長 阿 含 經
KINH TRƯỜNG A HÀM
Hán Dịch. Phật Ðà Da Xá
& Trúc Phật Niệm
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ
|
PHẦN IV
30. KINH THẾ KÝ
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Có ba trung kiếp[338]. Những gì là
ba? Một là kiếp đao binh. Hai là kiếp đói kém. Ba là kiếp tật dịch[339].
“Thế nào là kiếp đao binh[340]?
“Người thế gian này vốn thọ bốn vạn tuổi. Sau đó giảm xuống, thọ hai vạn
tuổi. Sau đó lại giảm nữa, thọ một vạn tuổi. Lần lượt giảm, thọ một ngàn
năm, năm trăm năm, ba trăm năm, hai trăm năm. Như nay con người thọ một trăm
tuổi, với số ít vượt quá, mà phần nhiều là dưới. Sau đó, tuổi thọ con người
giảm dần xuống còn mười tuổi. Khi đó, người nữ sinh ra chừng năm tháng là đi
lấy chồng. Bấy giờ, các loại mỹ vị có được trong thế gian như bơ sữa, mật,
đường thẻ, đường đen[341], những gì có
vị ngon, tự nhiên biến mất; ngũ cốc không sinh sản, chỉ còn có loại lúa
hoang[342] mà thôi. Lúc này, các loại y
phục cao cấp như gấm vóc, lụa là[343],
kiếp bối[344], sô-ma[345],
tất cả đều không còn nữa, mà chỉ còn có loại vải dệt thô sơ bằng cỏ. Bấy
giờ, mặt đất này hoàn toàn chỉ sinh gai gốc, muỗi mòng, ong, bọ cạp, rắn,
rết, trùng độc; còn vàng bạc, lưu ly, bảy báu, châu ngọc, tự nhiên chúng bị
vùi vào đất hết, và chỉ có đá, cát, các thứ xấu xí là dẫy đầy. Lúc này chúng
sanh chỉ làm mười điều ác càng ngày càng tăng, không còn nghe đến danh từ
mười điều thiện, cho đến không có cả danh từ thiện, huống chi là có người
làm việc thiện? Bấy giờ, trong loài người ai không có hiếu với cha mẹ, không
kính trọng sư trưởng, hay làm việc ác thì được cúng dường, được mọi người
cung kính hầu hạ. Cũng người nay ai hiếu thuận mẹ cha, kính trọng sư trưởng,
thường làm việc lành, thì được cúng dường, được mọi người cung kính hầu hạ,
thì người làm việc ác kia lại cũng được cúng dường như vậy. Bây giờ, con
người thân hoại mạng chung bị đọa vào trong súc sanh, cũng như con người
hiện tại được sinh lên cõi trời. Lúc đó con người gặp nhau thường ôm lòng
độc hại, chỉ muốn giết nhau; cũng giống như thợ săn gặp được đàn nai, chỉ
muốn giết chúng, không có bất cứ một ý nghĩ thiện nào; con người lúc đó cũng
như vậy, chỉ muốn giết nhau, không có một chút ý nghĩ thiện nào. Bấy giờ,
mặt đất này chỉ là sông ngòi, khe suối, núi đồi, đất đống, không có chỗ đất
nào bằng phẳng cả. Khi có người đi đến, tức thì kinh sợ, run rẩy, lông tóc
dựng đứng.
“Bấy giờ, trong vòng bảy ngày có sự nổi lên của kiếp đao kiếm. Lúc ấy,
những thứ cỏ, cây, ngói, đá mà con người cầm trong tay đều biến thành đao
kiếm; những thứ đao kiếm này rất bén nhọn, đụng đến vật gì thì vật đó đều sẽ
bị cắt đứt. Chúng sát hại lẫn nhau. Trong lúc này có người có trí tuệ thấy
đao binh sát hại nhau nên hoảng sợ tránh vào núi rừng, hang động, khe suối,
những chỗ không người. Trốn tránh trong vòng bảy ngày, tâm nghĩ miệng tự
nói: ‘Ta không hại người, người chớ hại ta.’ Trong vòng bảy ngày người này
chỉ ăn rễ cây cỏ để tự nuôi sống mình. Qua bảy ngày, sau đó mới lại ra khỏi
rừng núi. Lúc này, gặp được một người, vui mừng nói rằng: ‘Nay gặp được
người còn sống! Nay gặp được người còn sống!’ Cũng giống như cha mẹ vì gặp
lại một người con bị thất lạc lâu ngày không thấy nhau, nên vui mừng nhảy
nhót mà không thể tự kiềm chế chính mình được, thì sự kiện người này cũng
như vậy, vì sự vui mừng nên nhảy nhót mà không thể tự kiềm chế được cảm xúc
vui nơi chính mình. Khi ấy thì người dân trong vòng bảy ngày chỉ có khóc lóc
mà thôi; cũng trong vòng bảy ngày này họ lại cùng gặp vui nên vui vẻ chúc
mừng nhau. Người lúc bấy giờ khi thân hoại mạng chung đều đọa vào địa ngục.
Vì sao? Vì con người ấy luôn luôn ôm lòng sân hận và phẫn nộ, họ chỉ có một
tâm hại nhau mà thôi, vì không có tâm nhân từ nên gọi là kiếp đao binh.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thế nào gọi là kiếp đói kém?[346]
Con người bấy giờ phần nhiều làm những việc phi pháp, tà kiến điên đảo, làm
mười nghiệp ác. Vì làm mười nghiệp ác nên trời không mưa xuống, làm cho trăm
thứ cỏ cây chết khô, ngũ cốc không thành, mà chỉ có gốc rạ mà thôi.
“Thế nào gọi là đói kém? Vì lúc bấy giờ, người dân phải thu quét những
hạt thóc còn rơi rớt lại các nơi như ruộng vườn, đường sá, đầu ngõ, và trong
phân đất d? tự sống còn, nên mới gọi là đói kém[347].
“Lại nữa, lúc đói kém, người bấy giờ lượm nhặt xương cốt từ những nơi như
lò sát sanh, chợ búa, các đường sá và các bãi tha ma, rồi nấu nước trấp mà
uống, nhờ vậy mà họ sống, nên gọi là ‘đói xương trắng’[348].
‘Lại nữa, vào kiếp đói kém, ngũ cốc được gieo trồng đều biến thành cỏ
cây. Con người lúc này lấy bông nấu nước trấp để uống. Lại nữa, vào thời đói
kém, bông của các loài cây cỏ rụng phủ kín cả mặt đất, lúc ấy mọi người phải
đào đất lấy bông để nấu ăn, nhờ vậy mà tự tồn tại, nên gọi là ‘đói cây cỏ’[349].
Bấy giờ, chúng sanh thân hoại mạng chung đọa vào trong ngạ quỷ. Sao vậy? Vì
những người sống trong kiếp đói kém này, thường ôm lòng tham lam keo bẩn,
không có lòng bố thí nhân ái, không chịu chia xẻ cùng người, và không nhớ
nghĩ đến những tai ách của người khác.
“Đấy là kiếp đói kém.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Thế nào là kiếp tật dịch[350] ?
Người đời bấy giờ, tu hành chánh pháp, chánh kiến không điên đảo, đầy đủ
thập thiện hành. Có quỷ thần thế giới phương khác đến, mà quỷ thần ở đây thì
buông lung dâm loạn, không thể hộ vệ con người được. Quỷ thần thế giới khác
xâm lấn, nhiễu loạn con người thế gian này, họ dùng tay đánh đập, dùng gậy
quật ngã, rồi hút lấy tinh khí, khiến cho tâm người loạn lên, rồi cưỡng bức
mang đi. Giống như quốc vương ra lệnh cho các tướng soái những thứ phải bảo
vệ, nhưng giặc cướp ở phương khác đến xâm phạm quấy nhiễu, mà các tướng soái
ở đây lại buông lung, nên nước nhà bị chúng cướp mất. Ở đây cũng vậy, những
quỷ thần ở thế giới khác đến bắt giữ mọi người ở thế gian này, chúng đánh
đập, quật ngã, rồi hút lấy tinh khí mọi người, và cưỡng bức mang đi.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Giả sử quỷ thần ở thế gian này dù không buông lung dâm loạn, nhưng khi
quỷ thần có sức mạnh lớn ở thế giới khác đến, thì quỷ thần ở thế gian này
cũng phải sợ hãi mà đi trốn. Các đại quỷ thần kia bèn xâm lấn, quấy nhiễu
người ở đây, đánh đập, quật ngã, hút lấy tinh khí, giết chết rồi bỏ đi.
Giống như quốc vương, hay đại thần của quốc vương sai khiến các tướng soái
bảo vệ nhơn dân; tuy tất cả các tướng lãnh này đều trong sạch thận trọng,
không buông lung, nhưng khi các tướng soái mạnh bạo, có binh lính đông đảo
kia lại đến khuấy phá thành ấp, làng xóm, mà cướp đoạt người vật. Thì ở đây
lại cũng như vậy, nếu quỷ thần ở thế gian này dù không dám buông lung đi
nữa, nhưng khi các quỷ thần có sức mạnh lớn ở thế giới khác đến, thì các quỷ
thần thế gian này cũng sẽ sợ hãi tránh đi, và những hàng quỷ thần lớn mạnh
kia sẽ xâm đoạt, nhiễu hại người thế gian này; đánh đập, quật ngã, hút lấy
tinh khí, và giết hại mọi người rồi bỏ đi.
“Khi ấy, người dân trong kiếp tật dịch, sau khi thân hoại mạng chung đều
sinh lên cõi trời. Vì sao? Vì con người lúc ấy đều hướng tâm từ bi đến nhau,
thăm hỏi nhau: ‘Bệnh tật của bạn có giảm không? Thân thể có được an ổn
không?’ Vì những nhân duyên này, nên họ được sinh lên cõi trời. Cho nên gọi
là kiếp tật dịch.
“Đó là ba trung kiếp.”
Chú thích:
[338] Trung kiếp 中 劫, Skt.
antara-kalpa, kiếp trung gian; nhưng đối lại với mahākalpa, đại kiếp大 劫,
nên cũng thường gọi là tiểu kiếp 小 劫.
[339] Đao binh 刀 兵, cốc quý穀 貴,
tật dịch疾 疫. Tham chiếu, Câu xá luận, q. 12 (Huyền Tráng): ba tiểu tam
tai trung kiếp: đao binh, tật dịch, cơ cẩn. Cf. Kośa-kārikā iii. 99:
kalpasya śastrarogābhyāṃ durbhikṣeṇa nirgamah.
[340] Đao binh kiếp 刀 兵 劫, Skt.
śastra-kalpa., Pāli: sattha-kappa.
[341] Tô du酥 油 (Skt., Pāli:
navanīta), mật 蜜 (madhu), thạch mật 石 蜜 (Pāli: madhu-phāṇita), hắc thạch
mật 黑 石 蜜 (kāḷamadhuphāṇita, kāḷa-loṇa ?).
[342] Hán: để bại稊 稗, chỉ loại
cỏ có hạt nhỏ như hạt lúa.
[343] Hán: cẩm 錦, lăng 綾, tắng
繒, quyến 絹.
[344] Kiếp-bối劫 貝, Pāli:
kappāsa, Skt. karpāsa, vải bông (gòn).
[345] Sô-ma 芻 麻; Pāli: khoma;
Skt. kwauma, vải gai.
[346] Cơ ngạ kiếp饑 餓 劫, Skt.
durbhikṣa-kalpa, Pāli: dubbhikha-kappa; ở trên gọi là cốc quý kiếp.
[347] Cơ ngạ; định nghĩa từ
đồng nghĩa của Skt. durbhikṣa (Pāli: dubbhikkha); Kośa-kārikā iii. 99:
cañcu (sự mổ bằng mỏ chim), Chân Đế: chiên giá lương旃 遮 糧, Huyền Tráng:
tụ tập 聚 集; Câu xá luận, q. 12: thời kỳ đói kém cũng được gọi là tư tập,
vì con người bấy giờ cực đói, thây chết gom thành đống; cũng vì người
sau, người ta cất các thứ hạt giống trong những cái giỏ. Huyền Tráng
[348] Bạch cốt cơ ngạ白 骨飢 餓;
Câu xá luận, sđd.: Kośa-kārikā, sđd.: Skt. śvetāsthi, Pāli: setaṭṭhika.
[389] Thảo mộc cơ ngạ草 木 飢 餓;
Kośa-kārikā, sđd.: śalākāvṛtti, Huyền Tráng: vận trù運 籌, Chân Đế: trù
lương籌 糧.
[350] Tật dịch kiếp 疾 疫 劫,
Skt. roga-kalpa, rogābhyā; Pāli: roga-kappa.