長 阿 含 經
KINH TRƯỜNG A HÀM
Hán Dịch. Phật Ðà Da Xá
& Trúc Phật Niệm
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ
|
PHẦN III
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Câu-tát-la[2],
cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người du hành trong
nhân gian, đến phía Bắc xóm Bà-la-môn Khư-nậu-bà-đề[3]
ở Câu-tát-la, nghỉ đêm trong rừng Thi-xá-bà[4].
Bấy giờ, có Bà-la-môn tên Cứu-la-đàn-đầu đang nghỉ tại thôn
Khư-nậu-bà-đề. Xóm ấy sung túc, nhân dân đông đúc, vườn quán, ao tắm, cây
cối, trong xanh, tươi mát. Vua Ba-tư-nặcphong thôn ấy cho Bà-la-môn
Cứu-la-đàn-đầu làm phạm phần. Bà-la-môn này từ bảy đời trở lại cha mẹ đều
chơn chánh không bị người khinh nhờn, đọc tụng thông suốt ba bộ dị học, có
khả năng phân tích các loại kinh thư. Thế điển u vi, không thứ nào không
tổng luyện; lại giỏi phép xem tướng đại nhơn, dự đoán cát hung, tế tự nghi
lễ. Ông có năm trăm đệ tử, dạy dỗ không hề bỏ phế. Khi ấy, Bà-la-môn muốn
thiết lễ đại tế[5], chuẩn bị năm trăm
con bò đực, năm trăm con bò cái, năm trăm con bê đực, năm trăm con bê cái,
năm trăm con dê và năm trăm con cừu,[6]
để dâng cúng.
Lúc bấy giờ, các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ trong thôn Khư-nậu-bà-đề
nghe tin Sa-môn Cù-đàm, con trai dòng họ Thích, đã xuất gia và thành đạo, từ
nước Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, đến nghỉ ở rừng Thi-xá-bà. Ngài có
tiếng tăm lớn, lan truyền khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí chơn, Đẳng chánh
giác, mười hiệu đầy đủ, ở giữa chư Thiên, Người đời, Ma hoặc Ma thiên,
Sa-môn, Bà-la-môn. Mà tự thân chứng ngộ, rồi giảng pháp cho người, lời nói
khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối đều chơn chánh, đầy đủ nghĩa và vị,
phạm hạnh thanh tịnh. “Bậc chơn nhơn như vậy, nên đến thăm viếng. Nay chúng
ta hãy cùng đi thăm viếng Ngài”. Nói như vậy rồi, họ kéo nhau ra khỏi thôn
Khư-nậu-bà-đề, từng đoàn nối tiếp nhau, cùng đến chỗ Phật.
Khi ấy Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu đang ở trên lầu cao, từ xa trông thấy
từng đoàn người nối tiếp nhau, bèn quay lại hỏi người hầu:
“Những người kia do nhân duyên gì mà từng đoàn nối tiếp nhau, muốn đi đâu
vậy?”
Người hầu thưa:
“Tôi nghe đồn, Sa-môn Cù-đàm, con trai dòng họ Thích, đã xuất gia và
thành đạo, từ nước Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, đến nghỉ ở rừng
Thi-xá-bà. Ngài có tiếng tăm lớn, lan truyền khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí
chơn, Đẳng chánh giác, mười hiệu đầy đủ, ở giữa chư thiên, người đời, Ma
hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn. Mà tự thân chứng ngộ, rồi giảng thuyết
pháp cho người, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối đều chơn
chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Những người Bà-la-môn,
trưởng giả, cư sĩ trong thôn này, từng đoàn nối tiếp nhau, muốn đến thăm
viếng Sa-môn Cù-đàm vậy.”
Rồi Bà-la-môn Cưu-la-đàn-đầu liền ra lệnh cho người hầu rằng:
“Ngươi hãy nhanh chóng mang lời ta đến với các người ấy rằng: ‘Các khanh
hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ Cù-đàm kia’.”
Người hầu tức thì mang lời của Cứu-la-đàn-đầu đến nói với các người ấy
rằng: “Các người hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ
Cù-đàm kia”.
Lúc ấy, mọi người trả lời rằng:
“Ngươi hãy nhanh chóng trở về thưa với Bà-la-môn rằng, nay thật là phải
thời, nên cùng nhau đi.”
Người hầu trở về thưa:
“Những người ấy đã dừng rồi. Họ nói: nay thật là phải thời, nên cùng nhau
đi.”
Bà-la-môn liền xuống đài, đến đứng cửa giữa.
Bấy giờ có năm trăm Bà-la-môn khác đang ngồi bên ngoài cửa giữa, giúp
Cứu-la-đàn-đầu thiết lễ đại tự. Thấy Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu đến, thảy đều
đứng dậy nghinh đón, hỏi rằng:
“Đại Bà-la-môn, ngài muốn đi đâu đây?”
Cứu-la-đàn-đầu đáp:
“Có Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia và thành đạo, đang ở Câu
tát là, du hành trong nhân gian, đến rừng Thi-xá-bà, phía Bắc thôn
Khư-nậu-bà-đề. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí
chơn, Đẳng chánh giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa chư thiên, người đời, Ma
hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho
người[7], lời nói khoảng đầu, khoảng
giữa và khoảng cuối thảy đều chơn chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh
tịnh. Bậc chơn nhơn như vậy nên đến viếng thăm. Này các ngài Bà-la-môn, ta
lại nghe nói Cù-đàm biết ba loại tế tự[8],
mười sáu tư cụ tế tự[9]. Ta tuy là hàng
tiên học cựu thức trong chúng, nhưng có chỗ chưa biết rõ. Nay ta muốn cử
hành đại tế tự, bò và dê đã đủ. Ta muốn đến Cù-đàm để hỏi về ba pháp tế tự
và mười sáu tư cụ tế tự. Nếu chúng ta có được pháp tế tự rồi, công đức đầy
đủ, tiếng tăm sẽ đồn xa.”
Năm trăm người Bà-la-môn liền thưa với Cứu-la-đàn-đầu:
“Đại sư chớ đi. Vì sao? Kia nên đến đây chứ đây không nên đến kia. Đại sư
có bảy đời cha mẹ đều chơn chánh không bị dèm pha. Nếu đã có đủ yếu tố như
vậy, thì kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia. Lại nữa, Đại sư tụng
đọc thông suốt ba bộ sách dị học, có thể phân tích các loại kinh thư, thế
điển u vi, không thứ nào là không tổng luyện. Lại giỏi xem tướng đại nhân,
xem tướng tốt xấu, nghi lễ tế tự. Đã thành tựu những pháp ấy, thì kia nên
đến đây, chứ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại sư dung mạo đoan chánh, có sắc tướng của Phạm thiên[10].
Đã thành tựu pháp ấy thì kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại sư có giới đức tăng thượng[11],
trí tuệ thành tựu. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây không
nên đến kia.”
“Lại nữa, Đại sư có lời nói nhu hòa, biện tài đầy đủ, nghĩa và vị thanh
tịnh. Đã có đủ pháp ấy, thì kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại sư là vị dẫn đầu đại chúng, có đông đệ tử. Đã có đủ pháp
ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại sư thường dạy dỗ năm trăm Bà-la-môn. Đã thành tựu pháp ấy,
thì kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại sư có học giả bốn phương đến xin thọ giáo; được hỏi các kỹ
thuật, các pháp tế tự, thảy đều trả lời được cả. Đã thành tựu pháp ấy, thì
kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại sư được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa[12]
cung kính cúng dường. Đã thành tựu pháp ấy thì kia nên đến đây chớ đây không
nên đến kia.
“Lại nữa, Đại sư giàu có nhiều tài bảo, kho tàng đầy ắp. Đã thành tựu
pháp ấy thì kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại sư có trí tuệ sáng suốt, nói năng thông lợi, không hề khiếp
nhược. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia.
“Đại sư nếu đã đủ mười pháp như vậy, thì kia nên đến đây, chớ đây không
nên đến kia.
Cứu-la-đàn-đầu nói với các Bà-la-môn:
“Đúng vậy, đúng vậy. Đúng như điều các ông nói. Tôi thật có đủ các đức
ấy, chớ không phải không có. Nhưng các ông hãy nghe tôi nói. Sa-môn Cù-đàm
có công đức để chúng ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây. Sa-môn Cù-đàm
từ bảy đời trở lại cha mẹ đều chơn chánh không bị dèm pha. Kia đã thành tựu
pháp này, chúng ta nên đến kia, chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có dung mạo đoan chánh, xuất thân từ giai cấp
Sát-lợi. Đã thành tựu pháp này, chúng ta nên đến kia chớ kia không nên đến
đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàmsanh chỗ tôn quý, nhưng đã xuất gia hành đạo[13].
Thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sắc sáng đầy đủ[14],
chủng tánh chơn chánh, nhưng đã xuất gia tu đạo. Đã thành tựu pháp này, thì
ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sanh vào gia đình giàu có, có uy lực lớn, nhưng
đã xuất gia hành đạo. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không
nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có đủ giới Hiền Thánh, thành tựu trí tuệ. Đã
thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khéo léo nơi ngôn ngữ, dịu dàng hòa nhã. Đã thành
tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm là bậc Đạo sư của đại chúng, có đông đệ tử. Đã
thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm vĩnh viễn diệt trừ dục ái, không có sơ suất thô
tháo[15], ưu tư và sợ hãi đã trừ,
lông tóc không dựng đứng[16], hoan
hỷ, hòa vui; được người[17] khen
thiện, khéo nói quả báo của hành vi[18],
không chê bai đạo khác. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia
không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm thường được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa lễ kính
cúng dường. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia, chớ kia không nên đến
đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la[19]
lễ kính cúng dường; cũng được Bà-la-môn Phạm[20],
Bà-la-môn Đa-lị-gia[21], Bà-la-môn
Chủng Đức[22], Thủ-ca Ma-nạp Đô-da Tử[23]
thăm gặp cúng dường. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không
nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Thanh-văn đệ tử tôn thờ, lễ kính cúng dường;
cũng được chư thiên và các chúng quỷ thần khác cung kính. Các dòng họ
Thích-ca, Câu-lị, Minh-ninh, Bạt-kỳMạt-la, Tô-ma, thảy đều tôn thờ. Đã thành
tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến Ta.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao cho vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa ba
quy y và năm giới. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên
đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao ba quy năm giới cho Bà-la-môn
Phất-già-la-sa-la vân vân. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia
không nên đến đây.
“Lại nữa, đệ tử của Sa-môn Cù-đàm thọ ba quy năm giới; chư thiên, dòng họ
Thích, Câu-lị…, thảy đều thọ ba quy năm giới. Đã thành tựu pháp này, ta nên
đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi du hành được hết thảy mọi người cung kính
cúng dường. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những thành quách, thôn ấp mà Cù-đàm đã đến, không đâu là không
khuynh động, cung kính cúng dường[24].
Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, các loài phi nhân, quỷ thần
không dám xúc nhiễu. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên
đến đây.
“Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, nhân dân ở đó đều thấy ánh
sáng, nghe âm nhạc trời. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia
không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi muốn rời khỏi chỗ đã đến. Mọi người đều luyến
mộ, khóc lóc mà tiễn đưa. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia
không nên đến đây.
“Sa-môn Cù-đàm khi mới xuất gia, cha mẹ, tông thân, khóc lóc, thương nhớ
tiếc nuối. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến
ta.
“Sa-môn Cù-đàm xuất gia khi còn trai trẻ, dẹp bỏ các thứ trang sức, voi,
ngựa, xe báu, ngũ dục, anh lạc. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia
chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khước từ ngôi vị Chuyển luân vương, xuất gia hành
đạo. Nếu Ngài tại gia, sẽ trị vì bốn thiên hạ, thống lãnh dân vật, thì chúng
ta đều là thần thuộc. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không
nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm hiểu rõ Phạm pháp, có thể nói cho người khác, và
cũng nói chuyện trao đổi với Phạm thiên. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên
đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm đầy đủ cả ba mươi hai tướng. Đã thành tựu pháp
này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có trí tuệ thông suốt, không có khiếp nhược. Đã
thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Cù-đàm kia nay đến thôn Khư-nậu-bà-đề này, đối với ta là tôn quý, vả lại
là khách. Ta nên thân hành đến thăm viếng.”
Năm trăm Bà-la-môn khi ấy thưa với Cứu-la-đàn-đầurằng:
“Kỳ diệu thay, hy hữu thay, công đức của vị kia đến như vậy chăng? Trong
các đức, giả sử Cù-đàm chỉ cần có một đức là đã không nên đến đây rồi, huống
hồ nay gồm đủ cả. Vậy ta hãy kéo hết đi thăm hỏi.”
Cứu-la-đàn-đầu đáp:
“Các ngươi muốn đi thì nên biết thời.”
Rồi Bà-la-môn liền thắng cỗ xe báu, cùng với năm trăm Bà-la-môn và các
Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ ở Khư-nậu-bà-đề, trước sau vây quanh, đi đến
rừng Thi-xá-bà. Đến nơi, xuống xe, đi bộ, tiến đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi
xong, ngồi xuống một bên. Trong lúc ấy, trong số các Bà-la-môn, trưởng giả,
cư sĩ, có người lễ Phật rồi ngồi xuống; có người chào hỏi xong rồi ngồi
xuống; có người chỉ xưng tên rồi ngồi xuống; có người chắp tay hướng về Phật
rồi ngồi xuống; có người im lặng ngồi xuống. Khi mọi người ngồi yên chỗ,
Cứu-la-đàn-đầu bạch Phật rằng:
“Tôi có điều muốn hỏi. Nếu Ngài có rỗi, cho phép, tôi mới dám hỏi.
Phật nói:
“Xin cứ hỏi tùy ý.”
Bà-la-môn bạch Phật:
“Tôi nghe nói Cù-đàm thông hiểu ba loại tế tự và mười sáu tư cụ tế tự, là
những điều mà chúng tôi, tiên túc kỳ cựu, không hiểu biết. Nay chúng tôi
muốn cử hành đại tế tự; đã chuẩn bị đủ năm trăm bò đực, năm trăm bò cái, năm
trăm bê đực, năm trăm bê cái, năm trăm con dê, năm trăm con cừu. Hôm nay cố
ý đến đây, tôi muốn hỏi ba pháp tế tự và mười sáu tế cụ. Nếu tế tự này mà
được thành tựu, sẽ được quả báo lớn, tiếng tăm đồn xa, được trời và người
kính trọng.”
Bấy giờ, Thế Tôn nói với Cứu-la-đàn-đầu rằng:
“Nay ông hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ, tôi sẽ giảng
thuyết cho.”
Bà-la-môn nói:
“Xin vâng, thưa Cù-đàm, tôi rất muốn nghe.”
Rồi Phật nói với Cứu-la-đàn-đầu:
“Vào một thời quá khứ xa xưa, có vị vua Quán đảnh thuộc dòng Sát-lợi[25],
muốn thiết lễ đại tự, tập họp đại thần Bà-la-môn[26]
đến bảo rằng:
Ta nay rất giàu có, tài bảo dồi dào, ngũ dục thỏa mãn. Tuổi ta đã già
yếu. Dân chúng cường thịnh, không có sự khiếp nhược. Kho tàng đầy ắp. Nay ta
muốn thiết lễ đại tự. Theo các ngươi, pháp tế tự cần những gì?”
Khi ấy, có vị đại thần kia tâu vua rằng:
“Tâu Đại vương, quả như lời Đại vương, nước giàu, binh mạnh, kho tàng đầy
ắp. Nhưng dân chúng phần nhiều ôm ác tâm, tập các phi pháp. Nếu tế tự vào
lúc này thì không thành phép tế tự. Như sai ăn cướp đuổi ăn cướp, thì sự sai
khiến chẳng thành.
“Tâu Đại vương, chớ nghĩ rằng, đây là dân của ta; ta có thể đánh, có thể
giết, có thể khiển trách, có thể ngăn cấm. Những kẻ gần gũi vua, nên cung
cấp chúng những thứ cần yếu. Những người buôn bán, nên cung cấp chúng tài
bảo. Nhưng người chuyên tu điền sản, hãy cung cấp chúng bò, bê, hạt giống.
Chúng mỗi người tự mình kinh doanh. Vương không bức bách dân, thì dân được
an ổn, nuôi nấng con cháu, cùng nhau vui đùa.”
Phật lại nói với Cứu-la-đàn-đầu:
“Rồi thì, sau khi nghe lời của các đại thần, vua liền cung cấp y phục ẩm
thực cho những người thân cận, tài bảo cho những người buôn bán, trâu bò,
thóc giống cho những người làm ruộng. Bấy giờ nhân dân mỗi người tự lo công
việc của mình, không xâm hại nhau, nuôi nấng con cháu, cùng nhau vui đùa.”
Phật lại nói:
“Sau đó, vua lại triệu quần thần đến bảo rằng: ‘Ta nước giàu, binh mạnh,
kho tàng đầy ắp. Ta cung cấp cho nhân dân không thiếu thốn cái gì. Chúng
nuôi dưỡng con cháu, cùng nhau vui đùa. Nay ta muốn thiết lễ đại tự. Theo
các ngươi, phép tế tự cần có những gì?”
“Các đại thần tâu:
“Đúng vậy, đúng vậy, như lời Đại vương nói, ‘Nước giàu, binh mạnh, kho
tàng đầy ắp. Ta cung cấp cho nhân dân không thiếu thốn cái gì. Chúng nuôi
dưỡng con cháu, cùng nhau vui đùa.’ Nếu Đại vương muốn tế tự, có thể truyền
lệnh cho cung nội biết.
“Vua làm như lời các đại thần; vào truyền lệnh cung nội: ‘Ta nước giàu,
binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Ta cung cấp cho nhân dân không thiếu thốn cái
gì. Chúng nuôi dưỡng con cháu, cùng nhau vui đùa. Nay ta muốn thiết lễ đại
tự.’
“Các phu nhân liền tâu vua:
“Đúng vậy, đúng vậy, như lời Đại vương, nước giàu binh mạnh, kho tàng đầy
ắp, tài bảo dồi dào. Nếu muốn tế tự, nay thật đúng lúc.
Vua trở ra, báo cho quần thần biết:
“Ta nước giàu, binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Ta cung cấp cho nhân dân không
thiếu thốn cái gì. Chúng nuôi dưỡng con cháu, cùng nhau vui đùa. Nay ta muốn
thiết lễ đại tự. Ta đã truyền lệnh cung nội. Các ngươi hãy nói hết cho ta,
cần có những thứ gì?
“Bấy giờ, các đại thần liền tâu vua rằng:
“Đúng vậy, đúng vậy, như lời Đại vương nói. Đại vương muốn tế tự. Đã
truyền cho nội cung biết, nhưng chưa nói cho Thái tử, hoàng tử, đại thần,
tướng sĩ biết[27]. Đại vương nên lệnh
truyền cho biết.
“Vua nghe lời các đại thần, bèn truyền lệnh cho Thái tử, hoàng tử, đại
thần, tướng sĩ rằng:
“Ta nước giàu binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Nay ta muốn thiết lễ đại tự.
“Khi ấy, Thái tử, hoàng tử, quần thần và các tướng sĩ, tâu vua rằng:
“Đúng vậy, đúng vậy, như lời Đại vương, nước giàu binh mạnh, kho tàng đầy
ắp, tài bảo dồi dào. Nếu muốn tế tự, nay thật đúng lúc.
“Vua lại báo cho quần thần biết:
“Ta nước giàu, binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Tài bảo dồi dào. Nay ta muốn
thiết lễ đại tự. Ta đã truyền lệnh cung nội, Thái tử, hoàng tử, cho đến
tướng sĩ. Nay muốn thiết lễ đại tự, cần có những thứ gì?
Các đại thần liền tâu:
“Như lời Đại vương. Muốn thiết lễ đại tự, nay chính là lúc.
“Vua nghe lời, cho dựng những ngôi nhà mới ở thành Đông. Vua đi vào nhà
mới. Mình khoác áo da hươu, thoa mình bằng dầu bơ thơm, lại đội sừng hươu
lên đầu. Sai trét phân bò lên đất, rồi ngồi nằm trên đó. Rồi đệ nhất phu
nhân, đại thần Bà-la-môn, chọn một con bò cái màu vàng. Một phần sữa để vua
ăn; một phần sữa để cho phu nhân ăn; một phần sữa để cho đại thần ăn; một
phần sữa cúng dường đại chúng, còn lại cho bê. Bấy giờ, nhà vua thành tựu
tám pháp, đại thần thành tựu bốn pháp.
“Những gì là tám pháp nhà vua thành tựu?
“Nhà vua thuộc dòng Sát-lợi, từ bảy đời trở lại cha mẹ đều chơn chánh,
không bị người khinh chê. Đó là thành tựu pháp thứ nhất. Nhà vua thuộc dòng
tộc Sát-lợi, có dung mạo đoan chánh. Đó là pháp thứ hai.
“Nhà vua có giới đức tăng thạnh, trí tuệ đầy đủ. Đó là pháp thứ ba. Nhà
vua tập đủ các loại kỹ thuật: cưỡi voi, xe ngựa, đao mâu, cung tên, phương
pháp chiến đấu; không thứ nào là không biết. Đó là pháp thứ tư. Nhà vua có
uy lực lớn, thâu nhiếp các tiểu vương; không ai không thần phục. Đó là pháp
thứ năm. Nhà vua khéo léo về ngôn ngữ, lời nói dịu dàng, đầy đủ nghĩa và vị.
Đó là pháp thứ sáu. Nhà vua có tài bảo dồi dào, kho tàng đầy ắp. Đó là pháp
thứ bảy. Nhà vua có trí mưu, dũng mãnh, quả cảm, không hề run sợ. Đó là pháp
thứ tám.[28] Nhà vua thuộc dòng
Sát-lợi kia thành tựu tám pháp này.
“Thế nào là đại thần[29] thành tựu
bốn pháp? Đại thần Bà-la-môn kia từ bảy đời nay cha mẹ đều chơn chánh không
bị người khinh chê; đó là pháp thứ nhất. Đại thần đọc tụng thông suốt ba bộ
dị học, có khả năng phân tích các loại kinh thư; thế điển u vi, không thứ
nào không tổng luyện; lại giỏi phép xem tướng đại nhân, dự đóan tốt xấu, tế
tự nghi lễ; đó là pháp thứ hai. Lại nữa, đại thần giỏi về ngôn ngữ, lời nói
dịu dàng, nghĩa vị đầy đủ; đó là pháp thứ ba. Lại nữa, đại thần có trí mưu,
dũng cảm, quả quyết, không hề run sợ; thấu hiểu tất cả mọi pháp tế tự; đó là
pháp thứ tư.[30]
“Bấy giờ, vua thành tựu tám pháp; đại thần Bà-la-môn thành tựu bốn pháp;
và vua có đủ bốn viện trợ. Đó là, ba pháp tế tự, với mười sáu tư cụ tế tự.
“Bấy giờ, đại thần Bà-la-môn ở nơi ngôn nhà mới mở bày tâm ý của vua bằng
mười sáu việc, dứt trừ ý tưởng nghi ngờ của vua. Mười sáu việc ấy là gì? Đại
thần tâu vua:
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng từ bảy đời
trở lại cha mẹ vua không chơn chánh, thường bị người khinh chê. Giả sử có
lời ấy, Đại vương vẫn không bị ô uế. Vì sao? Đại vương từ bảy đời nay cha mẹ
đều chơn chánh.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng dung mạo
xấu xí, không thuộc dòng dõi Sát-lợi. Giả sử có lời ấy, Đại vương vẫn không
bị ô uế. Vì sao? Đại vương có dung mạo đoan chánh, thuộc dòng dõi Sát-lợi.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không có
giới tăng thượng, trí tuệ không đầy đủ. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn
không bị ô uế. Vì sao? Đại vương giới đức tăng thượng, trí tuệ đầy đủ.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không giỏi
các thuật: cỡi voi, xe ngựa, các thứ binh pháp cũng không biết. Giả sử có
lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô uế. Vì sao? Đại vương giỏi các kỹ
thuật, binh pháp chiến trận, không thứ nào không biết
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không có
uy lực lớn để thống nhiếp các tiểu vương. Giả sử có lời như vậy, Đại vương
vẫn không bị ô uế. Vì sao? Đại vương có uy lực lớn, thống nhiếp các tiểu
vương.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không giỏi
ngôn ngữ; lời nói thô lỗ, không đủ nghĩa vị. Giả sử có lời như vậy, Đại
vương vẫn không bị ô uế. Vì sao? Đại vương giỏi ngôn ngữ, lời nói dịu dàng,
đầy đủ nghĩa và vị.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không có
nhiều tài bảo. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô uế. Vì sao?
Đại vương có nhiều tài bảo, kho lẫm tràn đầy.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không có
trí mưu, ý chí khiếp nhược. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô
uế. Vì sao? Đại vương có trí mưu, dũng mãnh và quả cảm, không hề khiếp
nhược.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không nói
với nội cung. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô uế. Vì sao?
Đại vương muốn tế tự, trước đã nói cho nội cung.
“Hoặc có người nói, nay vua sát lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không nói
với Thái tử và các hoàng tử. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô
uế. Vì sao? Đại vương muốn tế tự, trước đã nói với Thái tử và các hoàng tử.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không nói
với quần thần. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô uế. Vì sao?
Đại vương muốn tế tự, trước đã nói với quần thần.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng không nói
với tướng sĩ. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô uế. Vì sao?
Đại vương muốn tế tự, trước đã nói với tướng sĩ.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng Bà-la-môn
đại thần từ bảy đời trở lại cha mẹ không chơn chánh, bị người khinh chê. Giả
sử có lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô uế. Vì sao? Tôi bảy đời trở lại
cha mẹ chơn chánh, không bị người khinh chê.
“Hoặc có người nói, nay vua sát lợi muốn cử hành đại tự, nhưng Bà-la-môn
đại thần không đọc tụng thông suốt ba bộ dị học, không có khả năng phân tích
các thứ kinh thư, thế điển u vi không hề lão luyện, không giỏi phép xem
tướng đại nhân, dự đoán cát hung, tế tự nghi lễ. Giả sử có lời như vậy, Đại
vương vẫn không bị ô uế. Vì sao? Tôi đọc tụng thông suốt ba bộ dị học, có
khả năng phân tích các thứ kinh thư, thế điển u vi không thứ nào không lão
luyện, lại giỏi phép xem tướng đại nhân, dự đoán cát hung, tế tự nghi lễ.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng Bà-la-môn
đại thần không giỏi ngôn ngữ; nói năng thô lỗ, nghĩa vị không đủ. Giả sử có
lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô uế. Vì sao? Tôi khéo léo nơi ngôn ngữ;
nói năng dịu dàng, đầy đủ nghĩa và vị.
“Hoặc có người nói, nay vua Sát-lợi muốn cử hành đại tự, nhưng Bà-la-môn
đại thần không đủ mưu trí, ý chí khiếp nhược, không hiểu rõ phép tế tự. Giả
sử có lời như vậy, Đại vương vẫn không bị ô uế. Vì sao? Tôi đủ mưu trí, ý
chí không khiếp nhược, không phép tế tự nào mà không hiểu rõ.”
Phật bảo Cứu-la-đàn-đầu:
“Nhà vua có mười sáu chỗ ngờ vực, mà đại thần kia cởi mở ý vua bằng mười
sáu việc như thế.”
Rồi Phật nói tiếp:
“Bấy giờ, vị đại thần ở nơi ngôi nhà mới, bằng mười sự hành,[31]
chỉ bày, khuyến khích, khiến cho được ích lợi, hoan hỷ cho nhà vua. Những gì
là mười?
“Vị đại thần nói: Khi Đại vương tế tự, những kẻ sát sanh hay những kẻ
không sát sanh cùng tụ hội đến. Hãy bố thí cho họ một cách bình đẳng. Nếu có
những kẻ sát sanh đến, cũng bố thí cho, và kia sẽ tự biết lấy. Kẻ không sát
sanh đến, cũng bố thí cho, vì lý do ấy mà bố thí; bố thí với tâm như vậy.[32]
Nếu có những kẻ trộm cắp, tà dâm, hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, ỷ ngữ, tham
lam, tật đố, tà kiến, cùng tụ hội đến, hãy bố thí cho họ. Kia sẽ tự biết
lấy. Nếu những kẻ không trộm cắp, cho đến, có chánh kiến, cùng đến, cũng hãy
bố thí cho họ, vì sự ấy mà bố thí, bố thí với tâm như vậy.
Phật lại nói với Bà-la-môn:
“Vị đại thần kia, bằng mười sự hành này, chỉ bày, khuyến khích, khiến cho
được lợi ích, hoan hỷ.”
“Rồi thì, vua Sát-lợi kia ở nơi ngôi nhà mới sanh ba tâm hối tiếc. Vị đại
thần khiến cho được dứt trừ. Ba tâm hối là gì?
“Nhà vua sanh tâm hối tiếc rằng: Ta nay tổ chức đại tự, đã làm đại tự, sẽ
làm đại tự, đang làm đại tự. Tốn nhiều tài bảo. Đại thần tâu vua: Đại vương
đã tổ chức đại tự, đã bố thí, sẽ bố thí, đang bố thí. Không nên sanh hối
tiếc đối với tế tự có phước này.
“Như thế, nhà vua khi ở ngôi nhà mới có ba sự hối tiếc, đã được đại thần
dứt trừ.”
Phật lại nói với Bà-la-môn:
“Bấy giờ, vua Quán đảnh dòng Sát-lợi, vào ngày 15, khi trăng tròn, ra
khỏi ngôi nhà mới, tại khoảng đất trống trước nhà, đốt lên một đống lửa lớn.
Tay vua cầm bình dầu rót lên ngọn lửa, xướng lên rằng: ‘Hãy cho! Hãy cho!’[33]
“Khi ấy phu nhân của vua hay tin nhà vua, vào ngày 15 trăng tròn, ra khỏi
nhà mới, tại khoảng đất trống trước nhà, đốt lên một đống lửa lớn, tay cầm
bình dầu rót lên ngọn lửa, xướng lên rằng: ‘Hãy cho! Hãy cho!’. Bà cùng với
thể nữ cầm nhiều tài bảo, đi đến chỗ vua, tâu vua rằng:
“Các tạp bảo này, giúp Đại vương làm tế tự.
“Này Bà-la-môn, nhà vua liền nói với phu nhân và thể nữ rằng:
“Thôi, đủ rồi. Các ngươi như thế là đã cúng dường rồi. Ta có sẵn tài bảo
riêng mình, đủ để tế tự.’
“Phu nhân và các thể nữ suy nghĩ: ‘Chúng ta không nên mang các bảo vật
này trở về nội cung. Nếu khi đức vua thiết lễ đại tự ở phương Đông, chúng ta
sẽ dùng để hỗ trợ.
“Này Bà-la-môn, sau đó nhà vua ở phương Đông thiết lễ đại tự, khi ấy phu
nhân và các thể nữ liền đem các bảo vật ấy trợ giúp thiết lễ đại tự.
“Bấy giờ, Thái tử, hoàng tử, hay tin nhà vua, vào ngày 15 trăng tròn, ra
khỏi nhà mới, tại khoảng đất trống trước nhà, đốt lên một đống lửa lớn, tay
cầm bình dầu rót lên ngọn lửa, xướng lên rằng: ‘Hãy cho! Hãy cho!’ Thái tử,
hoàng tử cầm nhiều tài bảo, đi đến chỗ vua, tâu vua rằng:
“Các tạp bảo này, giúp Đại vương làm tế tự.
“Này Bà-la-môn, nhà vua liền nói với Thái tử và hoàng tử.
“Thôi, đủ rồi. Các ngươi như thế là đã cúng dường rồi. Ta có sẵn tài bảo
riêng mình, đủ để tế tự.
“Thái tử, hoàng tử suy nghĩ: ‘Chúng ta không nên mang các bảo vật này trở
về. Nếu khi đức vua thiết lễ đại tựï ở phương Nam, chúng ta sẽ dùng để hỗ
trợ.’
“Này Bà-la-môn, sau đó nhà vua ở phương thiết lễ đại tự, khi ấy Thái tử,
hoàng tử liền đem các bảo vật ấy trợ giúp thiết lễ đại tự.
“Cũng vậy, đại thần cầm tài bảo đến, hỗ trợ vua tế tự ở phương Tây. Tướng
sĩ cầm tài bảo đến hỗ trợ vua tế tự ở phương Bắc[34].”
Phật lại nói với Bà-la-môn:
“Nhà vua kia khi cử hành đại tự không giết bò, dê và các chúng sanh; chỉ
dùng bơ, sữa, dầu mè, mật, đường đen[35],
đường thẻ để tế tự.”
Phật lại nói với Bà-la-môn:
“Vua Sát-lợi kia khi cử hành đại tự, khoảng đầu hoan hỷ, khoảng giữa hoan
hỷ, khoảng cuối hoan hỷ. Đó là phép tổ chức tế tự.”
Phật lại nói với Bà-la-môn[36]:
“Vua Sát-lợi kia, sau khi cử hành đại tự, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y,
xuất gia hành đạo, tu bốn vô lượng tâm. Khi thân hoại mạng chung, sanh lên
cõi Phạm thiên.
“Phu nhân của vua, sau khi cử hành đại tự, cũng cạo tóc, bận ba pháp y,
xuất gia hành đạo, hành bốn phạm hạnh. Khi thân hoại mạng chung, sanh lên
cõi Phạm thiên.
“Đại thần Bà-la-môn sau khi chỉ dẫn vua tế tự bốn phương, cũng tổ chức
đại thí, sau đó cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia hành đạo, hành bốn
phạm hạnh. Khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi Phạm thiên.”
Phật lại nói với Bà-la-môn:
“Bấy giờ, nhà vua bằng ba pháp tế tự, mười sáu tư cụ tế tự, đã tổ chức
thành công đại tự. Ý ông nghĩ sao?”
Cứu-la-đàn-đầu nghe Phật nói, im lặng không trả lời. Lúc ấy, năm trăm
Bà-la-môn hỏi Cứu-la-đàn-đầu:
“Những điều Sa-môn Cù-đàm nói thật vi diệu, sao Đại sư im lặng không trả
lời?”
Cứu-la-đàn-đầu đáp:
“Những điều Sa-môn Cù-đàm nói thật là vi diệu. Không phải tôi không thừa
nhận. Lý do mà tôi im lặng, là vì có điều suy nghĩ. Sa-môn Cù-đàm nói sự
việc này, không nói là nghe từ người khác. Tôi thầm nghĩ: Há Sa-môn Cù-đàm
không phải là vua Sát-lợi kia chăng? Hoặc giả là vị đại thần ba-la-môn kia
chăng?”
Bấy giờ Thế Tôn nói với Cứu-la-đàn-đầu:
“Lành thay, lành thay. Ngươi quán sát Như Lai, thật sự là thích hợp. Vua
Sát-lợi cử hành đại tự lúc ấy há phải là ai khác chăng? Chớ nhận xét như
thế. Người ấy chính bản thân Ta vậy. Ta lúc bấy giờ đã huệ thí rất lớn.”
Cứu-la-đàn-đầu bạch Phật rằng:
“Chừng ấy thôi, ba loại tế tự và mười sáu tư cụ tế tự, là được quả báo
lớn, hay còn có cái gì[37] hơn thế
nữa không?”
Phật nói: “Có”.
Hỏi: “Đó là cái gì?”
Phật nói:
“So với ba tế tự và mười sáu tế cụ, nếu thường cúng dường chúng Tăng,
không để gián đoạn, công đức còn hơn nhiều.”
Lại hỏi:
“So với ba tế tự và mười sáu tế cụ, nếu thường cúng dường chúng tăng,
không để gián đoạn, do thế công đức tối thắng. Nhưng còn có cái tối thắng
nữa không?”
Phật nói: “Có”.
Lại hỏi: “Đó là cái gì?”
Phật nói:
“Nếu bằng ba tế tự và mười sáu tế cụ, và thường cúng dường chúng Tăng
không để gián đoạn, chẳng bằng vì chiêu-đề tăng[38]
mà dựng tăng phòng, nhà cửa, lầu gác. Thí ấy tối thắng.”
Lại hỏi:
“Bằng ba tế tự và mười sáu tế cụ, và thường cúng dường chúng tăng không
để gián đoạn, và vì chiêu đề tăng mà dựng tăng phòng, nhà cửa, lầu gác;
phước ấy tối thắng. Những có cái gì hơn thế chăng?”
Phật nói: “Có”.
Lại hỏi:
“Đó là cái gì?”
Phật nói:
“Nếu bằng ba tế tự và mười sáu tế cụ, và thường cúng dường chúng tăng
không để gián đoạn, và vì chiêu đề tăng mà dựng tăng phòng, nhà cửa, lầu
gác; chẳng bằng khởi tâm hoan hỷ, miệng tự phát thành lời rằng: Tôi quy y
Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Phước này tối thắng.”
Lại hỏi:
“Chừng ấy ba pháp quy y được quả báo lớn, hay còn có cái gì hơn nữa?”
Phật nói: “Có”.
Hỏi: “Đó là cái gì?”
Phật nói:
“Nếu với tâm hoan hỷ thọ và hành năm giới, suốt đời không giết, không
trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu; phước này tối thắng.”
Lại hỏi: “Chừng ấy ba pháp tế tự (...), cho đến năm giới, được quả báo
lớn hay còn có cái gì hơn nữa?”
Phật nói: “Có”.
Lại hỏi: “Đó là cái gì?”
Phật nói:
“Nếu có thể bằng từ tâm nhớ nghĩ chúng sanh bằng khoảnh khắc vắt sữa bò;
phước ấy tối thắng.”
Lại hỏi: “Chừng ấy ba pháp tế tự, cho đến từ tâm, được quả báo lớn, hay
còn có cái gì hơn nữa?”
Phật nói: “Có”.
Lại hỏi: “Đó là cái gì?”
Phật nói:
“Nếu Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh giác xuất hiện ở đời, có người theo
Phật pháp xuất gia tu đạo, mọi đức đều hoàn bị, cho đến, đầy đủ ba minh,
diệt các sự tối tăm, đầy đủ tuệ minh. Vì sao? Vì không buông lung, ưa sống
nơi thanh vắng; phước này tối thắng.”
Cứu-la-đàn-đầu bạch Phật:
“Thưa Cù-đàm! Tôi vì tế tự mà chuẩn bị bò, dê mỗi thứ năm trăm con. Nay
sẽ thả hết, mặc chúng tùy ý đi tìm cỏ, nước. Tôi nay quy y Phật, quy y Pháp,
quy y Tăng, xin nhận tôi làm ưu-bà-tắc trong chánh pháp. Từ nay về sau, cho
đến hết đời, không giết, không trộm, không tà dâm, không dối, không uống
rượu. Cúi mong Thế Tôn cùng đại chúng nhận lời mời sáng mai của tôi.”
Bấy giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời.
Bà-la-môn thấy Phật im lặng nhận lời, liền đứng dậy lễ Phật, đi quanh ba
vòng, rồi lui ra.
Trở về nhà, ông sửa soạn đủ các loại hào soạn. Sáng hôm sau, khi đến
thời, Thế Tôn khoác y, cầm bát, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm
năm mươi người, đi đến nhà Bà-la-môn, ngồi trên chỗ dọn sẵn. Khi ấy
Bà-la-môn tự tay châm chước, cúng Phật và Tăng. Ăn xong, thâu y bát, dùng
nước rửa xong, Phật đọc cho Bà-la-môn nghe một bài tụng:
Tế tự, lửa là nhất.
Đọc tụng, thơ là nhất.
Loài người, vua là nhất.
Các sông, biển là nhất.
Các sao, trăng là nhất.
Ánh sáng, mặt trời nhất.
Trên, dưới và bốn phương,
Phàm sanh vật hiện hữu,
Chư thiên và người đời,
Duy Phật là tối thượng.
Ai muốn cầu đại phúc,
Hãy cúng dường Tam bảo.
Bấy giờ Cứu-la-đàn-đầu lấy một cái ghế nhỏ ngồi trước Phật. Thế Tôn
thuyết pháp cho ông theo thứ tự, chỉ bày, khuyến khích, khiến được lợi ích,
hoan hỷ. Ngài nói về thí, về giới, về sanh thiên; nói dục là tai họa, phiền
não là chướng ngại[39], xuất ly là
tối thượng, phân bố, hiển thị các hạnh thanh tịnh.
Rồi Thế Tôn quán sát Bà-la-môn, ý chí đã mềm dịu, ấm cái đã vơi nhẹ[40],
dễ được điều phục. Như thường pháp của chư Phật, Ngài giảng thuyết cho ông
về khổ thánh đế, phân biệt hiển thị, thuyết tập thánh đế, tập diệt thánh đế.
Cứu-la-đàn-đầu ngay trên chỗ ngồi mà xa lìa trần cấu, đắc pháp nhãn tịnh.
Cũng như tấm lụa trắng rất dễ nhuộm màu. Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu cũng vậy,
thấy pháp, đắc pháp, thành tựu đạo quả, quyết định an trú, tự tín không do
ai, đắc vô sở úy[41], bèn bạch Phật
rằng:
“Nay con ba lần xin quy y Phật, Pháp, Thánh chúng. Nguyện Phật chấp thuận
con là một ưu-bà-tắc ở trong Chánh pháp. Từ nay về sau, cho đến trọn đời,
không giết, không trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu.”
Rồi lại bạch Phật tiếp rằng:
“Cúi mong Thế Tôn nhận lời mời của con trong bảy ngày.”
Thế Tôn khi ấy im lặng nhận lời.
Trong bảy ngày ấy, Bà-la-môn tự tay châm chước, cúng Phật và Tăng. Qua
bảy ngày, Thế Tôn du hành trong nhân gian.
Phật đi chưa bao lâu, Cứu-la-đàn-đầu mắc bịnh mà mạng chung. Khi ấy, số
đông Tỳ-kheo nghe tin Cứu-la-đàn-đầu sau khi cúng dường Phật bảy ngày, và
khi Phật đi chưa lâu, ông lâm bịnh mà mạng chung. Các Tỳ-kheo này bèn nghĩ
thầm rằng: “Người kia nay mạng chung, sẽ sanh về đâu?” Rồi các Tỳ-kheo đi
đến chỗ Phật, lễ dưới chân Phật xong, ngồi xuống một bên, bạch Phật rằng:
“Cứu-la-đàn-đầu nay mạng chung, sẽ sanh về đâu?”
Phật nói với các Tỳ-kheo:
“Người ấy tịnh tu phạm hạnh, thành tựu pháp và tùy pháp, và cũng không bị
xúc nhiễu bởi pháp[42], do đã đoạn
trừ năm hạ phần kết, hiện bát Niết-bàn ở nơi kia, không trở lại cõi này nữa[43].”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[1] Bản Hán, Trường A-hàm,
quyển 15, “Đệ tam phần, Cứu-la-đàn-đầu kinh đệ tứ.” Tương đương Pāli, D.
5, Dig i. 5 Kūṭadanta-sutta.
[2] Câu-tát-la 俱 薩 羅 (Pāli:
Kosala), trong bản Pāli: Phật tại Magadha, cùng với chúng Tỳ-kheo năm
trăm người.
[3] Câu-tát-la
Khư-nậu-bà-đề-Bà-la-môn thôn 俱 薩 羅 佉 [少/兔] 婆 提 婆 羅 門 村. Pāli: Khānumataṃ
nāma Magadhānaṃ Brāhmaṇa-gamo, một làng Bà-la-môn ở Magadha tên là
Khānu-ma-ta.
[4] Thi-xá-bà 尸 舍 婆 (Pāli:
Siṃsapa). Pāli, sđd.: Khānumate... Ambalaṭṭhikāyaṃ, trong rừng cây
Ambalatthika ở Khānumata.
[5] Đại tự 大 祀, Pāli:
Mahā-yañña, đại lễ hiến tế sinh vật lớn nhất của Bà-la-môn giáo. Xem mô
tả đoạn dưới.
[6] Đặc ngưu 特 牛, Pāli: usabha,
bò đực; đặc độc 特 犢, Pāli: vacchatara, bê đực; tự độc 牸 犢, Pāli:
vacchatari, bê cái; cổ dương 羖 羊, Pāli: urabbha, dê đực; yết dương 羯 羊,
Pāli: aja, sơn dương đực. Mỗi thứ bảy trăm con, theo bản Pāli.
[7] Xem cht. 15 kinh số 20
“A-ma-trú.”
[8] Tam chủng tế tự 三 種 祭 祀
(Pāli: tividha-yañña-sampadam): tế ngựa, tế bò, tế dê; hoặc như kinh
giải thích đoạn sau.
[9] Thập lục tự cụ 十 六 祀 具,
Pāli: soḷasa-parikkhāram, sẽ được kể sau.
[10] Hán: hữu Phạm thiên sắc
tượng 有 梵 天 色 像; Pāli: brahma-vaṇṇī brahma-vaccasī: có dung sắc như Phạm
thiên, uy nghi như Phạm thiên.
[11] Giới đức tăng thượng 戒 德
增 上; Pāli: vuddha-sīlā, đạo đức được trọng vọng.
[12] Ba-tư-nặc 波 斯 匿, Pāli:
Pasenadi. Bình-sa 瓶 沙, Pāli: Bimbi.
[13] Pāli: mahantaṃ
ñati-saṅgaṃ ohāya pabbajito, xuất gia, lìa bỏ gia đình quyến thuộc lớn.
[14] Hán; quang minh cụ túc 光
明 具 足; kinh Chủng đức: quang sắc cụ túc 光 色 具 足.
[15] Hán: vĩnh diệt dục ái,
vô hữu tốt bạo 永 滅 欲 愛 無 有 卒 暴. Pāli: khīṇa-kāma-rāgovigata-cāpallo, đã
diệt ái dục, không còn tháo động.
[16] Hán: y mao bất thu 衣 毛 不
豎.
[17] Kiến nhơn 見 人,
Tống-Nguyên-Minh: nhơn kiến 人 見.
[18] Hán: kiến nhân xưng
thiện, thiện thuyết hành báo 見 人 稱 善 善 說 行 報. Tham chiếu Pāli:
kamma-vādī kiriya-vādī, là người chủ trương về nghiệp, chủ trương về
hành vi.
[19] Phất-già-la-sa-la, Pāli:
Pokkharasādi, xem kinh số 20 “A-ma-trú.”
[20] Phạm Bà-la-môn (?).
[21] Đa-lị-giá 多 利 遮, Pāli:
Tārukkha.
[22] Chủng Đức, Pāli:
Soṇadanda, xem kinh số 22 “Chủng Đức.” Trong kinh Chủng đức, Bà-la-môn
này được thay bằng Cư sĩ, Pāli: Kuṭadanta.
[23] Thủ-ca Ma-nạp Đô-da Tử,
Pāli: Sukhamāṇava-Toddeyaputta.
[24] Hán: vô bất khuynh động
cung kính cúng dường 無 不 頃 動 恭 敬 供 養. Kinh Chủng đức dịch hơi khác: vị
nhơn cúng dường, 為 人 供 養 (những địa điểm mà Phật từng đến) được người
cúng dường.
[25] Hán: Sát lị vương thủy
nhiễu đầu chủng 剎 利 王 水 繞 頭 種, vua được truyền ngôi, khi đăng quang được
rưới nước lên đầu, khác với vua tự lập, như Chuyển luân vương. Pāli cho
biết tên vua: rājā Mahā-vijito nāma ahosi, có ông vua tên Mahāvijita.
[26] Bà-la-môn đại thần 婆 羅 門
大 臣, chỉ người Bà-la-môn làm tư tế cho vua, hoặc làm quốc sư, phụ tướng.
Pāli: purohita brāhmaṇa.
[27] Bốn tư trợ của đại tự,
theo bản Hán: hoàng hậu, Thái tử, quần thần và tướng sĩ. Theo bản Pāli,
cattāro anumati-pakkhā (bốn tư trợ thuận tùng): 1. Hoàng tộc (janapade
khattiyā), 2. Triều thần (amaccā parisajjā), 3. Bà-la-môn phú hào
(brāhmaṇa-mahāsāla), 4. Cư sĩ phú hào (gahapati-necayikā)
[28] Tám yếu tố này hơi khác
với bản Pāli: 1. Thuần chủng (sujāta), 2. Dung sắc (abhirūpa), 3. Giàu
có (aḍḍha), 4. Uy lực (balavā), 5. Tín tâm (saddha), 6. Học rộng
(bahussuta), 7. Giỏi ngôn ngữ (bhāsitassa attham janāti), 8. Hiền minh
(paṇdta).
[29] Đây chỉ đại thần
Bà-la-môn, tức vị tư tế của vua (purohita-brāhmaṇa).
[30] Bốn đức tính theo bản
Pāli: 1. Huyết thống (sujāta), 2. Tụng đọc (ajjhāyaka), 3. Có giới đức
(sīlavā), 4. Hiền minh (paṇḍita)
[31] Sự hành 事 行. Pāli:
dasa-ākārā, 10 hành tướng: pubbe va yaññā das’ ākārehi paṭigghāhakesu
vippaṭisāraṃ paṭivinodetuṃ, trước khi tế tự, bằng 10 phương pháp để loại
trừ những sự hối tiếc.
[32] Tham chiếu Pāli:
pāṇātipātā paṭiviratā te ārabha yajatam bhavam modatam bhavaṃ cittam eva
bhavaṃ antaraṃ pasādetu, những người không sát sanh, đối với họ, bố thí,
cúng dường, hoan hỉ, nội tâm sanh khởi tịnh tín.
[33] Bản Pāli không có chi
tiết này.
[34] Bốn tư trợ, đã nói đoạn
trên. Xem cht. 25. Bản Pāli nói 4 tư trợ của đại tự tổ chức tuỳ hậu tế
(anuyāgino homā).
[35] Hán: tô 酥, nhủ 乳, ma du
麻 油, mật 蜜, hắc mật 黑 蜜, thạch mật 石 蜜. Pāli: sappitelanavanītadadhi
madhuphāṇita: bơ, dầu mè, bơ sống (sanh tô), sữa đông, mật, đường cát.
[36] Các chi tiết kể sau đó
không có trong bản Pāli.
[37] Tham chiếu Pāli: Atthi
(...) añño yañño (...) mahapphalataro: có loại tế tự nào khác có kết quả
lớn hơn?
[38] Chiêu-đề tăng 招 提 僧, Hán
dịch tứ phương tăng 四 方 僧, chỉ cộng đồng các Tỳ-kheo không thường trú
tại một nơi. Pāli: catudisa-saṅgha (Skt. Caturdiśa).
[39] Hán: thượng lậu vi ngại
上 漏 為 礙. Tham chiếu Pāli: kāmānaṃ ādinavaṃ okāraṃ saṃkilesam, sự nguy
hiểm, sự thấp hèn, và sự ô nhiễm của dục.
[40] Hán: ấm cái khinh vi蔭 蓋
輕 微. Pāli: vinīvaraṇna-cittam, tâm đã diệt trừ các triền cái (có 5 triền
cái).
[41] Hán: kiến pháp, đắc
pháp, hoạch quả, định trú, bất do tha tín, đắc vô sở uý 見 法 得 法 獲 果 定 住
不 由 他 信 得 無 所 畏. Tham chiếu Pāli: diṭṭha-dhammo patta-dhamma
vidita-dhammo pariyogāḷha-dhammo tiṇṇna-vicikiccho vigata- kathaṃkatho
vesārajjappatto aparapaccayo satthu sāsane, thấy pháp, đắc pháp, ngộ
pháp, thâm nhập pháp, diệt nghi, trừ hoặc, được vô úy, duy y giáo pháp
của Đạo sư.
[42] Hán: diệc bất ư pháp hữu
sở xúc nhiễu 亦 不 於 法 有 所 觸 擾.
[43] Chỉ trường hợp Thánh giả
Bất hoàn(Pāli: Anāgāmin), sanh lên Tịnh cư (Pāli: Suddhāvāsavà nhập
Niết-bàn tại đó.