nhác, nhớ nghĩ không quên, trừ tham ưu ở đời.
Quán thân trên ngoại thân; quán thân trên nội ngoại thân, tinh cần không
biếng nhác, nhớ nghĩ không quên, trừ tham ưu ở đời. Quán thọ, quán ý, quán
pháp cũng vậy. Đó là Tỳ-kheo niệm không thác loạn.
“Thế nào là nhất tâm? Tỳ-kheo như vậy hoặc tản bộ, hoặc ra vào, hoặc quay
nhìn hai bên, co duỗi, cúi ngước, cầm y bát, tiếp nhận ẩm thực, hoặc tả hữu
tiện lợi, hoặc ngủ hoặc thức, hoặc ngồi hoặc đứng, nói năng hay im lặng, vào
bất cứ lúc nào, thường niệm nhất tâm, không mất oai nghi. Đó là nhất tâm.
Cũng như một người đi giữa đám đông, hoặc đi ở trước, ở giữa hay ở cuối,
thường an ổn, không có điều sợ hãi. Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy,... cho đến, nói
năng im lặng, thường niệm nhất tâm, không buồn không sợ.
“Tỳ-kheo có Thánh giới như vậy, được các căn bậc Thánh, ăn thì biết đủ,
đầu hôm, cuối hôm, tinh cần tỉnh thức, thường niệm nhất tâm, không có thác
loạn. Thích ở nơi vắng, dưới gốc cây, trong bãi tha ma, hoặc trong hang núi,
hoặc ở đất trống hay trong chỗ đống phân[54];
đến giờ khất thực, lại rửa tay chân, đặt yên y bát, ngồi kiết già, ngay
người chánh ý, buộc chặt niệm trước mắt. Trừ bỏ xan tham, tâm không đeo theo[55];
diệt tâm sân hận, không có oán kết, tâm trú thanh tĩnh, thường giữ lòng từ;
trừ dẹp ngủ nghỉ[56], buộc tưởng nơi
ánh sáng[57], niệm không thác loạn;
đoạn trừ trạo hý[58], tâm không khuấy
động, nội tâm an tịnh[59], diệt tâm
trạo hý; đoạn trừ nghi hoặc, đã vượt lưới nghi, tâm chuyên nhất ở nơi pháp
thiện[60]. Cũng như đồng bộc được đại
gia ban cho chủng tánh, an ổn giải thoát, miễn khỏi sai khiến, tâm hoan hỷ,
không còn lo, sợ.
“Lại như có người mượn tiền đi buôn bán[61],
được lợi lớn mà trở về, trả vốn cho chủ, còn dư tiền đủ dùng, bèn nghĩ rằng:
‘Ta trước mượn tiền đi buôn, e không như ý. Nay được lợi mà trở về, trả vốn
cho chủ, tiền còn dư đủ dùng, không lo, sợ.’ Người ấy rất đỗi vui mừng.’
“Như người bịnh lâu, nay bịnh đã khỏi; ăn uống được tiêu hóa, sức lực dồi
dào, bèn nghĩ rằng: ‘Ta trước có bịnh, mà nay đã khỏi; ăn uống được tiêu
hóa, sức lực dồi dào, không còn lo và sợ.’ Người ấy rất đỗi vui mừng.
“Cũng như người bị nhốt trong ngục đã lâu, nay bình yên ra tù, bèn nghĩ
thầm rằng: ‘Ta trước đây bị giam giữ, nay được giải thoát, không còn lo và
sợ.’ Người ấy rất đỗi vui mừng.
“Lại như có người cầm nhiều tài bảo, đi qua chỗ hoang mạc, không gặp
cướp, bình an qua khỏi, bèn tự nghĩ rằng: ‘Ta cầm tài bảo qua khỏi chỗ hiểm
nạn này, không còn lo và sợ.’ Người ấy rất đỗi vui mừng, tâm tư an lạc.
“Ma-nạp, Tỳ-kheo bị năm triền cái bao phủ cũng giống như vậy. Như người
mang nợ, bịnh lâu, bị giam giữ, đi qua hoang mạc[62],
tự thấy mình chưa thoát ly các ấm che trùm tâm, bị trùm kín trong tối tăm,
mắt tuệ không sáng; vị ấy bèn tinh cần, xả dục, xả pháp ác, bất thiện, có
giác có quán, có hỷ do viễn ly sanh, chứng nhập sơ thiền. Vị ấy có hỷ lạc
nhuần thấm nơi thân, tràn đầy cùng khắp, không đâu là không sung mãn. Như
người khéo biết cách tắm, cho thuốc đầy bồn tắm, rồi chế nước vào, trong
ngoài đều nhuần thấm[63], không đâu
là không cùng khắp. Tỳ-kheo cũng vậy, chứng nhập sơ thiền, hỷ lạc nhuần thấm
khắp thân, không đâu không sung mãn. Như vậy, này Ma-nạp, đó là hiện thân
chứng đắc lạc thứ nhất. Vì sao? Ấy là do tinh tấn, niệm không thác loạn, ưa
chỗ nhàn tĩnh mà được vậy.
“Vị ấy xả giác, quán, bèn phát sanh tín[64],
chuyên niệm nhất tâm, không giác không quán, có hỷ lạc do định sanh, chứng
nhập đệ nhị thiền. Vị ấy có hỷ lạc và nhất tâm thấm nhuần châu thân, cùng
khắp, tràn đầy, không đâu không sung mãn. Cũng như nước suối trong mát từ
đỉnh núi chảy ra[65], không phải từ
ngoài đến, mà nước trong mát chảy ra ngay từ trong con suối ấy, trở lại thấm
nhuần chính nó, không đâu không cùng khắp. Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy, nhập
nhị thiền, có hỷ lạc do định sanh không đâu không sung mãn. Đó là hiện thân
chứng đắc lạc thứ hai.
“Vị ấy lìa hỷ, an trú xả và niệm, không tán loạn[66],
thân cảm thọ lạc, như điều mà Thánh nói, khởi hộ niệm lạc[67],
chứng nhập tam thiền. Vị ấy thân không hỷ, có lạc thấm nhuần, cùng khắp,
tràn đầy, không đâu không sung mãn. Cũng như hoa ưu-bát, hoa bát-đầu-ma, hoa
câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lị[68], mới
nhô khỏi bùn mà chưa ra khỏi nước, với cọng, rễ, cành, lá còn chìm ngập
trong nước, không đâu không cùng khắp. Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy, chứng nhập
tam thiền, lìa hỷ, an trú lạc, nhuần thấm khắp thân, không đâu không cùng
khắp. Đó là hiện thân chứng đắc lạc thứ ba.
“Vị ấy xả hỷ và lạc; ưu và hỷ đã diệt từ trước, không khổ, không lạc, xả[69]
niệm thanh tịnh, nhập tứ thiền. Thân tâm thanh tịnh, tràn đầy cùng khắp,
không chỗ nào không thấm nhuần. Cũng như một người đã tắm gội sạch sẽ, khoác
lên mình tấm lụa trắng mới tinh, toàn thân thanh tịnh. Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng
vậy, nhập tứ thiền, tâm thanh tịnh, tràn khắp thân, không chỗ nào không
thấm.
“Lại nhập tứ thiền, tâm không tăng giảm, cũng không dao động, an trú trên
mảnh đất không ái, không nhuế, không động. Cũng như mật thất, trong ngoài
được sơn quét, đóng chặt các cửa nẻo, không gió không bụi lọt vào, bên trong
đốt đèn, không bị khuấy động, ngọn lửa bốc thẳng mà không lay động. Ma-nạp,
Tỳ-kheo cũng vậy, nhập đệ tứ thiền, tâm không tăng giảm, cũng không khuynh
động, an trú trên đất không ái, không nhuế, không dao động. Đó là hiện thân
chứng lạc thứ tư.
“Vị ấy với tâm định tĩnh[70],
thanh tịnh không dơ, nhuần nhuyễn, khéo được huấn luyện, an trú trạng thái
bất động[71], tự mình trong thân khởi
tâm biến hóa, hoá thành thân khác, chân tay đầy đủ, các căn không khuyết. Vị
ấy quán như vầy: ‘Thân này, với sắc bốn đại, hoá thành thân kia. Thân này
cũng khác, thân kia cũng khác. Từ thân này khởi tâm hóa thành thân kia, các
căn đầy đủ, chân tay không khuyết.’ Cũng như người rút con dao khỏi bao, bèn
nghĩ rằng: ‘Bao khác với dao, nhưng dao được rút ra từ bao.’ Lại như một
người se gai làm giây, nghĩ rằng: ‘Gai khác với giây. Nhưng giây xuất xứ từ
gai.’ Lại như một người cho rắn bò ra khỏi hộp[72],
nghĩ rằng: ‘Rắn khác hộp khác, nhưng rắn từ hộp mà ra.’ Lại như một người
lấy áo ra khỏi giỏ tre, nghĩ rằng: ‘Giỏ tre khác áo khác, nhưng áo được lấy
ra từ giỏ. Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng vậy. Đây là thắng pháp đầu tiên được chứng
đắc. Vì sao? Ấy do tinh tấn, niệm không thác loạn, ưa chỗ nhàn tĩnh mà được
vậy.
“Vị ấy với tâm định tĩnh, thanh tịnh không dơ, nhu nhuyến, đuợc khéo huấn
luyện, an trú trạng thái bất động, từ sắc thân bốn đạicủa mình mà khởi tâm,
hoá thành thân khác, đủ cả tay chân và các căn, nghĩ rằng: ‘Thân này do bốn
đại hiệp thành. Thân kia từ thân này hóa ra. Thân này với thân kia khác
nhau. Tâm này trú trong thân này, y thân này mà an trú, rồi đi đến trong
thân biến hóa kia. Cũng như lưu ly, ma ni, được lau chùi sáng loáng, trong
sạch không dơ; hoặc được xâu bằng chỉ xanh, chỉ vàng, chỉ đỏ, người có mắt
đặt trong lòng tay mà nhìn, biết rằng ngọc và giây xâu khác nhau. Nhưng giây
dựa ngọc, từ hạt này đến hạt khác. Ma-nạp, Tỳ-kheo quán tâm nương thân này
mà an trú, rồi đi đến thân kia cũng như vậy. Đó là Tỳ-kheo chứng đắc thắng
pháp thứ hai. Vì sao? Ấy do tinh cần, niệm không tán loạn, ưa chỗ nhàn tĩnh
mà được vậy.
“Vị ấy, với tâm định tĩnh, thanh tịnh không dơ, mềm dịu, dễ điều phục, an
trú bất động địa, nhất tâm tu tập thần thông trí chứng[73],
có thể biến hóa các thứ: hoặc biến một thân thành vô số thân; từ vô số thân
hiệp thành một thân; thân có thể bay đi, vách đá không ngăn ngại; dạo trong
hư không như chim, đi trên nước như đi trên đất; mình bốc khói lửa, như đống
lửa lớn; tay sờ mặt trời, mặt trăng, đứng cao đến Phạm thiên ; muốn làm gì
tùy ý, đều có thể tự tại thành tựu, làm ích lợi cho nhiều người. Lại như thợ
ngà khéo xử lý ngà voi. Cũng như thợ vàng khéo luyện chơn kim, tùy ý mà làm,
ích lợi cho nhiều người.
“Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy, tâm định tĩnh, thanh tịnh, an trú bất động địa,
tùy ý biến hoá, cho đến, tay sờ mặt trời, mặt trăng, đứng cao đến Phạm
thiên. Đó là thắng pháp thứ ba của Tỳ-kheo.
“Vị ấy với tâm đã định, thanh tịnh không dơ, mềm dịu, khéo điều phục, an
trú bất động địa, nhất tâm tu tập chứng thiên nhĩ trí[74].
Vị ấy, với thiên nhĩ thanh tịnh vượt qua lỗ tai con người, nghe được hai
loại tiếng: tiếng chư thiên và tiếng loài người. Cũng như trong thành có đại
giảng đường, cao lớn, rộng rãi, có người thính tai ở trong giảng đường;
những âm thanh có trong giảng đường, không phải cố gắng để nghe, người ấy
nghe rõ hết. Cũng vậy, Tỳ-kheo do tâm đã định, với thiên nhĩ thanh tịnh,
nghe được hai thứ tiếng. Ma-nạp, đó là thắng pháp thứ tư của Tỳ-kheo.
“Vị ấy với tâm đã định, thanh tịnh không dơ, mềm dịu, khéo điều phục, an
trú bất động địa, nhất tâm tu tập chứng tha tâm trí[75].
Vị ấy đúng như tâm của người, có dục hay không dục, có cấu uếhay không cấu
uế[76], có si hay không si, tâm rộng
hay hẹp[77], tâm lớn hay nhỏ[78],
tâm định hay loạn, tâm bị tróùi buộc hay cởi mở, tâm cao thượng hay hạ liệt,
cho đến, tâm vô thượng, thảy đều biết hết. Cũng như một người rọi bóng mình
trong nước trong, đẹp hay xấu đều xét biết cả. Tỳ-kheo như vậy, vì tâm định
tĩnh cho nên có thể biết tâm người. Ma-nạp, đó là thắng pháp thứ tư của
Tỳ-kheo.
“Vị ấy tâm định, thanh tịnh không cấu uế, mềm dịu, khéo điều phục, an trú
bất động địa, nhất tâm tu tập túc mạng trí chứng[79],
liền có thể biết được đời trước, với vô số sự việc; có thể nhớ một đời cho
đến vô số đời, số kiếp thành hoại; chết đây sanh kia; danh tánh, chủng tộc,
ẩm thực xấu tốt, thọ mạng dài vắn, cảm thọ khổ lạc, hình sắc tướng mạo thế
nào, tất cả đều nhớ biết hết. Cũng như một người từ chòm xóm của mình đi đến
nước khác; ở tại chỗ kia, hoặc đi hoặc đứng, hoặc nói hoặc im lặng; rồi lại
từ nước này đến nước khác. Lần lượt như vậy, sau đó quay về chốn cũ. Không
cần nhọc sức mà vẫn có thể nhớ những nước đã đi qua; từ chỗ này đến chỗ kia,
từ chỗ kia đến chỗ này; đi, đứng, nói năng, im lặng, thảy đều nhớ hết.
Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy, do tâm đã định tĩnh, thanh tịnh không cấu uế, an
trú bất động địa, có thể bằng túc mạng trí mà nhớ đời trước vô số sự việc
trong vô số kiếp. Đó là Tỳ-kheo chứng đắc minh thứ nhất[80].
Vô minh vĩnh viễn diệt, pháp đại minh phát sanh; cái tối tăm tiêu diệt, pháp
sáng chói phát sanh. Đấy là Tỳ-kheo đắc túc mạng trí minh. Vì sao? Ấy do
tinh cần, niệm không tán loạn, ưa chỗ thanh nhàn vắng vẻ mà được như vậy.
“Vị ấy, với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cấu uế, nhu nhuyến khéo điều
phục, an trú bất động địa, nhất tâm tu tập sanh tử trí chứng[81].
Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, thấy các chúng sanh sanh đây chết kia; chết
ở kia, sanh đến nơi này, hình sắùc đẹp xấu, quả báo thiện ác, tôn quý, ty
tiện, tùy nghiệp báo đã tạo mà phù hợp với nhân duyên, tất cả đều biết rõ.
Người này thân hành ác, khẩu nói ác, ý nghĩ ác, phỉ báng Hiền Thánh, tin
theo tà kiến điên đảo, thân hoại mạng chung đọa ba đường ác. Người này thân
làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, không phỉ báng Hiền Thánh, hành
theo chánh kiến, thân hoại mạng chung, sanh lên trời, người. Bằng thiên nhãn
thanh tịnh, thấy chúng sanh tùy theo duyên của nghiệp đã làm, qua lại trong
năm đường. Cũng như khoảng đất bằng cao rộng trong thành nội, đầu ngã tư
đường cất một lầu cao lớn, người mắt sáng đứng trên lầu mà nhìn, thấy các bộ
hành Đông, Tây, Nam, Bắc, mọi cử động, tất cả đều thấy hết. Ma-nạp, Tỳ-kheo
như vậy, với tâm định tĩnh, không cấu uế, thanh tịnh, nhu nhuyến dễ điều
phục, an trú bất động địa, chứng sanh tử trí. Bằng thiên nhãn thanh tịnh,
thấy hết chúng sanh với những việc thiện ác mà chúng đã làm, tùy nghiệp thọ
sanh, qua lại năm đường, thảy đều biết cả. Đó là minh thứ hai của Tỳ-kheo.
Đoạn trừ vô minh, sanh tuệ minh, xả bỏ tối tăm, phát ra ánh sáng trí tuệ. Đó
là kiến chúng sanh sanh tử trí minh vậy. Vì sao? Ấy do tinh cần niệm không
tán loạn, ưa một mình nơi thanh vắng mà được vậy.
“Vị ấy với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cấu uế, nhu nhuyến dễ điều
phục, an trú bất động địa, nhất tâm tu tập vô lậu trí chứng[82].
Vị ấy như thật biết khổ Thánh đế, như thật biết hữu lậu tập, như thật biết
hữu lậu diệt tận, như thật biết con đường dẫn đến vô lậu. Vị ấy biết như
vậy, thấy như vậy; tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minhlậu, chứng
đắc giải thoát trí[83]: ‘sanh tử đã
hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau
nữa.’ Cũng như trong nước trong, có gỗ, đá, cá, ba ba, các loại thủy tộc du
hành Đông-tây, người có mắt sáng thấy rõ hết: đây là gỗ, đá; đây là cá, ba
ba. Ma-nạp, Tỳ-kheo như vậy, với tâm định tĩnh, an trú bất động địa, đắc vô
lậu trí chứng, cho đến, không còn tái sanh. Đó là Tỳ-kheo đắc minh thứ ba.
Đoạn trừ vô minh, phát sanh tuệ minh, xả bỏ tối tăm, phát ra ánh sáng đại
trí. Đó là vô lậu trí minh. Vì sao? Ấy do tinh cần, niệm không tán loạn, ưa
một mình nơi thanh vắng vậy.
“Ma-nạp, đó là minh và hạnh vô thượng được đầy đủ. Ý ngươi nghĩ sao, minh
và hạnh như vậy là đúng, hay sai?
Phật bảo Ma-nạp:
“Có người không thể chứng đắc đầy đủ minh hạnh vô thượng, nhưng thực hành
boán phöông tieän[84]. Những gì là
bốn? Ma-nạp, hoặc có người không được đầy đủ minh hạnh vô thượng, nhưng vác
rựa, ôm lồng[85], đi vào rừng tìm
thuốc, ăn rễ cây. Đó là không được minh hạnh vô thượng mà hành phương tiện
thứ nhất. Thế nào, Ma-nạp, phương tiện thứ nhất này, ngươi và thầy các ngươi
có làm không?”
Đáp: “Không”.
Phật bảo Ma-nạp:
“Ngươi tự mình thấp kém, không hay biết chơn ngụy, lại cứ phỉ báng, khinh
mạn Thích tử, tự gieo mầm tội lỗi, nuôi lớn gốc rễ địa ngục.
“Lại nữa, Ma-nạp, không được thành tựu minh hạnh vô thượng, mà tay cầm
bình nước rửa, vác gậy toán thuật[86],
vào núi rừng, ăn trái cây tự rụng. Ma-nạp, đó là không được thành tựu minh
hạnh vô thượng mà hành phương tiện thứ hai. Thế nào, Ma-nạp, ngươi và thầy
ngươi có hành pháp này chăng?”
Đáp: “Không”.
Phật bảo Ma-nạp:
“Ngươi tự mình thấp kém, không rõ chân ngụy, bèn phỉ báng, khinh mạn
Thích tử, tự gieo mầm ác, nuôi lớn gốc địa ngục lâu dài.
“Lại nữa, Ma-nạp, không được thành tựu minh hạnh vô thượng, mà bỏ lối hái
thuốc và lượm trái cây rụng trên đây, trở về thôn xóm, sống nương người đời,
cất am tranh, ăn lá cây, lá cỏ[87].
Ma-nạp, đó là không được thành tựu minh hạnh vô thượng mà thực hành phương
tiện thứ ba. Thế nào, Ma-nạp, ngươi và thầy ngươi có hành pháp này chăng?”
Đáp: “Không”.
Phật bảo Ma-nạp:
“Ngươi tự mình thấp kém, không rõ chân ngụy, bèn phỉ báng, khinh mạn
Thích tử, tự gieo mầm ác, nuôi lớn gốc địa ngục lâu dài.
“Lại nữa, Ma-nạp, không được thành tựu minh hạnh vô thượng, nhưng không
ăn cỏ thuốc, không ăn trái cây rụng, không ăn lá cỏ, mà dựng nhà gác to lớn
nơi thôn xóm thành ấp[88]. Những
người đi đường từ Đông sang Tây ngang qua đó đều được cấp dưỡng tùy khả
năng. Đó là không được vô thượng mà thực hành phương tiện thứ tư. Thế nào,
Ma-nạp, ngươi và thầy ngươi cóù hành pháp ấy không?”
Đáp: “Không”.
Phật bảo Ma-nạp:
“Ngươi tự mình thấp kém, không rõ chơn ngụy, bèn phỉ báng, khinh mạn
Thích tử, tự gieo mầm tội, nuôi lớn gốc địa ngục.
“Thế nào, Ma-nạp, các Bà-la-môn kỳ cựu, và các tiên nhơn, với nhiều kỷ
thuật, tán thán, xưng tụng những điều mình học tụng, như nay những điều được
các người Bà-la-môn, tán thán, ca ngợi. Đó là: 1. A-tra-ma, 2. Bà-ma, 3.
Bà-ma-đề-bà, 4. Tỷ-ba-mật-đa, 5. Y-đâu-lâu-tất, 6. Da-bà-đề-già, 7.
Bà-bà-bà-tất-tra, 8. Ca-diệp, 9. A-lâu-na, 10. Cù-đàm, 11. Thủ-di-bà, 12.
Tổn-đà-la.[89] Các đại tiên,
Bà-la-môn này, có đào hào, xây dựng nhà gác, như chỗ mà thầy trò ngươi đang
ở không?”
Đáp: “Không”.
“Các đại tiên ấy có dựng thành quách vây quanh nhà cửa, rồi ở trong đó,
như chỗ ở của thầy trò ngươi hiện nay không?
Đ áp: “Không”.
“Các đại tiên ấy có nằm trên giường cao, chăn đệm dày, mềm mại, như thầy
trò ngươi nay không?”
Đáp: “Không”.
“Các đại tiên kia có tự mình vui thú với vàng, bạc, chuỗi anh lạc, tràng
hoa nhiều màu, và mỹ nữ, như thầy trò ngươi hiện nay không? Các đại tiên kia
có đi xe báu, cầm gậy sắt dẫn đường, che đầu bằng lọng trắng, tay cầm phất
báu, mang guốc báu nhiều màu, lại bận toàn lụa trắng, như thầy trò ngươi
hiện nay đang mặc không?”
Đáp: “Không”.
“Ma-nạp, ngươi tự mình thấp hèn, không rõ chơn ngụy, mà lại phỉ báng,
khinh mạn Thích tử, tự gieo mầm tội, nuôi lớn gốc địa ngục. Thế nào, Ma-nạp,
như các đại tiên, các Bà-la-môn kỳ cựu kia, như A-tra-ma, tán thán, đề cao
những gì mà họ vốn đọc tụng, nay những điều được các Bà-la-môn tán tháùn, đề
cao cũng giống như vậy. Nếu truyền những điều ấy, để dạy vẽ người khác, mà
muốn sanh lên Phạm thiên, không có trường hợp đó. Cũng như, này Ma-nạp, vua
Ba-tư-nặc cùng nói chuyện với người khác, hoặc cùng bàn luận với các vua,
hoặc với đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ, mà những người nhỏ mọn khác nghe được,
bèn vào thành Xá-vệ, gặp người, liền thuật chuyện vua Ba-tư-nặc có nói như
vậy. Thế nào, Ma-nạp, vua có cùng bàn luận với người ấy không?”
Đáp: “Không”.
“Ma-nạp, người đọc thuộc lời vua cho những người khác nghe, há có thể làm
đại thần cho vua được chăng?”
Đáp: “Không có chuyện ấy”.
“Ma-nạp, ngươi ngày nay truyền lời của đại tiên đời trước, Bà-la-môn kỳ
cựu, đọc tụng, dạy cho người, mà muốn sanh Phạm thiên, không có chuyện ấy.
Thế nào, Ma-nạp, các ngươi tiếp nhận sự cúng dường của người có thể tùy pháp
mà thực hành được chăng?”
Đáp: “Đúng như vậy, Cù-đàm, nhận cúng dường của người khác thì phải như
pháp mà hành”.
“Ma-nạp, thầy ngươi Phất-già-la-sa-la nhận phong ấp của vua, nhưng khi
cùng nghị luận với vua Ba-tư-nặc, lại nói những lời vô ích mà vua không nên
bàn đến, không đem sự việc chân chánh mà cùng bàn luận, cùng khuyên nhủ.
Ngươi nay tự mình xem xét lỗi lầm của thầy ngươi và của chính ngươi; nhưng
hãy gác qua chuyện ấy, mà nên tìm hiểu nguyên nhân ngươi đến đây.”
“Ma-nạp liền ngước mắt lên nhìn thân của Như Lai, tìm các tướng tốt. Thấy
đủ các tướng khác, duy chỉ hai tướng không thấy, trong lòng hoài nghi. Bấy
giờ, Thế Tôn thầm nghĩ: “Nay Ma-nạp này không thấy hai tướng nên sanh nghi
ngờ như thế”. Ngài bèn cho ra tướng lưỡi rộng dài, liếm đến tai, phủ kín
mặt. Lúc ấy, Ma-nạp còn nghi ngờ một tướng nữa. Thế Tôn lại nghĩ: “Nay
Ma-nạpnày vẫn còn nghi ngờ một tướng nữa”. Ngài bèn dùng thần lực khiến cho
duy chỉ Ma-nạp thấy được tướng mã âm tàng. Ma-nạpthấy đủ các tướng rồi,
không còn hồ nghi gì nơi Như Lai nữa, bèn rời chỗ ngồi đứng dậy, vòng quanh
Phật rồi đi.
Khi ấy, Bà-la-môn Phất-già-la đứng ngoài cửa, từ xa trông thấy đệ tử đang
đi đến, bèn đón lại, hỏi rằng:
“Ngươi xem Cù-đàm có thật đủ các tướng không? Công đức thần thông có thật
như lời đồn không?”
Tức thì bạch thầy rằng:
“Sa-môn Cù-đàm đầy đủ cả ba mươi hai tướng. Công đức thần lực đều như
tiếng đồn.”
Thầy lại hỏi:
“Ngươi có bàn luận ý nghĩa gì với Cù-đàm không?”
Đáp: “Thật có trao đổi lời qua tiếng lại với Cù-đàm”.
Thầy lại hỏi:
“Người với Cù-đàm thảo luận chuyện gì?”
Bấy giờ Ma-nạp kể hết câu chuyện cùng Phật luận bàn. Thầy nói:
“Ta có người đệ tử thông minh như vậy lại khiến xảy ra như vậy, chúng ta
chẳng bao lâu sẽ đọa địa ngục. Vì sao? Lời nói của ngươi, vì muốn hơn mà
kích bác Cù-đàm, khiến cho ông ấy không vui lòng, đối với ta lại càng xa
cách[90]. Ngươi được coi là đệ tử
thông minh mà khiến đến mức ấy, thì khiến ta vào địa ngục sớm.”
Thế rồi người thầy ấy lòng rất tức giận, bèn đạp Ma-nạp té xuống đất, và
ông tự mình đánh xe lấy. Ma-nạp kia khi vừa té xuống đất thì toàn thân nổi
vảy trắng.
Khi ấy Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la ngước nhìn mặt trời, nghĩ thầm rằng:
“Nay chưa phải là lúc thăm viếng Sa-môn Cù-đàm. Ta hãy chờ sáng mai rồi đi
thăm hỏi”.
Sáng hôm sau, ông thắng cỗ xe báu, cùng với năm trăm đệ tư tuỳ tùng, đi
đến rừng Y-xa; đến nơi, xuống xe, đi bộ đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi xong, ngồi
xuống một bên. Ông ngước nhìn thân Như Lai, đầy đủ các tướng, duy thiếu hai
tướng. Bà-la-môn do đó có ý nghi ngờ về hai tướng. Phật biết ý nghĩ của ông,
bèn làm lộ tướng lưỡi rộng dài, liếm đến tai và phủ kín mặt. Bà-la-môn lại
còn nghi ngờ một tướng nữa. Phật biết ý nghĩ của ông, bèn dùng thần lực,
khiến cho thấy tướng mã âm tàng. Bà-la-môn khi thấy đủ ba mươi hai tướng của
Như Lai, trong lòng khai ngộ, không còn hồ nghi, liền bạch với Phật rằng:
“Nếu khi đi giữa đường mà gặp Phật, tôi dừng xe một lát, mong Ngài biết
cho là tôi đã kính lễ Thế Tôn. Vì sao? Tôi nhận được phong cho thôn này. Nếu
tôi xuống xe, sẽ mất thôn ấy, và tiếng xấu đồn khắp.”
Ông lại bạch Phật:
“Nếu tôi xuống xe, cởi kiếm, lui tàn lọng, và dẹp bỏ giải phướn, bình
nước rửa và giày dép, nên biết ấy là tôi đã lễ kính Như Lai. Vì sao? Tôi
nhận được phong cho thôn này. Nếu tôi xuống xe, sẽ mất thôn ấy, và tiếng xấu
đồn khắp.”
Lại bạch Phật:
“Nếu ở giữa đám đông, thấy Phật mà tôi đứng dậy, hoặc trật áo bày vai
phải, tự xưng tên họ, nên biết, ấy là tôi đã lễ kính Như Lai. Vì sao? Tôi
nhận được phong cho thôn này. Nếu tôi xuống xe, sẽ mất thôn ấy, và tiếng xấu
đồn khắp.”
Lại bạch Phật:
“Tôi quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Xin nhận tôi làm ưu-bà-tắc trong
Chánh pháp. Từ nay về sau, tôi không giết, không trộm, không tà dâm, không
dối, không uống rượu. Cúi mong Thế Tôn cùng các Đại chúng nhận lời mời của
tôi.”
Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.
Bà-la-môn thấy Phật im lặng, biết Ngài đã hứa khả, bèn rời chỗ ngồi đứng
dậy, bất giác lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi đi. Về nhà, ông sửa soạn thức
ăn. Sau khi bày biện mâm cỗ xong, ông quay trở lại thưa: “Đã đến giờ”.
Bấy giờ, Thế Tôn khoác y ôm bát cùng với đại chúng một ngàn hai trăm năm
mươi người đi đến nhà ông ấy, rồi ngồi lên chỗ soạn sẵn.
Lúc ấy, Bà-la-môn tự tay chăm chước thức ăn, cúng Phật và Tăng các thứ
ngon ngọt. Ăn xong, dẹp cất bát, dùng nước rửa xong, Bà-la-môn tay phải nắm
cánh tay đệ tử là A-ma-trú đến trước Thế Tôn bạch rằng:
“Cúi mong Thế Tôn nghe lời hối lỗi của nó.”
Nói như vậy ba lần, rồi lại bạch Phật:
“Cũng như voi, ngựa đã được huấn luyện khéo; người này cũng vậy, tuy có
sơ suất, cúi mong Ngài nhận lời hối lỗi.”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Cầu cho ngươi thọ mạng dài lâu, đời này an ổn. Mong cho chứng vảy trắng
của đệ tử ngươi được trừ.”
Phật nói vừa xong, người đệ tử kia liền khỏi chứng vảy trắng.
Rồi thì, Bà-la-môn lấy một cái giường nhỏ để trước Thế Tôn. Thế Tôn bèn
nói pháp cho Bà-la-môn, chỉ bày, khuyên dạy, khiến cho được ích lợi, hoan
hỷ. Ngài giảng về thí, giới, sanh thiên, dục là ô uế, phiền não là tai hoạn,
xuất yếu là trên hết, diễn bày thanh tịnh. Khi Thế Tôn biết tâm người
Bà-la-môn đã nhu nhuyến, thanh tịnh, không cáu bẩn, có thể nhận lãnh đạo
giáo; như thường pháp của chư Phật, Ngài nói Khổ Thánh đế, Khổ tập Thánh đế,
Khổ diệt Thánh đế, Khổ xuất yếu Thánh đế. Bà-la-môn lúc ấy ngay trên chỗ
ngồi mà xa lìa trần cấu được pháp nhãn tịnh, cũng như tấm lụa trắng tinh dễõ
nhuộm màu, Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la cũng vậy, thấy pháp, đắc pháp, quyết
định đạo quả, không còn tin ở đạo khác, được vô sở úy, tức thì bạch Phật
rằng:
“Con nay ba lần xin quy y Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Xin nhận con làm
ưu-bà-tắc trong Chánh pháp. Suốt đời không giết, không trộm, không tà dâm,
không dối, không uống rượu. Cúi mong Thế Tôn cùng Đại chúng thương tưởng
con, nhận lời mời bảy ngày.”
Thế Tôn im lặng nhận lời. Bà-la-môn tức thì trong bảy ngày cúng dường
Phật và Đại chúng đủ các thứ. Bấy giờ, qua bảy ngày, Thế Tôn lại du hành
nhân gian.
Phật đi chưa bao lâu, Phất-già-la-sa-la ngộ bịnh, mạng chung. Các Tỳ-kheo
nghe Bà-la-môn này sau khi cúng dường Phật trong bảy ngày, sau đó mạng
chung, bèn tự nghĩ thầm: Người này mạng chung, sanh vào cõi nào? Rồi chúng
Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật, lễ Phật xong, ngồi sang bên, bạch Phật rằng:
“Bà-la-môn sau khi cúng dường Phật suốt bảy ngày thì thân hoại mạng
chung. Người ấy sanh vào chỗ nào?”
Phật nói với các Tỳ-kheo:
“Tộc tánh tử ấy đã tập hợp rộng rãi các điều thiện, đầy đủ pháp và tùy
pháp, không trái pháp hành, đoạn trừ năm hạ phần kết, Niết-bàn ở nơi kia[91],
không trở lại đời này nữa.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Chú thích:
[1] Bản Hán: Phật thuyết Trường
A-hàm, quyển 13, “Đệ tam phần A-ma-trú kinh đệ nhất”; Tham chiếu, No 20
Phật khai giải Phạm chí A-bạt kinh, Ngô Chi Khiêm dịch, (Đại I, tr.
259).-Tương đương Pāli, D. 3, Deva Dig i. 3, Ambaṭṭha-sutta.
[2] Câu-tát-la拒 薩 羅, Pāli:
Kosala(Skt. Kauśala). No. 20: Việt-kỳ 越 祇.
[3] D. 3, sđd.: năm trăm người.
[4] Y-xa-năng-già-la 伊 車 能 伽 羅,
Pāli: Icchānaṅkala, tên thôn. No. 20: Cổ xa thành古 車 城.
[5] Y-xa 伊 車, Pāli:
Icchānaṅkalavana, tên khu rừng.
[6] Phất-già-la-sa-la沸 伽 羅 娑 羅,
Pāli: Pokkharasādi. No. 20: Phí-ca-sa 費 迦 沙.
[7] Úc-già-la郁 伽 羅, Pāli:
Ukkaṭṭha.
[8] Ba-tư-nặc波 斯 匿, Pāli:
Pasenadi, vua nước Câu-tát-la.
[9] Phạm phần 梵 分, phạm thí梵 施,
hay tịnh thí淨 施; Pāli: brahmadeyya, vật, thường là đất đai, do vua ban
tặng.
[10] Tham chiếu Pāli:
saṃsuddha-gahaṇko yāva sattamā titāmahā-yugā akkhitto anupakkuṭṭho:
thanh tịnh cho đến 7 đời tổ phụ, không bị pha tạp, không bị chỉ trích.
[11] Ba bộ cựu điển, chỉ ba
bộ Vệ đà, gồm Lê-câu-vệ-đà (Ṛgveda), Sa- ma (Samaveda) và Dạ-nhu-vệ-đà
(Yayurveda).
[12] Ma nạp đệ tử摩 納 弟 子,
Pāli: māṇavo antevāsi, thiếu niên đệ tử, người học trò (hầu cận) trẻ
tuổi.
[13] A-ma-trú阿 摩 晝, No. 20:
A-bạt阿 拔; Pāli: Ambaṭṭha.
[14] Cù-đàm Thích tử 瞿 曇 釋 子,
Pāli: Gotamo Sakya-putto, Gotama, con trai dòng họ Sakya.
[15] Hán: ư chư thiên, ma,...
Bà-la-môn trung tự thân tác chứng 於 諸 天 魔 婆 羅 門 中 自 身 作 證. Pāli: So imaṃ
lokaṃ sadevakaṃ,... sayaṃ abhiññā sacchikatvā, Ngài đã tự mình chứng ngộ
thế giới này bao gồm thiên giới...
[16] Hán: nghĩa vị cụ túc義 味
具 足. Pāli: sātthaṃ savyājanaṃ, có ý nghĩa (có mục đích) và có văn.
[17] Như thử chơn nhơn 如 此 真
人, Pāli: tathā-rūpānaṃ arahataṃ, bậc Thánh (A-la- hán) như vậy.
[18] Hán: hủy hình, quan độc,
ti lậu, hạ liệt, tập hắc minh pháp 毀 形 鰥 獨 卑 陋 下 劣 習 黑 冥 法. Pāli:
muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhu-pādāpaccā, hạng Sa-môn trọc đầu, ti
tiện, đen đui, sanh từ chân Phạm thiên.
[19] Hán: vị điều phục 未 調 伏;
Pāli: avusitavā, chưa được hoàn hảo, chưa được dạy dỗ, vô giáo dục.
[20] Thích chủng tử 釋 種 子;
Pāli: Sakya-jāti, dòng họ Thích-ca.
[21] Ca-duy việt 迦 維 越, túc
Ca-tỳ-la-vệ. Pāli: Kapilavatthu (Skt. Kapilavastu).
[22] Pāli: cattāro vaṇṇnā,
bốn màu (da), bốn sắc tộc, thường chỉ 4 đẳng cấp xã hội Ấn độ cổ.
[23] Hán: xí tư廁 斯; Pāli:
ibbha, tôi tớ hèn mọn.
[24] Hán: tánh姓; Pāli: gotta,
chủng tánh, dòng dõi.
[25] Hán: Thanh Vương 聲 王.
Pāli: Kaṇhāyana, chỉ hậu duệ thổ dân bị chủng tộc Arya chinh phục; ám
chỉ có nguồn gốc da đen. Từ này không phù hợp với Hán.
[26] Hán: Thích-ca nô chủng 釋
迦 奴 種. Pāli: dāsi-puttotvam āsi Sakyānam, ngươi là con cháu của một nữ
tỳ của họ Thích.
[27] Hán: Thanh Ma聲 摩; Pāli:
Okkāka(Skt. Ikṣvāku), thường dịch là Cam giá vương 甘 蔗, thủy tổ dòng họ
Thích.
[28] Diện Quang面 光, Pāli:
Okkamukha, Tượng thực 象 食, Pāli: Hatthinīya, Lộ chỉ 路 指, Pāli:
Karakaṇḍa, Trang nghiêm 莊 嚴, Pāli: Sīnipura.
[29] Theo bản Pāli,
Okkākamuốn truyền ngôi cho con trai một ái phi nên đuổi những người con
lớn đi.
[30] Hán: trực thọ lâm 直 樹 林.
Pāli: sāka-saṇḍo, rừng cây sāka, có lẽ chỉ cây sồi.
[31] Theo văn, 4 người con
khác mẹ. Pāli: Te jāti-sambheda-bhayāsakāhi bhaginīhi saddhiṃ samvāsaṃ
kappesuṃ: Vì sợ phá hoại huyết thống, họ bèn phối hợp với các chị em của
mình.
[32] Trong bản, sanh nam tử 生
男 子. Tống-Nguyên-Minh: sinh nam nữ 生 男 女: sanh con cái.
[33] Bản Hán chua thêm:
“Thích, tiếng nước Tần nói là năng能 (khả năng). Vì ở trong rừng trực thọ
nên gọi là Thích. Thích, tiếng Tần cũng có nghĩa là trực 直 (thẳng).”
Pāli: Sakyā vata bho kumārā, parama-sakyāvata bho kumārā: giỏi thay các
vương tử; rất giỏi thay các vương tử. Ở đây, Sakya được hiểu là “có năng
lực.”
[34] Hán: thanh y青 衣, tức đày
tớ. Pāli: Okkākassa Disānāma dāsī ahosi, Vua có một nữ tỳ tên Disā
(Phương hướng)
[35] Hán: ma-nạp tử摩 納 子.
Pāli: kaṇhaṃ janesi, sanh một người con da đen
[36] Hán: khả úy 可 畏; Pāli:
pisāca, ác quỷ. (Te evam āhaṃsu: Ayaṃ sañjāto paccābhāsi. Kaṇho jāto
pisāco jāto ti: Nó vừa mới sanh đã biết nói. Một con quỷ đen mới sanh).
[37] Mật tích lực sĩ 密 跡 力 士,
Pāli: vajira-pāṇī yakkho, dạ-xoa cầm chày kim cang.
[38] Pāli: Uḷāro so Kaṇho isi
ahosi, Kanha trở thành một tiên nhân vĩ đại.
[39] Pāli:
Sanaṅkumāra-brahma: Thường đồng hình Phạm thiên; vị Phạm thiên thường
xuất hiện với hình dáng một đồng tử.
[40] Hán: sanh 生; Pāli: jāti,
huyết thống, dòng dõi.
[41] Tham chiếu Pāli:
Khattiyo seṭṭho janetasmiṃ ye gotta-paṭsārino/ Vijjācaraṇa-sampannoso
seṭṭho deva-manuse ti, những ai tôn sùng chủng tộc, sát đế lợi là bậc
nhất. Người nào đầy đủ Minh và Hạnh, tối thắng giữa trời và người.
[42] Minh và Hạnh, Pāli:
vijja (minh triết) và caraṇa (đức hạnh).
[43] Hán: thượng ngữ diệc
thiện上 語 亦 善. Pāli: So dhammaṃ deseti ādi-kalyānaṃ (... ), Ngài tuyên
pháp phần đầu thiện (...).
[44] Hán: khai thanh tịnh
hạnh 開 清 淨 行. Pāli: kevala-paripuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ
pakāseti, Ngài thuyết minh phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.
[45] Ba pháp y, Pāli: (tīni)
kāsāyāni vatthāni.
[46] Ứng khí 應 器, hay ứng
lượng khí 應 量 器, vật dụng lường thức ăn; chỉ bình bát.
[47] Hán: quỷ thần sở y 鬼 神 所
依. Pāli: bhūta-gāma, làng quỷ thần, chỉ các loại cây cối hay cây cỏ.
[48] Hán: tô du 酥 油, một loại
bơ.
[49] Hán: bát đạo, thập đạo 八
道 十 道; Pāli: aṭṭha-padaṃ dasa-padaṃ ākāsam, bát mục kỳ, thập mục kỳ: cờ
tám ô, cờ mười ô.
[50] Bản Pāli không có các
loại cờ này.
[51] Đoạn trên, nói về
Tỳ-kheo thành tựu giới (bhikkhu sīla-sampanno). Đoạn tiếp theo, Tỳ-kheo
phòng hộ căn môn(bhikkhu indriyesu gutta-dvāro hoti).
[52] Từ đây trở xuống,
Tỳ-kheo sống tri túc(bhikkhu santuṭṭho hoti).
[53] Ấm cái 陰 蓋, hay triền
cái, hay nói gọn, cái. Pāli: nivaraṇa ( 5 triền cái: tham dục, sân hận,
hôn trầm và thùy miên, trạo cử và hối tiếc, hoài nghi).
[54] Hán: phẩn tụ 糞 聚; có lẽ
Pāli: palāla-puñja, đống rơm.
[55] Hán: tâm bất dữ câu 心 不
與 俱; Pāli: abhijjhāya cittaṃ parisodheti, tâm gột sạch xan tham.
[56] Pāli: thīna-middhaṃ
pahāya, loại bỏ trạng thái buồn ngủ và dã dượi.
[57] Hán: hệ tưởng tại minh繫
想 在 明; phương pháp trừ buồn ngủ bằng cách thực tập quang minh tưởng.
Pāli: āloka-saññī sato, ý niệm với ảnh tượng ánh sáng.
[58] Trạo (điệu) hý 掉 戲, hay
trạo hối掉 悔, trạo cử và hối tiếc; chỉ trạng thái bứt rứt và bồn chồn;
Pāli: uddhacca-kukkucca.
[59] Nội hành tịch diệt內 行 寂
滅. Pāli: ajjhattaṃ vūpasanta-citto
[60] Hán: kỳ tâm chuyên nhất
tại ư thiện pháp 其 心 專 一 在 於 善 法; Pāli: akathaṃkāthīkusalesu dhammesu,
không phân vân đối với các pháp thiện.
[61] Hán: cử tài trị sanh 舉 財
治 生; Pāli: iṇaṃ ādāya kammante payojeyya, người mắc nợ, bèn làm các nghề
nghiệp (để trả nợ)
[62] Bản Hán kể thiếu: như
cảnh nô lệ. Thứ tự 5 thí dụ cho 5 triền cái hơi khác bản Pāli.
[63] Bột thấm nước và do đó
hòa tan với nước.
[64] Hán: tiện sanh vi tín 便
生 為 信, Huyền Tráng dịch: nội đẳng tịnh 內 等 淨, trạng thái trong sáng của
nội tâm. Pāli: ajjhattaṃ sampasādaṃ.
[65] Hán: sơn đảnh lương
tuyền thủy tụ trung xuất 山 頂 涼 泉 水 聚 中 出. Pāli: udaka-rahado
ubbhidodako, nước phun lên từ hồ nước sâu.
[66] Hán: bỉ xả hỷ trú hộ
niệm bất thố loạn 彼 捨 喜 住 護 念 不 措 亂. Đoạn này Hán dịch không chính xác.
Pāli, upekha hay Skt. upekṣa, thường được dịch là xả, chỉ trạng thái nội
tâm quân bình, chứ không phải hộ. Dịch giả phân tích sai ngữ nguyên:
upa: bên trên + ikṣa (Pāli: ikha): nhìn. Tham chiếu Pāli: pītiyā ca
virāgā ca upekhako ca viharatisato ca sampajāno’ vị ấy loại trừ hỷ, an
trú xả, chánh niệm chánh trí.
[67] Xem chú thích 65. Tham
chiếu Pāli: sukhañ ca kāyena paṭisaṃvedeti yan taṃ ariyā ācikkhanti:
upekhako satimā sukha-vihārī: thân cảm giác lạc, điều mà các Thánh nói
là an trú lạc với xả ( trạng thái quân bình nội tâm) và chánh niệm.
[68] Các loại sen, hay bông
súng: uppala, sen (súng) xanh; bát đầu ma: sen chỉ chung, có khi chỉ sen
đỏ; kuduma: sen (súng) trắng; pundarika: sen trắng.
[69] Xem chú thích 66 trên.
[70] Pāli: samāhite citte
[71] Trú bất động địa 住 不 動
地. Pāli: ṭhite ānejjappatte
[72] Hán: khiệp trung xuất xà
篋 中 出 蛇. Pāli: ahiṃ karaṇḍa uddhareyya, con rắn lột vỏ. Pāli: karaṇḍa,
cái giỏ, xác (vỏ) rắn.
[73] Thần thông trí chứng 神 通
智 證 Huyền Tráng: thần cảnh trí chứng thông 神 景 智 證 通, Skt. ṛddapāde
jñāna-sākṣātkriyābhijñā. Pāli: iddhi-vidhāya.
[74] Chứng thiên nhĩ trí 天 耳
智. Pāli: dibbāya sotadhātuyā cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, vị ấy
hướng tâm đến thiên nhĩ giới.
[75] Tha tâm trí 他 心 智, Pāli:
ceto-pariyaññāṇāya
[76] Hữu cấu vô cấu 有 垢 無 垢.
Pāli: sa-dosaṃvā... vīta-dosaṃ vā, có sân, hay không sân.
[77] Quảng tâm hiệp tâm 廣 心 狹
心. Pāli: saṃkhittaṃ vā cittaṃ... visakhittaṃ vā cittaṃ, tâm chuyên chú
hay tâm không chuyên chú.
[78] Tiểu tâm đại tâm 小 心 大
心. Pāli: mahaggataṃ vā cittaṃ... amahaggataṃ vā cittaṃ, tâm quảng đại
(đại hành tâm) hay không quảng đại (phi đại hành tâm).
[79] Túc mạng trí chứng 宿 命 智
證, hay túc trú tuỳ niệm trí 宿 住 隨 念 智. Pāli: pubbe-nivāsānussati-ñaṇa.
[80] Bản Pāli đề cập cả 6 mà
không phân thành thông通 (abhiñña, thắng trí) và minh明 (vijja). Trong bản
Hán, 3 trường hợp đầu là thông, 3 trường hợp sau là minh.
[81] Pāli: sattānaṃ
cutūpapāta-ñāṇa.
[82] Pāli: āsavānam
khaya-ñāṇa.
[83] Pāli: vimuttasmiṃ
vimuttam iti ñāṇaṃ hoti, trong sự giải thoát, biết rằng mình đã giải
thoát.
[84] Hán: nhi hành tứ phương
tiện 而 行 四 方 便. Pāli: cattāri apāya-mukhāni bhavanti, có bốn phương diện
tổn thất. Trong bản Hán, upāya (phương tiện) thay cho apāya (tổn thất)
trong bản Pāli.
[85] Hán: trì chước phụ lung
持 斫 負 籠. Pāli: kuddāla-piṭakaṃ ādāya, mang theo cuốc và giỏ. Trong bản
Pāli, đây là tổn thất thứ hai.
[86] Hán: thủ chấp tháo bình,
trì trượng toán thuật 手 執 澡 瓶 持 杖 算 術, Pāli: khāri-vividhaṃ ādāya, mang
dụng cụ của đạo sĩ.
[87] Bản Pāli, trường hơp thứ
ba: agyāgāraṃ karitvā aggiṃ paricaranto acchati, dựng Thánh hỏa đường và
thờ lửa.
[88] Pāli: cātummahāpathe
catudvāraṃ agāraṃ karitvā, dựng ngôi nhà có 4 cửa tại ngã tư đường.
[89] Danh sách các tiên nhơn
cổ đại: A-tra-ma 阿 吒 摩, Bà-ma 婆 摩, Bà-ma-đề-bà 婆 摩 提 婆, Tỉ-ba-mật-đa 鼻 波
密 多, Y-đâu-lại-tất 伊 兜 瀨 悉, Da-bà-đề-già 耶 婆 提 伽, Bà-bà bà-tất-tra 婆 婆 婆
悉 吒, Ca-diệp 迦 葉, A-lâu-na 阿 樓 那, Cù-đàm 瞿 曇, Thủ-di-bà 首 夷 婆, Tổn-đà-la
損 陀 羅. Danh sách trong bản Pāli: Aṭṭaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta,
Yamataggi, Aígirassa, Bharadvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu.
[90] Tham chiếu Pāli: Yad eva
kho tvaṃ Ambaṭṭha taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ āsajja āsajja avacāsi, atha
kho so bhavan Gotamo amhehi pi evaṃ upanīyya upanīyya, Ambattha, ngươi
càng nói lời công kích Tôn giả Cù-đàm, chúng ta càng bị Tôn giả Cù-đàm
buộc tội.
[91] Chỉ trường hợp Thánh giả
Bất hoàn tái sanh lên Tịnh cư thiên và nhập Niết-bàn tại đó.