長 阿 含 經
KINH TRƯỜNG A HÀM
Hán Dịch. Phật Ðà Da Xá
& Trúc Phật Niệm
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ
|
PHẦN IV
30. KINH THẾ KÝ
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Trên đỉnh Tu-di sơn vương có thành của trời Tam thập tam. Thành dọc
ngang rộng tám vạn do-tuần; có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới,
bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Thành cao một
trăm do-tuần, phần trên rộng sáu mươi do-tuần. Cửa thành cao sáu mươi
do-tuần, rộng ba mươi do-tuần. Cách nhau năm trăm do-tuần là có một cái cửa;
tại mỗi cửa này có năm trăm quỷ thần giữ gìn bảo vệ trời Tam thập tam. Thành
bằng vàng thì cửa bằng bạc, thành bạc thì cửa vàng,… cho đến vô số các loài
chim cùng nhau ca hót bi thương, cũng lại như vậy.
“Trong thành lớn này lại có thành nhỏ, dọc ngang rộng sáu vạn do-tuần.
Thành có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang
hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Thành cao một trăm do-tuần, rộng sáu
mươi do-tuần. Cửa thành cách nhau năm trăm do-tuần, cao sáu mươi do-tuần,
rộng ba mươi do-tuần; tại mỗi cửa thành có năm trăm quỷ thần thị vệ tại bên
cửa, để giữ gìn trời Tam thập tam. Thành bằng vàng thì cửa bằng bạc, thành
bằng bạc thì cửa bằng vàng; thành bằng thủy tinh thì cửa bằng lưu ly, thành
bằng lưu ly thì cửa bằng thủy tinh; thành bằng xích châu thì cửa bằng mã
não, thành bằng mã não thì cửa bằng xích châu; thành bằng xa cừ thì cửa bằng
các thứ báu khác.
“Về lan can này: nếu lan can bằng vàng thì tam cấp bằng bạc, lan can bằng
bạc thì tam cấp bằng vàng; lan can bằng thủy tinh thì tam cấp bằng lưu ly,
lan can bằng lưu ly thì tam cấp bằng thủy tinh; lan can bằng xích châu thì
tam cấp bằng mã não, lan can bằng mã não thì tam cấp bằng xích châu; lan can
bằng xa cừ thì tam cấp bằng các thứ báu khác. Trên những lan can này có lưới
báu; dưới lưới vàng thì treo linh bạc, dưới lưới bạc thì treo linh vàng;
lưới bằng lưu ly thì treo linh bằng thủy tinh, lưới bằng thủy tinh thì treo
linh bằng lưu ly; lưới bằng xích châu thì treo linh bằng mã não, lưới bằng
mã não thì treo linh bằng xích châu; lưới bằng xa cừ thì treo linh bằng các
thứ báu khác. Về cây vàng: nếu rễ vàng, cành vàng thì lá hoa bằng bạc ròng.
Về cây bạc: nếu rễ bạc, cành bạc thì lá hoa bằng vàng ròng. Về cây thủy
tinh: nếu rễ, cành bằng thủy tinh thì lá, hoa bằng lưu ly. Về cây lưu ly:
nếu rễ, cành bằng lưu ly thì lá hoa bằng thủy tinh. Về cây xích châu: nếu
rễ, cành bằng xích châu thì lá hoa bằng mã não. Về cây mã não: nếu rễ, cành
bằng mã não thì lá hoa bằng xích châu. Về cây xa cừ: nếu rễ, cành bằng xa cừ
thì lá hoa bằng các thứ báu khác.
“Về bảy lớp thành này: thành có bốn cửa, cửa có lan can. Trên bảy lớp
thành đều có đền đài, lầu các bao bọc chung quanh, có vườn rừng ao tắm, sinh
ra các loài hoa quí nhiều màu sắc xen lẫn nhau, cây báu thành hàng, hoa trái
tốt tươi đầy dẫy, hương thơm bay phảng phất khắp nơi làm đẹp lòng mọi người.
Có chim le, chim nhạn, uyên ương, cùng các loài chim kỳ lạ, vô số hàng nghìn
loại, cùng nhau ca hót.
“Khoảng giữa bên ngoài thành nhỏ này có cung điện của Long vương Y-la-bát[253],
dọc ngang rộng sáu nghìn do-tuần. Vách tường của cung điện có bảy lớp, bảy
lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng
bảy thứ báu… cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại
như vậy.
“Trong thành Thiện kiến[254] này có
Thiện pháp đường[255], dọc ngang một
trăm do-tuần; có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang
hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Nền nhà hoàn toàn bằng vàng ròng, trên
mặt phủ lưu ly. Chu vi những cây cột trong nhà này là mười do-tuần, cao một
trăm do-tuần, dưới những trụ cột của ngôi nhà này là nơi đặt ngự tòa của
Thiên đế[256], bề ngang rộng độ một
do-tuần, có nhiều màu sắc xen lẫn nhau được tạo thành bởi bảy thứ báu. Ngự
tòa này êm ái, mềm mại như lụa trời, và bên tả bên hữu, giáp hai bên tòa, có
mười sáu chỗ ngồi.
“Pháp đường này có bốn cửa; chung quanh là lan can bằng bảy thứ báu.
Đường cấp của ngôi nhà này dọc ngang năm trăm do-tuần, có bảy lớp cửa ngoài,
bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh
bằng bảy thứ báu... cho đến, vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo,
cũng lại như vậy.
“Phía Bắc ngôi nhà Thiện kiến có cung điện Đế Thích, dọc ngang một nghìn
do-tuần; tường vách cung điện có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp lưới,
bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến, vô
số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Phía Đông ngôi nhà Thiện kiếncó vườn rừng tên là Thô sáp[257],
ngang rộng độ một nghìn do-tuần; tường vách cung điện có bảy lớp với bảy lớp
lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy
thứ báu... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như
vậy. Trong vườn Thô sáp có hai ụ đá do vàng trời trang sức, một gọi là Hiền,
hai gọi là Thiện hiền[258], bề ngang
mỗi ụ rộng năm mươi do-tuần, đá này mềm mại, độ mềm mại của nó như vải trời.
“Phía Nam cung điện Thiện kiến có khu vườn tên là Họa lạc[259],
ngang rộng một nghìn do-tuần; vách tường của khu vườn có bảy lớp với bảy lớp
lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy
thứ báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại
như vậy. Trong vườn này có hai ụ đá bằng bảy thứ báu, một là Họa, hai là
Thiện họa[260], bề ngang mỗi ụ rộng độ
năm mươi do-tuần, ụ đá này mềm mại, độ mềm mại của nó như thiên y.
“Phía Tây ngôi nhà Thiện kiến có khu vườn tên là Tạp[261],
ngang rộng một nghìn do-tuần, bờ tường của khu vườn có bảy lớp, bảy lớp lan
can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ
báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như
vậy. Trong khu vườn này có hai ụ đá, một là Thiện kiến, hai là Thuận thiện
kiến, do vàng trời trang sức và do bảy báu tạo thành, bề ngang mỗi ụ rộng độ
năm mươi do-tuần, ụ đá này mềm mại, và độ mềm mại của nó như thiên y.
“Phía Bắc ngôi nhà Thiện kiến có khu vườn tên là Đại hỷ[262],
ngang rộng một nghìn do-tuần, bờ tường của khu vườn có bảy lớp, bảy lớp lan
can, bảy lớp võng lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy
thứ báu,... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại
như vậy. Trong vườn này có hai ụ đá, một gọi là Hỷ, hai gọi là Đại hỷ, do xa
cừ trang sức, ngang rộng năm mươi do-tuần, ụ đá này mềm mại, độ mềm mại của
nó như thiên y.
“Ở quãng giữa vườn Thô sáp và vườn Họa nhạc có ao Nan-đà[263],
ngang rộng một trăm do-tuần; nước của nó lắng trong, không có một chút bợn
nhơ, chung quanh bên cạnh thềm là bảy lớp hào báu, bảy lớp lan can, bảy lớp
lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu. Bốn phía
hồ này có bốn bậc thang, chung quanh lan can làm bằng bảy báu,… cho đến có
vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, lại cũng như vậy.
“Lại nữa trong ao này lại sinh ra bốn loại hoa xanh, vàng, đỏ, trắng,
hồng, xanh nhạt, nhiều màu xen lẫn nhau; bóng rợp của một lá hoa này che một
do-tuần; hương thơm phảng phất khắp một do-tuần; rễ của nó như ổ trục xe,
nhựa của nó lưu xuất ra có màu trắng như sữa, vị ngọt như mật. Bốn phía ao
này lại có những khu vườn.
“Giữa hai khu vườn Tạp và khu vườn Đại hỷ có cây tên là Trú độ[264],
chu vi độ bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá bao trùm ra bốn phía độ
năm mươi do-tuần, ngoài cây có ngôi đình trống, bề ngang rộng năm trăm
do-tuần, bờ tường của cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp võng
lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến
vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Ngoài ra các cung điện khác của Đao-lợi thiên, ngang rộng một nghìn
do-tuần, tường cung điện có bảy lớp với bảy lớp lan can, bảy lớp võng lưới,
bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến vô số
các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Những cung điện này
ngang rộng từ chín trăm, tám trăm cho đến nhỏ nhất là một trăm do-tuần, bờ
tường cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp võng lưới, bảy lớp hàng
cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến vô số các loài
chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy. Những cung điện nhỏ, ngang
rộng từ một trăm do-tuần, chín mươi, tám mươi, cho đến cực nhỏ là mười hai
do-tuần, bờ tường của cung điện có bảy lớp, bảy lớp lan can, bảy lớp võng
lưới, bảy lớp hàng cây, trang hoàng chung quanh bằng bảy thứ báu,... cho đến
vô số các loài chim cùng nhau ca hót líu lo, cũng lại như vậy.
“Phía Bắc ngôi nhà Thiện kiến có hai đường cấp dẫn đến cung điện Đế
Thích. Phía Đông ngôi nhà Thiện kiến có hai đường cấp dẫn đến khu vườn Thô
sáp; lại có hai đường cấp dẫn đến vườn Họa lạc; lại có đường cấp dẫn đến
trong khu vườn Tạp; lại có đường cấp dẫn đến khu vườn Đại hỷ; lại có đường
cấp dẫn đến ao Đại hỷ[265]; lại có
đường cấp dẫn đến cây Trú độ; lại có đường cấp dẫn đến cung điện Tam thập
tam thiên; lại có đường cấp dẫn đến cung điện Chư thiên; lại có đường cấp
dẫn đến cung điện Y-la-bát Long vương. Nếu khi Thiên Đế Thích muốn du ngoạn
đến trong vườn Thô sáp, liền nghĩ đến vị đại thần của trời Tam thập tam, thì
đại thần Tam thập tam thiên lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện nay Đế Thích đang nghĩ
đến ta.’ Liền tự mình sửa soạn trang bị, đóng ngựa vào xe báu, cùng với vô
số mọi người vây quanh trước sau đến đứng một bên trước Đế Thích. Khi Đế
Thích nghĩ đến Chư thiên khác, thì Chư thiên nghĩ rằng: ‘Hiện nay Đế Thích
đang nghĩ đến ta.’ Liền tự mình sửa soạn trang bị, cùng với vô số chúng chư
thiên theo nhau đến đứng một bên trước Đế Thích. Khi Đế Thích nghĩ đến
Y-la-bát Long vương, thì Y-la-bát Long vương lại tự nghĩ rằng: ‘Hiện nay Đế
Thích đang nghĩ đến ta.’ Long vương liền tự biến hóa thân hình ra ba mươi ba
cái đầu, mỗi cái đầu có sáu cái răng, mỗi cái răng có bảy hồ tắm, mỗi hồ tắm
có bảy hoa sen lớn,mỗi hoa sen có một trăm lá, mỗi lá hoa có bảy ngọc nữ, ca
nhạc, múa xướng, đánh trống, khảy đàn, vỗ nhịp ở trên đó. Sau khi vị Long
vương biến hóa như vậy rồi, đi đến đứng một bên trước Đế Thích.
“Lúc này, Thích đề-hoàn Nhân mặc vào thân mình những đồ trang sức quý báu
cùng anh lạc, ngồi trên đầu thứ nhất của Y-la-bát Long vương, kế đó, hai bên
mỗi đầu còn có mười sáu vị thiên vương ở trên đỉnh đầu Long vương này, theo
thứ tự mà ngồi. Bấy giờ, Thiên đế Thích cùng với vô số quyến thuộc Chư thiên
vây quanh đến vườn Thô sáp, tự nhiên có gió thổi cửa tự động mở, tự nhiên có
gió thổi khiến cho đất sạch; tự nhiên có gió thổi làm những đóa hoa rơi khắp
mặt đất, và tích tụ hoa rụng lại ngập đến cả đầu gối. Lúc này Thiên Đế Thích
ngồi trên hai ụ đá Hiền và Thiện hiền theo ý thích, còn Ba mươi ba vị thiên
vương mỗi người tự theo thứ tự mà ngồi. Lại nữa, có những Chư thiên không
được phép theo hầu để đến tham quan viên quán này, không được vào vườn để
vui đùa ngũ dục. Vì sao? Vì công đức mà họ vốn thực hành không đồng. Lại có
những Chư thiên thấy được khu vườn mà không vào được, và không được cùng
nhau vui đùa ngũ dục. Vì sao? Vì công đức mà họ vốn thực hành không đồng.
Lại có những Chư thiên thấy được, vào được, nhưng không được cùng nhau vui
đùa ngũ dục. Vì sao? Vì công đức mà họ vốn thực hành không đồng. Lại có
những Chư thiên vào được, thấy được, và vui đùa ngũ dục được. Vì sao? Vì
công đức mà họ vốn thực hành đồng nhau.
“Sau thời gian du hí trong vườn, Chư thiên đã tự vui ngũ dục, từ một
ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày, họ đã cùng nhau vui đùa xong, và mỗi người
tự trở về cung điện. Khi Thiên đế Thích ngoạn du vườn Họa lạc, vườn Tạp,
vườn Đại hỷ cũng lại như vậy.
“Vì sao gọi là vườn Thô sáp? Vì lúc vào trong vườn này, thì thân thể trở
nên thô nhám[266]. Vì sao gọi là vườn
Họa lạc? Vì lúc vào vườn này, thì thân thể tự nhiên có những sắc màu như vẽ[267]
dùng để vui đùa. Vì sao gọi là vườn Tạp? Vì thường những ngày mùng tám, ngày
mười bốn, ngày mười lăm của mỗi tháng, ngoại trừ người nữ A-tu-luân, các thể
nữ được thả tự do để cùng các Thiên tử ở trong vườn này cùng du hí hỗn tạp[268]
với nhau, cho nên gọi là vườn Tạp. Vì sao gọi là vườn Đại hỷ? Vì lúc vào
vườn này, thì có thể vui đùa một cách hoan hỷ, cho nên gọi là Đại hỷ[269].
Vì sao gọi là nhà Thiện pháp? Vì ở trên ngôi nhà này mà tư duy về pháp vi
diệu[270], nhận lãnh cái vui thanh
tịnh, cho nên gọi là nhà Thiện pháp. Vì sao gọi là cây Trú độ? Vì cây này có
vị thần tên là Mạn-đà[271] thường
thường tấu nhạc để tự vui đùa, cho nên gọi là Trú độ. Lại nữa, cành nhánh
của cây lớn này vươn ra bốn phía, hoa lá rậm rạp tốt tươi như đám mây báu
lớn, cho nên gọi là Trú độ[272].
“Hai bên tả hữu của Thích đề-hoàn Nhân thường có mười đại Thiên tử[273]
theo sau để hầu hạ và bảo vệ đó là: một tên là Nhân-đà-la, hai tên là Cù-di,
ba tên là Tỳ-lâu, bốn tên là Tỳ-lâu-bà-đề, năm tên là Đà-la, sáu tên là
Bà-la, bảy tên là Kỳ-bà, tám tên là Linh-hê-nậu, chín tên là Vật-la, mười
tên là Nan-đầu. Thích đề-hoàn nhân có thần lực lớn và oai đức như vậy.
Các loại hoa mọc trong nước mà người Diêm-phù-đề quí như: Ưu-bát-la,
Bát-đầu-ma, Câu-vật-đầu, Phân-đà-lợi, Tu-càn-đầu, hương thơm của chúng thanh
khiết nhẹ nhàng. Cũng vậy, các loại hoa mọc ra trên đất liền; đó là: Giải
thoát hoa, Đảm-bặc-hoa, Bà-la-đà-hoa, Tu-mạn-châu-na hoa, Bà-sư hoa, Đồng nữ
hoa. Giống như những hoa sinh ra ở nước, ở đất liền, thì những hoa sinh ra ở
Câu-da-ni, Uất-đan-viết, Phất-vu-đãi, Long cung, Kim sí điểu cung cũng lại
như vậy. Những hoa sinh ra ở trong thủy cung của A-tu-luân: Hoa Ưu-bát-la,
hoa Bát-đầu-ma, hoa Câu-vật-đầu, hoa Phân-đà-lợi, hương thơm của chúng nhẹ
nhàng thanh khiết. Những hoa sinh ra nơi đất liền: hoa Thù-hảo, hoa Tần-phù,
hoa đại Tần-phù, hoa Già-già-lợi, hoa đại Già-già-lợi, hoa Mạn-đà-la, hoa
đại Mạn-đà-la. Những hoa sinh ra ở nước, ở đất liền này được Tứ thiên vương,
Tam thập tam thiên, Diễm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa tự tại thiên, Tha hóa
tự tại thiênyêu quý cũng lại như vậy.
“Cõi Trời có mười loại pháp; đó là: một, bay đi không hạn số; hai, bay
đến không hạn số; ba, đi vô ngại; bốn, đến vô ngại; năm, thân Trời không có
da, xương, gân, mạch, máu, thịt; sáu, thân không có việc đại, tiểu tiện bất
tịnh; bảy, thân không mệt nhọc; tám, thiên nữ không sinh đẻ; chín, mắt Trời
không nháy; mười, thân tùy thuộc vào màu sắc của ý mình, như thích xanh thì
hiện xanh, thích vàng thì vàng, đỏ, trắng và các màu khác tùy theo ý mình mà
hiện. Đó là mười pháp của Chư thiên.
“Con người có bảy màu sắc, đó là: Có người màu lửa, có người màu xanh, có
người màu vàng, có người màu đỏ, có người màu đen, có người màu trắng. Chư
thiên, A-tu-luân cũng có bảy màu sắc như vậy.
“Các Tỳ-kheo, ánh sáng của con đom đóm không bằng đèn, nến; ánh sáng của
đèn, nến không bằng bó đuốc; ánh sáng của bó đuốc không bằng đống lửa; ánh
sáng của đống lửa không bằng ánh sáng của sắc thân, y phục, anh lạc, thành
quách, cung điện của Tứ thiên vương; ánh sáng của sắc thân, y phục, anh lạc,
thành quách, cung điện của Tứ thiên vương không bằng ánh sáng của Tam thập
tam thiên; ánh sáng của Tam thập tam thiên không bằng ánh sáng của Diệm-ma
thiên; ánh sáng của Diệm-ma thiên không bằng ánh sáng của Đâu-suất thiên,
ánh sáng của Đâu-suất thiên không bằng ánh sáng của Hóa tự tại thiên; ánh
sáng của Hóa tự tại thiên không bằng ánh sáng của Tha hóa tự tại thiên; ánh
sáng của Tha hóa tự tại thiên không bằng ánh sáng của sắc thân, y phục, cung
điện Phạm-ca-di thiên; ánh sáng của sắc thân, y phục, cung điện Phạm-ca-di
thiên không bằng ánh sáng của Quang âm thiên; ánh sáng của Quang âm thiên
không bằng ánh sáng của Biến tịnh thiên; ánh sáng của Biến tịnh thiên không
bằng ánh sáng của Quả thật thiên; ánh sáng của Quả thật thiên không bằng ánh
sáng của Vô tưởng thiên; ánh sáng của Vô tưởng thiên không bằng ánh sáng của
Vô tạo thiên; ánh sáng của Vô tạo thiên không bằng ánh sáng của Vô nhiệt
thiên; ánh sáng của Vô nhiệt thiên không bằng ánh sáng của Thiện kiến thiên;
ánh sáng của Thiện kiến thiên không bằng ánh sáng của Đại Thiện kiến thiên;
ánh sáng của Đại Thiện kiến thiên không bằng ánh sáng của Cứu cánh thiên;
ánh sáng của Cứu cánh thiên không bằng ánh sáng của Tha hóa tự tại thiên;
ánh sáng của Tha hóa tự tại thiên không bằng ánh sáng của Phật. Từ ánh sáng
của con đom đóm đến ánh sáng của Phật, mà kết hợp những thứ ánh sáng như vậy
lại, thì cũng không bằng ánh sáng của Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, và Đạo đế.
Cho nên, các Tỳ-kheo! Muốn tìm cầu ánh sáng, thì phải cầu ánh sáng của Khổ
đế, Tập đế, Diệt đế, và Đạo đế. Các ngươi nên như vậy mà tu hành.
“Thân người ở cõi Diêm-phù-đề cao ba khủy tay rưỡi; y dài bảy khủy tay,
rộng ba khủy tay rưỡi[274]. Thân
người ở Cù-da-ni, Phất-vu-đãi cũng cao ba khủy tay; y dài bảy khủy tay, rộng
ba khủy tay rưỡi. Thân người Uất-đan-viết cao bảy khủy tay; y dài mười bốn
khủy tay, rộng bảy khủy tay. Thân A-tu-luân cao một do-tuần; y dài hai
do-tuần, rộng một do-tuần, y dày sáu lạng. Thân của Tứ thiên vương cao nửa
do-tuần; y dài một do-tuần, rộng nửa do-tuần, y dày nửa lạng. Thân của
Đao-lợi thiên cao một do-tuần; y dài hai do-tuần, rộng một do-tuần, y dày
sáu lạng. Thân của Diệm-ma thiên cao hai do-tuần; y dài bốn do-tuần, rộng
hai do-tuần, y dày ba lạng. Thân của Đâu-suất thiên cao bốn do-tuần; y dài
tám do-tuần, rộng bốn do-tuần, y dày một lạng rưỡi. Hóa tự tại thiên cao tám
do-tuần; y dài mười sáu do-tuần, rộng tám do-tuần, y dày một lạng. Thân của
Tha hóa tự tại thiên cao mười sáu do-tuần; y dài ba mươi hai do-tuần, rộng
mười sáu do-tuần, y dày nửa lạng. Từ Chư thiên trở lên, mỗi nơi tùy theo
thân hình của họ mà mặc y phục.
“Tuổi thọ của người Diêm-phù-đề là một trăm năm, ít ai vượt qua khỏi; mà
phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của người Câu-da-nilà hai trăm năm, ít ai vượt
qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của người Phất-vu-đãilà ba trăm
năm, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của người
Uất-đan-viết là một nghìn năm, không có tăng hay giảm. Tuổi thọ của ngạ quỷ
là bảy vạn năm, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của
loài rồng, và kim sí điểu là một kiếp, hoặc có giảm đi. Tuổi thọ của
A-tu-luân là một nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều
là dưới. Tuổi thọ của Tứ thiên vương là năm trăm năm của cõi trời, ít ai
vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Đao-lợi thiên là một
nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ
của Diệm-ma thiênlà hai nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần
nhiều là dưới. Tuổi thọ của Đâu-suấtthiên là bốn nghìn năm của cõi trời, ít
ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Hóa tự tại thiên là
tám nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi
thọ của Tha hóa tự tại thiên là sáu nghìn năm của cõi trời, ít ai vượt qua
khỏi, mà phần nhiều là dưới. Tuổi thọ của Phạm-ca-di thiên là một kiếp, hoặc
có giảm bớt. Tuổi thọ của Quang âm thiên là hai kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi
thọ của Biến tịnh thiên là ba kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Quả thật
thiên là bốn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Vô tưởng thiên là năm trăm
kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Vô tạo thiên là một nghìn kiếp, hoặc có
giảm bớt. Tuổi thọ của Vô nhiệt thiên là hai nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt.
Tuổi thọ của Thiện kiến thiên là ba nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ
của Đại Thiện kiến thiên là bốn nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của
Sắc cứu cánh thiên là năm nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Không
xứ thiên là một vạn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Thức xứ thiên là
hai vạn một nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Bất dụng xứ thiên là
bốn vạn hai nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Tuổi thọ của Hữu tưởng vô tưởng
thiên là tám vạn bốn nghìn kiếp, hoặc có giảm bớt. Trong giới hạn ấy, được
gọi là chúng sanh; trong giới hạn ấy được gọi là tuổi thọ; trong giới hạn ấy
được gọi là thế giới; trong giới hạn ấy là sự luân chuyển của tập hợp uẩn,
xứ, giới, qua lại trong các cõi, sanh, già, bịnh, chết.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tất cả chúng sanh do bốn loại thức ăn mà tồn tại. Một là đoàn tế hoạt
thực[275]. Hai là xúc thực. Ba là
niệm thực. Bốn là thức thực. Những loại thức ăn này chúng sanh ăn không
giống nhau. Như người cõi Diêm-phù-đề dùng các loại cơm, bún mì, cá thịt,
gọi là loại đoàn thực[276]. Y phục,
tắm giặt, được gọi là tế hoạt thực[277].
Người Câu-da-ni, Phất-vu-đãi cũng ăn các loại cơm, bún mì, cá thịt được gọi
là đoàn thực; y phục, tắm giặt là tế hoạt thực. Người Uất-đan-viết thì chỉ
ăn lúa gạo chín tự nhiên, đầy đủ vị trời lấy là đoàn thực; cũng lấy y phục,
tắm giặt làm tế hoạt thựcï. Loài rồng, kim-sí điểu, thì ăn các con giải, con
đà, con cá, con ba-ba lấy làm đoàn thực, và tắm gội, y phục làm tế hoạt
thực. A-tu-luân thì ăn đoàn thực sạch[278]
lấy làm đoàn thực, và lấy tắm giặt, y phục làm tế hoạt thực. Tứ thiên vương,
Đao-lợi thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa tự tại thiên, Tha hóa tự
tại thiên ăn loại đoàn thực sạch lấy làm đoàn thực, và tắm giặt, y phục làm
tế hoạt thực. Chư thiên từ đây trở lên dùng hỷ lạc thiền định làm thức ăn.
“Những chúng sanh nào dùng xúc thực? Những chúng sanh, sinh ra từ trứng
dùng xúc thực.
“Những chúng sanh nào dùng niệm thực? Có chúng sanh nhờ vào niệm thực mà
được tồn tại, tăng trưởng các căn, tuổi thọ không dứt, đó là niệm thực.
“Những chúng sanh nào dùng thức thực? Những chúng sanh ở địa ngục và cõi
Vô sắc thiên, những loại chúng sanh này dùng thức thực.
“Người cõi Diêm-phù-đề dùng các thứ vàng bạc, đồ quý báu, lúa gạo, lụa
là, nô bộc để mưu sinh buôn bán mà tự nuôi sống. Người Câu-da-ni dùng bò,
dê, châu báu để trao đổi mà nuôi sống. Người Phất-vu-đãi dùng thóc, vải,
châu ngọc[279] để trao đổi mà tự nuôi
sống. Người Uất-đan-viết tuy không dùng cách trao đổi nhưng cũng mưu sinh để
tự nuôi sống.
“Người cõi Diêm-phù-đề có sự mai mối hôn nhân, con trai lấy vợ, con gái
lấy chồng. Người Câu-da-ni, và người Phất-vu-đãi, cũng có mai mối hôn nhân,
con trai lấy vợ, con gái lấy chồng. Người Uất-đan-viết, thì không có vấn đề
hôn nhân, không có sự lấy chồng, lấy vợ của con trai và con gái. Loài rồng
và kim sí điểu cùng A-tu-luân, thì cũng có hôn nhân, có giá thú giữa con
trai và con gái. Tứ thiên vương, Đao-lợi thiên,… cho đến Tha hóa tự tại
thiên cũng có hôn nhân, và có giá thú giữa người nam và người nữ. Chư thiên
từ đây trở lên không còn có nam và nữ.
“Người cõi Diêm-phù-đề, vì giữa nam và nữ giao hội nhau, thân và thân xúc
chạm nhau, nên sanh ra âm dương. Những người Câu-da-ni, người Phất-vu-đãi,
người Uất-đan-viết cũng dùng thân với thân xúc chạm nhau nên cũng sanh ra âm
dương. Các loài rồng, kim sí điểu cũng dùng thân với thân xúc chạm nhau nên
cũng sanh ra âm dương. Loài A-tu-luân thì thân với thân gần gũi nhau phát
sanh khí mà trở thành âm dương. Tứ thiên vương, Đao-lợi thiên thì cũng lại
như vậy. Diệm-ma thiên, thì gần gũi nhau mà thành âm dương. Đâu-suất thiên
thì cầm tay nhau mà thành âm dương. Hóa tự tại thiên thì nhìn kỹ nhau mà
thành âm dương. Tha hóa tự tại thiên thì láy mắt nhìn nhau mà thành âm
dương. Chư thiên từ đây trở lên thì không còn dâm dục nữa.
“Nếu có chúng sanh nào, với thân làm ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều
ác, thì sau khi thân hoại mạng chung, sau đó thức người đời diệt mất; thức
nê lê bắt đầu sinh ra. Nhân thức nên có danh sắc. Nhân danh sắc nên có sáu
nhập. Hoặc có chúng sanh với thân làm ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác,
thì sau khi thân hoại mạng chung, bị đọa vào trong loài súc sanh; sau đó
thức người đời bị diệt; thức súc sanh bắt đầu sinh ra; nhân thức nên có danh
sắc; nhân danh sắc nên có sáu nhập. Hoặc có chúng sanh với thân làm ác,
miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, thì sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đọa
vào trong ngạ quỷ; sau đó thức người đời bị diệt, thức ngạ quỷ bắt đầu sinh
ra; nhân thức nên có danh sắc; nhân danh sắc nên có sáu nhập. Hoặc có chúng
sanh với thân làm thiện, miệng nói những lời thiện, ý nghĩ điều thiện, thì
sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sinh vào trong cõi người; sau đó thức
đời trước diệt, thức loài người bắt đầu sinh ra; nhân thức nên có danh sắc;
nhân danh sắc nên có sáu nhập.
“Hoặc có chúng sanh với thân làm thiện, miệng nói lời thiện, ý nghĩ điều
thiên, thì sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sinh về cõi Tứ thiên vương; sau
đó thức đời trước diệt; thức loài trời Tứ thiên vương bắt đầu sinh ra; nhân
thức nên có danh sắc; nhân danh sắc nên có sáu nhập.
“Lúc bắt đầu sinh ở cõi Trời, hình dạng cũng giống hệt như con nít chừng
hai, ba tuổi của cõi người này, tự nhiên hóa hiện, ngồi trên đầu gối Trời.
Vị Trời ấy liền nói: ‘Đây là con ta.’ Do quả báo của hành vi, nên tự nhiên
mà có nhận thức; liền tự nghĩ rằng: ‘Ta do đã làm những gì, mà nay ta sinh
ra nơi này?’ Rồi tự nhớ lại: ‘Đời trước ta ở nhân gian, thân làm việc thiện,
miệng nói lời thiện, ý nghĩ điều thiện. Vì đã làm những việc này nên nay
được sanh về cõi Trời. Giả như ở đây ta mạng chung, mà sinh vào cõi nhân
gian trở lại, thì phải thanh tịnh thân, khẩu, ý, và siêng năng gấp đôi trong
việc tu tập các hạnh lành.’ Sau khi sinh ra chưa lâu, hài nhi tự biết đói,
thì tự nhiên trước mặt hài nhi này có đồ để đựng quí, trong đó đựng thức ăn
thanh tịnh của cõi Trời, tự nhiên có, đủ cả trăm mùi vị. Nếu phước báo nhiều
thì thức ăn màu trắng. Nếu phước báo mà vừa thì thức ăn có màu xanh. Còn nếu
phước báo ít thì thức ăn có màu đỏ. Đứa trẻ này dùng tay lấy thức ăn đưa vào
miệng, thức ăn tự nhiên tiêu mất, như váng sữa được chế vào trong lửa. Khi
đứa trẻ ăn xong, mới tự cảm thấy khát, thì tự nhiên có đồ đựng quý, đựng đầy
nước cam lồ. Nếu là người có nhiều phước báo thì nước này có màu trắng; nếu
người này phước báo vừa vừa thì nước này có màu xanh; nếu là ngưới có phước
báo ít thì nước này có màu đỏ. Đứa trẻ này lấy nước uống; nước tự động tiêu
mất như váng sữa được chế vào lửa vậy.
“Đứa trẻ này sau khi ăn uống xong, thì thân thể cao lớn cũng như các chư
Thiên khác, liền vào trong hồ nước mà tự mình thưởng thức sự tắm gội rửa
ráy. Khi đã tự mình thưởng thức xong thì ra khỏi hồ tắm, đến dưới cây hương.
Cây hương sẽ cong xuống; nó dùng tay lấy các loại hương tự thoa vào thân
mình. Sau đó lại đến cây y kiếp-bối. Cây cong xuống, nó lấy các loại y mặc
vào thân mình. Tiếp đến nơi cây trang nghiêm. Cây cong xuống, nó lấy các thứ
đồ trang sức, để tự trang điểm thân. Tiếp đến cây Hoa man[280],
cây nghiêng xuống môït bên, lấy tràng hoa đội lên đầu. Tiếp đến cây đồ vật,
cây nghiêng xuống một bên, để lấy các thứ đồ vật báu. Tiếp đến cây có trái,
cây nghiêng xuống một bên, hái trái tự nhiên, hoặc ăn hay ngậm, hoặc lọc
nước mà uống. Tiếp đến cây nhạc khí, cây nghiêng xuống một bên, lấy nhạc khí
Trời, khảy lên âm thanh trong trẻo vi diệu hòa cùng lời ca. Khi đứa trẻ cõi
Trời hướng đến các khu vườn, thì thấy vô số thiên nữ đang khảy đàn đánh
trống ca hát nói cười với nhau. Bấy giờ đứa trẻ cõi Trời dạo chơi thấy những
cảnh như vậy, bèn sinh lòng đắm nhiễm, nhìn Đông mà quên Tây, nhìn Tây mà
quên Đông. Lúc mà đứa trẻ này mới sinh, tự biết mà tự nghĩ rằng: ‘Do hành vi
gì mà nay ta được sinh ra nơi này? Khi đang dạo chơi xem cảnh nơi kia, thì
lại quên hết ý nghĩ này. Thế rồi, liền có thể nữ theo hầu.
“Hoặc có chúng sanh với thân làm thiện, miệng nói lời thiên, ý nghĩ điều
thiện, thì sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh về cõi Đao-lợi thiên; sau đó
thức đời trước diệt; thức kia bắt đầu sinh ra; nhân thức này nên có danh
sắc, nhân danh sắc nên có sáu nhập. Kẻ mới bắt đầu sinh của cõi Trời kia,
giống như đứa trẻ hai hay ba tuổi ở cõi Diêm-phù-đề, tự nhiên biến hiện ra ở
trên đầu gối của Trời, và vị Trời ấy nói: ‘Đây là con trai của ta. Đây là
con gái của ta.’ Cũng lại như đã kể trên.
“Hoặc có chúng sanh với thân, miệng, ý đều thiện, thì sau khi thân hoại
mạng chung sẽ sinh về cõi Diệm-ma thiên; kẻ mới bắt đầu sinh của cõi trời
kia, giống như đứa trẻ ba, bốn tuổi ở cõi Diêm-phù-đề này.
“Hoặc có chúng sanh với thân, miệng ý đều thiện, sau khi thân hoại mạng
chung sẽ sinh về cõi Đâu-suất thiên; kẻ mới sinh ở cõi Trời này, giống như
đứa trẻ bốn, năm tuổi ở thế gian này.
“Hoặc có chúng sanh với thân, miệng, ý đều thiện, sau khi thân hoại mạng
chung sẽ sinh về cõi Hóa-tự-tại thiên; kẻ mới sinh ở cõi Trời này, giống như
đứa trẻ năm, sáu tuổi ở thế gian này.
“Hoặc có chúng sanh với thân, miệng, ý đều thiện, sau khi thân hoại mạng
chung sẽ sinh về cõi Tha-hóa-tự-tại thiên; kẻ mới sinh ở cõi Trời này, giống
như đứa trẻ sáu, bảy tuổi ở thế gian này, cũng lại như vậy.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Mỗi nửa tháng có ba ngày trai [281],
đó là: ngày mồng tám, ngày mười bốn, và ngày mười lăm. Đó là ba ngày trai.
Vì sao trong mỗi nửa tháng lấy ngày mùng tám làm ngày trai? Vì vào ngày mồng
tám của mỗi nửa tháng là ngày Tứ thiên vương thường bảo sứ giả rằng: ‘Các
ngươi nên đi khảo sát thế gian, xem xét mọi người, có biết hiếu thuận với
cha mẹ, có kính thuận với Sa-môn, Bà-la-môn, có tôn kính các bậc trưởng lão,
có trai giới, bố thí, có cứu giúp người cùng thiếu hay không?’ Sau khi sứ
giả nghe những lời dạy này rồi, liền đi khảo sát khắp trong thiên hạ, để
biết có người hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính Sa-môn, Bà-la-môn, kính trọng
các bậc trưởng lão, trì giới giữ trai, bố thí cho người cùng thiếu. Sau khi
xem xét đầy đủ rồi, thấy có những người bất hiếu với cha mẹ, bất kính sư
trưởng, không tu trai giới, không cứu giúp người cùng thiếu, về thưa với nhà
vua rằng: ‘Tâu Thiên vương, ở thế gian những người hiếu thuận với cha mẹ,
kính trọng sư trưởng, tịnh tu trai giới, giúp đỡ những người cùng thiếu thì
rất ít! rất ít!’ Sau khi Tứ thiên vương nghe xong, sầu lo không vui, đáp
rằng: ‘Than ôi! nếu người thế gian, có nhiều kẻ ác, bất hiếu với cha mẹ,
không kính trọng sư trưởng, không tu tập trai giới, không giúp đỡ người cùng
thiếu! thì chúng chư Thiên sẽ tổn giảm, và chúng A-tu luân sẽ tăng thêm.’
Trường hợp nếu sứ giả thấy ở thế gian mà có người hiếu kính mẹ cha, kính
trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ người nghèo, thì trở về bạch
với Thiên vương rằng: ‘Ở thế gian có người hiếu thuận mẹ cha, kính trọng sư
trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ người cùng thiếu.’ Thì Tứ thiên vương
sau khi nghe xong rất là hoan hỷ, xướng lên rằng: ‘Lành thay! Ta đã nghe
những lời tốt lành, thế gian nếu có những người có thể hiếu thuận mẹ cha,
kính trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ những người nghèo thiếu,
thì chúng chư Thiên sẽ tăng thêm, và chúng A-tu-luân sẽ giảm bớt.’
“Vì sao lấy ngày mười bốn làm ngày trai? Vì ngày mười bốn là ngày mà Tứ
thiên vương bảo Thái tử rằng: ‘Ngươi nên đi khảo sát khắp thiên hạ, xem xét
mọi người, để biết có người hiếu thuận mẹ cha, kính trọng sư trưởng, siêng
tu trai giới, giúp đỡ người nghèo thiếu hay không?’ Sau khi vâng lời dạy của
vua xong, Thái tử liền đi khảo sát thiên hạ, xem xét mọi người, có biết hiếu
thuận mẹ cha, tôn trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ người nghèo
thiếu hay không. Khi đã quán sát tất cả rồi, nhận thấy thế gian có người
không hiếu thuận mẹ cha, không kính sư trưởng, không tu trai giới, không
giúp đỡ người nghèo thiếu, trở về thưa vua rằng: ‘Tâu Thiên vương, ở thế
gian người hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính sư trưởng, tu hành trai giới
thanh tịnh, giúp đỡ những người nghèo thiếu thì rất ít! rất ít!’ Tứ thiên
vương nghe xong, sầu lo không vui, bảo rằng: ‘Than ôi! Nếu thế gian có nhiều
kẻ ác, không hiếu thuận mẹ cha, không tôn trọng sư trưởng, không tu tập trai
giới, không giúp đỡ những người nghèo thiếu, thì chúng chư thiên sẽ giảm
bớt, chúng A-tu-luân sẽ tăng thêm.’ Nếu Thái tử nhận thấy thế gian có người
hiếu thuận mẹ cha, tôn kính sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ những
người nghèo thiếu, thì liền trở về thưa vua rằng: ‘Tâu Thiên vương, ở thế
gian có người hiếu thuận với mẹ cha, kính trọng sư trưởng, siêng tu trai
giới, giúp đỡ những người nghèo thiếu.’ Tứ thiên vương nghe xong, lòng rất
vui mừng, xướng lên rằng: ‘Lành thay! Ta nghe được những lời tốt lành, là ở
thế gian nếu có những người hiếu thuận với mẹ cha, tôn trọng sư trưởng,
siêng tu trai giới, giúp đỡ những người nghèo thiếu, thì chúng chư thiên sẽ
tăng thêm, chúng A-tu-luân sẽ giảm bớt.’ Cho nên ngày mười bốn là ngày trai.
“Vì sao lấy ngày mười lăm làm ngày trai? Vì ngày mười lăm là ngày Tứ
thiên vương đích thân tự đi khảo sát thiên hạ, xem xét mọi người ở trong thế
gian, có hiếu thuận mẹ cha, kính trọng sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp
đỡ những người nghèo thiếu hay không? Nếu nhận thấy người thế gian phần
nhiều bất hiếu với mẹ cha, không tôn trọng sư trưởng, không siêng trai giới,
không giúp đỡ kẻ nghèo thiếu, thì Tứ thiên vương đến điện Thiện pháp thưa
với Đế Thích: ‘Đại vương biết cho, chúng sanh ở thế gian phần nhiều bất hiếu
với mẹ cha, không kính trọng sư trưởng, không tu trai giới, không giúp đỡ kẻ
nghèo thiếu!’ Sau khi Đế Thích và chư thiên Đao-lợi nghe xong lòng buồn lo
không vui nói rằng: ‘Than ôi! Nếu chúng sanh ở thế gian phần nhiều là ác,
không hiếu thuận mẹ cha, không tôn kính sư trưởng, không tu trai giới, không
giúp kẻ cùng thiếu, thì chúng chư thiên sẽ giảm bớt, chúng A-tu-luân sẽ tăng
lên.’ Nếu Tứ thiên vương nhận thấy thế gian có người hiếu thuận với mẹ cha,
tôn kính sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp đỡ kẻ nghèo thiếu, thì trở về
điện Thiện pháp tâu với Đế Thích: ‘Người thế gian có kẻ hiếu thuận với mẹ
cha, tôn kính sư trưởng, siêng tu trai giới, giúp kẻ nghèo thiếu.’ Sau khi
Đế Thích và chư thiên Đao-lợi nghe xong lòng rất là hoan hỷ, xướng lên rằng:
‘Lành thay! Nếu ở thế gian mà có kẻ hiếu thuận mẹ cha, tôn kính sư trưởng,
siêng tu trai giới, giúp kẻ nghèo thiếu, thì chúng chư Thiên sẽ tăng, chúng
A-tu-luân sẽ giảm.’ Cho nên lấy ngày mười lăm là ngày trai giới. Vì lý do
trên nên có ba ngày trai. Bấy giờ, Đế Thích muốn cho chư thiên càng thêm
hoan hỷ hơn, liền nói bài kệ:
Thường lấy ngày mồng tám,
Mười bốn, rằm mỗi tháng,
Cải hóa, tu trai giới,
Người này đồng với ta.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Đế Thích nói bài kệ này, không phải là khéo thọ, không phải là khéo nói;
Ta cũng không ấn khả. Vì sao? Vì Đế Thích chưa dứt hết dâm dục, sân hận, si
mê, chưa thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ não. Ta bảo người này
chưa lìa khỏi gốc khổ. Tỳ-kheo nào của Ta, nếu lậu hoặc đã hết, được
A-la-hán, những gì cần làm đã làm xong, đã trút bỏ gánh nặng, đã được tự
lợi, đã hết kết sử các hữu, bình đẳng giải thoát, thì Tỳ-kheo đó mới đáng
nói bài kệ này:
Thường lấy ngày mồng tám,
Mười bốn, rằm mỗi tháng,
Vâng lời tu trai giới,
Người này đồng với ta.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo kia nói bài kệ này mới gọi là khéo thọ, mới gọi là khéo nói,
được Ta ấn khả. Vì sao? Vì Tỳ-kheo kia đã dứt sạch dâm dục, sân hận, si mê,
đã thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ não. Ta bảo người kia đã
lìa khỏi gốc khổ.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tất cả chỗ ở như nhà cửa của mọi người đều có quỷ thần, không có chỗ nào
là không có cả. Tất cả mọi đường sá, mọi ngã tư, hàng thịt, chợ búa, cùng
bãi tha ma đều có quỷ thần, không có chỗ nào là không có cả. Phàm các loài
quỷ thần đều tùy thuộc vào chỗ nương náu mà có tên. Như nếu nương vào người
thì gọi là người; nương vào thôn thì gọi là thôn; nương vào thành thì gọi là
thành; nương vào nước thì gọi là nước; nương vào đất thì gọi là đất; nương
vào núi thì gọi là núi, nương vào sông thì gọi là sông.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Tất cả mọi loại cây cối dù là cực nhỏ như trục xe cũng đều có quỷ thần
nương tựa, không có chỗ nào là không có. Tất cả mọi người nam, người nữ khi
mới bắt đầu sinh ra đều có quỷ thần theo bên ủng hộ; nếu khi nào họ chết thì
quỷ thần giữ gìn họ, thu nhiếp tinh khí của họ, nên người này sẽ chết ngay.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Giả như có Phạm-chí ngoại đạo hỏi rằng: ‘Chư hiền! Nếu như tất cả nam nữ
khi bắt đầu sinh ra đều có quỷ thần theo bên giữ gìn, ủng hộ; khi người kia
sắp chết, quỷ thần giữ gìn ủng hộ kia sẽ thu nhiếp tinh khí họ, thì người
này chết. Nhưng tại sao người hiện nay lại có người bị quỷ thần quấy nhiễu,
có người không bị quỷ thần quấy nhiễu?’ Nếu có người hỏi câu này, thì các
Thầy nên trả lời cho họ rằng: ‘Người thế gian hành động phi pháp, tà kiến
điên đảo, tạo ra mười nghiệp ác, những người như vậy, thì trong trăm hay
nghìn mới có một thần theo bảo hộ thôi. Giống như đàn bò, đàn dê, trong trăm
hay nghìn con cũng chỉ có một người chăn giữ; thì việc này cũng như vậy, vì
hành động phi pháp, tà kiến điên đảo, tạo ra mười nghiệp ác, nên những người
như vậy, trong trăm hay nghìn người mới có một thần bảo hộ thôi. Nếu có
người nào tu hành pháp thiện, chánh kiến, chánh tín, chánh hạnh, đầy đủ mười
nghiệp thiện, chỉ một người như vậy, thì cũng có trăm nghìn thần bảo hộ rồi.
Giống như quốc vương, đại thần của quốc vương có trăm nghìn người hộ vệ một
người; thì việc này cũng như vậy, người tu hành pháp thiện, đầy đủ mười
nghiệp thiện, như một người có trăm nghìn thần hộ vệ. Vì nhân duyên này cho
nên, người thế gian có nguời bị quỷ thần quấy nhiễu, có người không bị quỷ
thần quấy nhiễu.
“Người cõi Diêm-phù-đề có ba điều hơn người Câu-da-ni, đó là: một, dõng
mãnh, nhớ dai, có khả năng tạo nghiệp hành; hai, dõng mãnh, nhớ dai, siêng
tu phạm hạnh; ba, vì dõng mãnh, nhớ dai, nên Phật ra đời ở cõi này. Do có ba
điều này nên hơn người Câu-da-ni. Người Câu-da-ni có ba điều hơn người
Diêm-phù-đề, đó là: một, nhiều bò; hai, nhiều dê; ba, nhiều châu ngọc. Do có
ba điều này nên hơn người Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề có ba điều hơn người Phất-vu-đãi, đó là: một, dõng
mãnh, nhớ dai, có khả năng tạo ra nghiệp hành; hai, dõng mãnh, nhớ dai,
thường tu phạm hạnh; ba, dõng mãnh, nhớ dai, Phật ra đời ở cõi này. Vì ba
điều này nên hơn Phất-vu-đãi. Người Phất-vu-đãi có ba điều hơn người
Diêm-phù-đề, đó là: một, cõi này rất rộng; hai, cõi này rất lớn; ba, đất đai
cõi này rất vi diệu. Vì ba điều này nên hơn người Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề có ba điều hơn người Uất-đan-viết, đó là: một, mạnh
mẽ, nhớ dai, có khả năng tạo ra hành nghiệp; hai, mạnh mẽ, nhớ dai, thường
tu hành phạm hạnh; ba, mạnh mẽ, nhớ dai, Phật ra đời ở cõi này. Đó là ba
điều hơn người Uất-đan-viết. Người Uất-đan-viết có ba điều hơn người
Diêm-phù-đề, đó là: một, không bị ràng buộc lệ thuộc; hai, không có vật sở
hữu của ngã; ba, tuổi thọ cố định là nghìn năm. Vì ba điều này nên hơn người
Diêm-phù-đề ”Người Diêm-phù-đề cũng vì ba điều trên mà hơn đường ngạ quỷ.
Đường ngạ quỷ có ba điều hơn Diêm-phù-đề, đó là: một, sống lâu; hai, thân to
lớn; ba, người khác làm mà mình chịu. Vì ba điều này nên hơn Diêm-phù-đề.”
“Người Diêm-phù-đề cũng vì ba điều trên nên hơn loài rồng, kim sí điểu.
Loài rồng, kim sí điểu lại có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một,
sống lâu; hai, thân to lớn; ba, cung điện. Vì ba điều này nên hơn người
Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề vì ba điều trên nên hơn A-tu-luân. A-tu-luân lại có ba
điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, cung điện cao, rộng; hai, cung điện
trang nhiêm; ba, cung điện thanh tịnh. Vì ba điều này nên hơn người
Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề vì ba điều trên mà hơn Tứ thiên vương. Tứ thiên vương
lại có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, sống lâu; hai, đoan chánh;
ba, an vui nhiều; vì ba điều này nên hơn người Diêm-phù-đề.
“Người Diêm-phù-đề cũng vì ba điều trên mà hơn Đao-lợithiên, Diệm-ma
thiên, Đâu-suất thiên, Hóa-tự-tại thiên, Tha-hóa-tự-tại thiên. Các hàng chư
thiên này lại có ba điều hơn người Diêm-phù-đề, đó là: một, sống lâu; hai,
đoan chánh; ba, an vui nhiều.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Chúng sanh cõi Dục có mười hai loại, đó là: 1. Địa ngục, 2. Súc sanh, 3.
Ngạ quỷ, 4. Người, 5. A-tu-luân, 6. Tứ thiên vương, 7. Đao-lợi thiên, 8.
Diệm-ma thiên, 9. Đâu-suất thiên, 10. Hóa tự tại thiên, 11. Tha-hóa-tự-tại
thiên, 12. Ma thiên.
“Chúng sanh cõi Sắc có hai mươi hai loại, đó là: 1. Phạm-thân thiên, 2.
Phạm-phụ thiên, 3. Phạm-chúng thiên, 4. Đại Phạm thiên, 5. Quang thiên, 6.
Thiểu-quang thiên, 7. Vô-lượng- quang thiên, 8. Quang-âm thiên, 9. Tịnh
thiên, 10. Thiểu-tịnh thiên, 11. Vô-lượng-tịnh thiên, 12. Biến tịnh thiên,
13. Nghiêm-sức thiên, 14. Tiểu-nghiêm-sức thiên, 15. Vô-lượng-nghiêm-sức
thiên, 16. Nghiêm-thắng quả-thật thiên, 17. Vô-tưởng thiên, 18. Vô-phiền
thiên, 19. Vô-nhiệt thiên, 20. Thiện-kiến thiên, 21. Đại-thiện-kiến thiên,
22. A-ca-nị-trá thiên.
“Chúng sanh cõi Vô sắc có bốn loại, đó là: 1. Không-trí thiên, 2.
Thức-trí thiên, 3. Vô-sở-hữu trí thiên, 4. Hữu-tưởng vô-tưởng trí thiên.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Có bốn loại đại thiên thần, đó là: 1. Địa thần, 2. Thủy thần, 3. Phong
thần, 4. Hỏa thần. Xưa kia Địa thần nảy sinh ra nhận thức sai lầm rằng:
‘Trong đất không có nước, lửa, và gió.’Lúc đó Ta biết rõ tâm niệm của thần
đất này, liền đến bảo rằng: “Ngươi đang nảy sanh ra ý nghĩ rằng: ‘Trong đất
không có nước, lửa và gió phải không?’ Địa thần đáp: ‘Trong đất quả thực
không có nước, lửa và gió.’ Lúc ấy Ta bảo rằng: ‘Ngươi chớ nảy sanh ý niệm
này là trong đất không có nước, lửa và gió. Vì sao? Vì trong đất có nước,
lửa và gió, chỉ vì yếu tố đất nhiều nên lấy đất mà gọi tên’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Lúc ấy Ta vì Địa thần mà lần lượt nói pháp, để dứt trừ nhận thức sai lầm
này, và chỉ bày, khuyến khích, làm cho lợi ích, làm cho hoan hỷ; nói về thí,
về giới, về sinh thiên; nói dục là bất tịnh, là ô nhiễm, là tai họa; xuất
yếu là trên hết, và trình bày khai mở phạm hạnh thanh tịnh. Lúc ấy Ta biết
rõ tâm niệm Địa thần đã thanh tịnh, nhu nhuyến, không còn năm ấm cái, dễ
dàng khai hóa. Như pháp thường của chư Phật, Ta chỉ bày giảng rộng về Khổ
thánh đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Địa
thần liền ngay tại chỗ xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Ví như áo
trắng sạch sẽ dễ được nhuộm màu, Địa thần cũng như vậy, lòng tin đã thanh
tịnh, nên được mắt pháp, không còn hồ nghi, thấy pháp quyết định, không còn
rơi vào đường ác, không theo đường khác, thành tựu được pháp vô úy, mà bạch
với Ta rằng: ‘Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, suốt đời không
sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, cho
phép con được làm Ưu-bà-di ở trong chánh pháp’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Xưa kia, Thủy thần nảy sanh ác kiến, nói rằng: ‘Trong nước không có đất,
lửa và gió.’ Lúc ấy Địa thần biết rõ tâm niệm Thủy thần sinh ra nhận thức
này, nên đến nói với Thủy thần rằng: ‘Thật sự Ngươi có sinh ra kiến giải
này, là trong nước không có đất, lửa và gió phải không?’ Đáp rằng: ‘Có thật
như vậy.’ Địa thần nói: ‘Ngươi chớ sinh ra kiến giải này, là trong nước
không có đất, lửa và gió. Vì sao? Vì trong nước có đất, lửa và gió, nhưng
chỉ vì yếu tố nước nhiều quá, nên dùng yếu tố nước để gọi tên.’ Bấy giờ, Địa
thần liền vì y mà nói pháp, dứt trừ kiến giải sai lầm này, và chỉ bày,
khuyến khích, làm cho lợi ích, làm cho hoan hỷ; nói về thí, về giới, về sinh
thiên; nói dục là bất tịnh, là ô nhiễm, là tai họa; xuất yếu là trên hết, và
trình bày khai mở phạm hạnh thanh tịnh. Lúc ấy Địa thần biết rõ tâm niệm
Thủy thần đã thanh tịnh, nhu nhuyến, không còn năm ấm cái, dễ dàng khai hóa.
Như pháp thường của chư Phật, chỉ bày giảng rộng về Khổ thánh đế, Khổ tập
đế, Khổ diệt đế, và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Thủy thần liền ngay tại
chỗ xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Ví như áo trắng sạch sẽ dễ
được nhuộm màu, Thủy thần cũng như vậy, lòng tin đã thanh tịnh, nên được mắt
pháp, không còn hồ nghi, thấy pháp quyết định, không còn rơi vào đường ác,
không theo đường khác, thành tựu được pháp vô úy, mà bạch với Địa thần rằng:
‘Nay tôi xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, suốt đời không sát sanh,
không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, xin nhận tôi
là Ưu-bà-di ở trong chánh pháp’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Xưa kia Hỏa thần nảy sanh ra ác kiến, nói rằng: ‘Trong lửa không có đất,
nước và gió.’ Lúc ấy Địa thần và Thủy thần biết rõ tâm niệm Thủy thần sinh
ra nhận thức này, nên cùng nói với Hỏa thần rằng: ‘Thật sự ngươi có sinh ra
kiến giải này phải không?’ Đáp rằng: ‘Có thật như vậy.’ Hai thần nói: ‘Ngươi
chớ sinh ra kiến giải này. Vì sao? Vì trong lửa có đất, nước và gió, nhưng
chỉ vì yếu tố lửa nhiều quá, nên dùng yếu tố lửa để gọi tên.’ Bấy giờ, hai
vị thần Địa và Thủy liền vì y mà nói pháp, dứt trừ kiến giải sai lầm này, và
chỉ bày, khuyến khích, làm cho lợi ích, làm cho hoan hỷ; nói về thí, về
giới, về sinh thiên; nói dục là bất tịnh, là ô nhiễm, là tai họa; xuất yếu
là trên hết, và trình bày khai mở phạm hạnh thanh tịnh. Lúc ấy hai thần biết
rõ tâm niệm Hỏa thần đã thanh tịnh, nhu nhuyến, không còn năm ấm cái, dễ
dàng khai hóa. Như pháp thường của chư Phật, chỉ bày giảng rộng về Khổ thánh
đế, Khổ tập đế, Khổ diệt đế, và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Hỏa thần liền
ngay tại chỗ xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Ví như áo trắng sạch
sẽ dễ được nhuộm màu, Hỏa thần cũng như vậy, lòng tin đã thanh tịnh, nên
được mắt pháp, không còn hồ nghi, thấy pháp quyết định, không còn rơi vào
đường ác, không theo đường khác, thành tựu được pháp vô úy, mà bạch với hai
thần rằng: ‘Nay tôi xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, suốt đời không
sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, xin
nhận tôi là Ưu-bà-di ở trong chánh pháp’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Xưa kia Phong thần nảy sanh ra nhận thức sai lầm rằng: ‘Trong gió không
có đất, nước và lửa.’ Lúc ấy Địa thần, Thủy thần, Hỏa thần biết rõ tâm niệm
Thủy thần sinh ra nhận thức này, nên đến nói rằng: ‘Thật sự Ngươi có sinh ra
kiến giải này phải không?’ Đáp rằng: ‘Có thật như vậy.’ Ba vị thần nói:
‘Ngươi chớ sinh ra kiến giải này. Vì sao? Vì trong gió có đất, nước và lửa,
nhưng chỉ vì yếu tố gió nhiều quá, nên dùng yếu tố gió để gọi tên.’ Bấy giờ,
ba vị thần liền vì y mà nói pháp, dứt trừ kiến giải sai lầm này, và chỉ bày,
khuyến khích, làm cho lợi ích, làm cho hoan hỷ; nói về thí, về giới, về sinh
thiên; nói dục là bất tịnh, là ô nhiễm, là tai họa; xuất yếu là trên hết, và
trình bày khai mở phạm hạnh thanh tịnh. Lúc ấy ba thần biết rõ tâm niệm của
Phong thần đã thanh tịnh, nhu nhuyến, không còn năm ấm cái, dễ dàng khai
hóa. Như pháp thường của chư Phật, chỉ bày giảng rộng về Khổ thánh đế, Khổ
tập đế, Khổ diệt đế, và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ Phong thần liền ngay
tại chỗ xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Ví như tấm vải trắng sạch
sẽ dễ được nhuộm màu, Phong thần cũng như vậy, lòng tin đã thanh tịnh, nên
được mắt pháp, không còn hồ nghi, thấy pháp quyết định, không còn rơi vào
đường ác, không theo đường khác, thành tựu được pháp vô úy, mà bạch với ba
thần rằng: ‘Nay tôi xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, suốt đời không
sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, xin
nhận tôi là Ưu-bà-di ở trong chánh pháp’.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Mây có bốn thứ, đó là: một là màu trắng; hai là màu đen; ba là màu đỏ;
bốn là màu hồng. Mây có màu trắng vì yếu tố đất đặc biệt nhiều; mây có màu
đen vì yếu tố nước đặc biệt nhiều hơn; mây có màu đỏ vì yếu tố lửa đặc biệt
nhiều hơn; mây có màu hồng vì yếu tố gió đặc biệt nhiều hơn. Mây cách mặt
đất từ hai mươi dặm, ba mươi dặm, bốn mươi dặm,…cho đến bốn nghìn dặm; ngoại
trừ kiếp sơ, còn sau đó thì mây lên đến cõi Quang-âm thiên. Chớp có bốn
loại, đó là: Chớp ở phương Đông gọi là thân quang; chớp ở phương Nam gọi là
nan hủy; chớp ở phương Tây gọi là lưu diễm; chớp ở phương Bắc gọi là định
minh[282]. Vì sao mây ở trong hư
không có hiện tượng ánh chớp này? Có lúc thân quang cùng nan hủy chạm nhau,
có khi thân quang cùng với lưu diễm chạm nhau, có khi thân quang cùng với
định minh chạm nhau, có khi nan hủy cùng với lưu diễm chạm nhau, có khi nan
hủy cùng với định minh chạm nhau, có khi lưu diễm cùng với định minh chạm
nhau; vì những nhân duyên này nên mây giữa hư không sinh ra ánh chớp. Và vì
sao mây ở giữa hư không lại sinh ra sấm chớp? Vì ở giữa hư không có khi địa
đại cùng với thủy đại chạm nhau, có khi địa đại cùng với hỏa đại chạm nhau,
có khi địa đại cùng với phong đại chạm nhau, có khi thủy đại cùng với hỏa
đại chạm nhau, có khi thủy đại cùng với phong đại chạm nhau; vì những nhân
duyên này mà mây giữa hư không sinh ra sấm chớp.
“Có năm lý do mà các thầy tướng không thể tiên đoán, và không thể biết
được một cách chắc chắn về mưa nên dẫn đến việc sai lầm trong lúc đoán, đó
là: một, trong mây có sấm chớp, đóan rằng sắp mưa; nhưng vì hỏa đại nhiều
nên nó thiêu hủy mây đi, vì vậy mà không mưa. Đó là lý do thứ nhất khiến cho
các thầy tướng đoán sai lầm. Hai, trong mây có sấm chớp, đoán rằng sắp mưa,
nhưng vì phong đại nổi lên, thổi mây bay tứ tán vào trong các núi, vì lý do
này nên khiến cho các thầy tướng đoán sai lầm. Ba, trong mây có sấm chớp,
đoán rằng sắp mưa, nhưng bấy giờ Đại A-tu-luân đem phù vân đặt giữa biển cả,
vì lý do này mà thầy tướng đoán sai lầm. Bốn, trong mây có sấm chớp, đoán
rằng sắp mưa, nhưng vì thần mây, thần mưa đang buông lung dâm loạn, nên rốt
cùng không làm mưa, vì lý do này nên thầy tướng đoán sai lầm. Năm, trong mây
có sấm chớp, đoán rằng sắp mưa, nhưng vì mọi người trong thế gian hành động
buông lung phi pháp, làm hạnh bất tịnh, tham lam, keo kiệt, ghen ghét, kiến
giải điên đảo, nên khiến trời không mưa xuống, vì lý do này nên thầy tướng
đoán sai. Đó là năm lý do làm cho các thầy tướng không thể biết để đoán mưa
một cách chắc chắn được.”
Chú thích:
[252] Đao-lợi (lị) thiên 忉 利 天,
Hán dịch: Tam thập tam thiên. Pāli: Tāvatiṃsa, Skt. Trāyastiṃsa.
[253] Y-la-bát long vương 伊 羅 鉢
龍 王. Pāli: Erakapatta.
[254] Thiện kiến thành 善 見 城.
Pāli: Sudassana-devanagara; Skt. Sudarśana.
[255] Thiện pháp đường 善 法 唐.
Pāli: Sudhammā-sālā, Skt. Sudharmā devasabhā.
[256] Thiên đế 天 帝, tức Thiên
Đế Thích天 帝 釋, hay Thích Đề-hoàn Nhân 釋 提 桓 因, chúa tể các thiên thần
trời Đao lợi (Pāli: Tāvatiṃsa). Pāli: Sakka devānam Inda.
[257] Thô sáp viên lâm 麤 澀 園 林;
một trong bốn công viên trên trời Đao lợi; Huyền Tráng, tứ uyển四 苑:
Chúng xa眾 車 (Skt. Caitraratha), Thô ác 麤 惡 (Skt. Pāruṣyaka), Tạp lâm雜 林
(Skt. Miśraka), Hỷ lâm 喜 林 (Nandana).
[258] Hiền 賢, Skt. Bhadra;
Thiện hiền 善 賢, Skt. Subhadra.
[259] Họa lạc 畫 樂, Hán dịch từ
Skt. Caitrarata, thay vì Skt. Caitraratha mà Huyền Tráng dịch là Chúng
xa. Xem cht. 257.
[260] Họa 畫, Skt. Caitra ?
Thiện họa 善 畫, Skt. Sucaitra ?
[261] Tạp, tức Tạp lâm; xem
cht. 257.
[262] Đại hỷ, tức Hỷ lâm; xem
cht. 257.
[263] Nan-đà trì 難 陀 池. Đoạn
dưới, dịch nghĩa là vườn Đại hỷ. Pāli: Nandā-pokkharaṇī.
[264] Trú độ (đạc) 晝 度; Pāli:
Pāricchattaka, Skt. Pārijātaka.
[265] Trên kia, âm là Nan-đà.
[266] Thô sáp 麤 澀, Skt.
pāruṣya. Xem cht. 257.
[267] Caitrarati, tên vườn
theo bản Hán (Xem cht. 257), do ghép citra, hình dung từ, có màu sắc sặc
sỡ; và rati, danh từ, sự vui thích. Những giải thích này gần với từ
Pāli: Cittalatā-vana hơn.
[268] Tên vườn Miśraka (Xem
cht. 257) do hình dung từ miśra, được pha trộn.
[269] Tên vườn
Nandanavana(Xem cht.257) do hình dung từ nandana, làm cho vui vẻ.
[270] Hán: diệu pháp 妙 法,
Skt. sudharma, Pāli: sudhamma.
[271] Mạn-đà 漫 陀.
[272] Định nghĩa này gần với
từ Pāli: Pāricchattaka, hơn là Skt. Pārijātaka hay Pāriyātra. Do động từ
Pāli: pari-cchādeti: che phủ khắp.
[273] Thập đại thiên tử十 大 天
子, Nhân-đà-la 因 陀 羅, Cù-di 瞿 夷, Tỳ-lâu 毗 樓, Tỳ-lâu-bà-đề 毗 樓 婆 提, Đà-la
陀 羅, Bà-la 婆 羅, Kỳ-bà 耆 婆, Linh-hê-nậu 靈 醯 嵬, Vật-la 物 羅, Nan-đầu 難 頭.
[274] Kích thước trung bình
khăn quấn của người Ấn.
[275] Hán: đoàn tế hoạt thực
摶 細 滑 食. Pāli: kabaḷikāro āhāro olāriko vā sukhumo. Xem cht. 43, kinh số
9 “Chúng tập.”
[276] Chỉ thực phẩm vật chất:
thức ăn được nắn thành viên, do tục ăn bốc của người Ấn.
[277] Tham chiếu, Câu xá luận
10: đoạn thực段 食 (Skt. Kavaḍīkāra āhāra; Pāli: kabaḷikāro āhāro) có hai
loại: thô (Skt. audārika, Pāli: olāriko) và tế (Skt. sūkṣuma, Pāli:
sukhumo): (…) như thức ăn chư Thiên được gọi là tế, vì không phải bài
tiết.
[278] Tịnh đoàn thực 淨 摶 食.
[279] Hán: châu ky珠 璣, chỉ
chung cho các kim loại quý làm vật ngang giá.
[280] Man thọ 鬘 樹; xem cht.
131, “Phẩm uất-đan-viết.”
[281] Trai 齋, thường dịch âm
là Bồ-tát 布 薩 (Skt. Upavasatha hay upoṣaḍha, Pāli: uposatha).
[282] Bốn loại chớp: thân
quang 身 光, ánh sáng của thân; nan hủy 難 毀, khó hủy diệt; lưu diệm 流 焰,
ngọn lửa trôi; định minh 定 明, ánh sáng cố định.